BÀI HỌC HẰNG NGÀY
Thứ
Tư, ngày 06 tháng
07, 2022
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
CHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,166)- PHẨM THỨ NHẤT.
Bài
9. Kinh Sundarika (Sundarikasuttaṃ)
-CẦN PHÂN BIỆT GIỮA TÍN NGƯỠNG VÀ TU TẬP.
Thông thường nói
tới tôn giáo người là thường kết hợp tín ngưỡng và sự tu tập
bản thân. Thực tế thì hai điều nầy rất khác biệt. Tín ngưỡng
thường là những hình thức cúng tế dựa trên lòng tin. Sự tu
tập là nỗ lực chuyển hoá bản thân dựa trên nỗ lực với sự vận
dụng hiểu biết chân xác. Đức Phật cũng có cách thuyết pháp
là dùng hình ảnh quen thuộc để minh hoạ những nghĩa lý thâm
sâu. Bài kinh nầy cũng ghi lại “cách thờ lửa rất riêng” mà
qua đó Đức Phậy dạy về cách thanh tịnh hoá bản thân.

Ekaṃ samayaṃ bhagavā kosalesu viharati sundarikāya nadiyā
tīre. Tena kho pana samayena sundarikabhāradvājo brāhmaṇo
sundarikāya nadiyā tīre aggiṃ juhati, aggihuttaṃ paricarati.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo aggiṃ juhitvā
aggihuttaṃ paricaritvā uṭṭhāyāsanā samantā catuddisā
anuvilokesi – ‘‘ko nu kho imaṃ habyasesaṃ bhuñjeyyā’’ti?
Addasā kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ
aññatarasmiṃ rukkhamūle sasīsaṃ pārutaṃ nisinnaṃ. Disvāna
vāmena hatthena habyasesaṃ gahetvā dakkhiṇena hatthena
kamaṇḍaluṃ gahetvā yena bhagavā tenupasaṅkami. Atha kho
bhagavā sundarikabhāradvājassa brāhmaṇassa padasaddena sīsaṃ
vivari. Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo ‘muṇḍo ayaṃ
bhavaṃ, muṇḍako ayaṃ bhava’nti tatova puna nivattitukāmo
ahosi. Atha kho sundarikabhāradvājassa brāhmaṇassa etadahosi
– ‘muṇḍāpi hi idhekacce brāhmaṇā bhavanti; yaṃnūnāhaṃ taṃ
upasaṅkamitvā jātiṃ puccheyya’nti.
Một thuở Đức Thế Tôn trú ở Kosala, bên bờ sông Sundarika.
Lúc bấy giờ ba la môn Sundarika Bhāradvāja tổ chức cúng tế
thần lửa trên bờ sông Sundarika.
Sau khi hoàn mãn tế đàn, ba la môn Sundarika Bhāradvāja ngó
quanh tự hỏi: ai là người nên được hưởng dụng tế phẩm nầy.
Chợt nhìn thấy Đức Thế Tôn ngồi dưới cội cây ở gần đó ngồi
trùm đầu. Vị bà la môn liền đi đến chỗ Đức Thế Tôn với một
tay cầm thực phẩm cúng tế và một tay cầm bình nước.
Nghe tiếng chân của
bà la môn Sundarika, Đức Thế Tôn tháo đồ trùm đầu.
Thấy vậy vị bà la môn nghĩ rằng: “đây là một người đầu trọc,
một người đầu trọc”
và muốn quay gót trở lui. Nhưng ông bà la môn chợt
nghĩ: cũng có những bà la môn đầu trọc. Ta hãy đến hỏi về
(giòng tộc) thọ sanh”.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavoca – ‘kiṃjacco bhava’nti?
Rồi bà la môn Sundarika Bhāradvāja đi đến Đức Thế Tôn và
hỏi:
-- Thọ sanh của Tôn giả là gì?
(Thế Tôn)
‘‘Mā jātiṃ puccha caraṇañca puccha,
Kaṭṭhā have jāyati jātavedo;
Nīcākulīnopi muni dhitimā,
Ājānīyo hoti hirīnisedho.
‘‘Saccena danto damasā upeto,
Vedantagū vusitabrahmacariyo;
Yaññopanīto tamupavhayetha,
Kālena so juhati dakkhiṇeyye’’ti.
Hãy hỏi về sở hành
Đừng hỏi về thọ sanh
Lửa có thể sanh
Từ nhiều thứ chất đốt
Bậc hiền thánh chuyên tu
Dầu từ giai cấp thấp
Vẫn là người thượng sanh
Nếu sống với lòng tàm
Người hiến lễ nên nguyện:
Ai hoàn toàn chuyển hoá
Chuyển hoá bằng diệu đế
Đạt tri kiến rốt ráo
Phạm hạnh đã viên thành
Đúng thời xin dâng cúng
Đến bậc đáng cúng dường
(Sundarika):
‘‘Addhā suyiṭṭhaṃ suhutaṃ mama yidaṃ,
Yaṃ tādisaṃ vedagumaddasāmi;
Tumhādisānañhi adassanena,
Añño jano bhuñjati habyasesa’’nti.
‘‘Bhuñjatu bhavaṃ gotamo.
Brāhmaṇo bhava’’nti.
Lễ cúng thật thù thắng
Tìm thấy được bậc chân sư
Không ai khác hơn Ngài
Xứng thọ lễ phẩm nầy.
- Tôn giả Gotama hãy thọ nhận
Ngài mới thật là bậc Phạm chí
(Thế Tôn)
‘‘Gāthābhigītaṃ me abhojaneyyaṃ,
Sampassataṃ brāhmaṇa nesa dhammo;
Gāthābhigītaṃ panudanti buddhā,
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā.
‘‘Aññena ca kevalinaṃ mahesiṃ,
Khīṇāsavaṃ kukkuccavūpasantaṃ;
Annena pānena upaṭṭhahassu,
Khettañhi taṃ puññapekkhassa hotī’’ti.
Ta không thọ tế phẩm
Hỡi phạm chí, ấy là
Nguyên tắc bậc kiến giả
Không thọ dụng tế phẩm
Là thường pháp chư Phật
Này hỡi bà la môn
Hãy cúng thực phẩm khác
Bậc kiến giả, Thắng giả
Bậc đoạn lậu, Bất hối
Ruộng phước cho người trồng
‘‘Atha kassa cāhaṃ, bho gotama, imaṃ habyasesaṃ dammī’’ti?
‘‘Na khvāhaṃ, brāhmaṇa, passāmi sadevake loke samārake
sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya
yasseso habyaseso bhutto sammā pariṇāmaṃ gaccheyya aññatra,
brāhmaṇa, tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā. Tena hi
tvaṃ, brāhmaṇa, taṃ habyasesaṃ appaharite vā chaḍḍehi
appāṇake vā udake opilāpehī’’ti.
--
Vậy thưa Tôn giả Gotama, con nên cho ai tế phẩm còn lại
này?
-- Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới Thiên giới, Ma giới,
Phạm thiên giới, trong chúng Sa môn và Bà la nmôn, trong thế
giới chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai thọ thực
với thức ăn nầy có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay
đệ tử Như Lai. Này Bà la môn, hãy quăng vật cúng còn lại này
tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm xuống nước, nơi
không có sinh vật.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo taṃ habyasesaṃ
appāṇake udake opilāpesi. Atha kho so habyaseso udake
pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati
sampadhūpāyati. Seyyathāpi nāma phālo [loho (ka.)]
divasaṃsantatto [divasasantatto (sī. syā. kaṃ. pī.)] udake
pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati
sampadhūpāyati; evameva so habyaseso udake pakkhitto
cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati.
Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja nhận chìm vật cúng còn
lại ấy vào trong nước, nơi không có loài sinh vật.
Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì xèo, sôi
lên, phun hơi và bốc khói lên như lưỡi cày nung nóng cả ngày
khi bỏ vào trong nước liề xì
xèo, sôi lên, phun hơi và bốc khói
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo saṃviggo
lomahaṭṭhajāto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
ekamantaṃ aṭṭhāsi.
Lúc ấy bà la môn Sundarika Bhāradvāja hốt hoảng, kinh khiếp
đi đến Thế Tôn và đứng một bên.
Ekamantaṃ ṭhitaṃ kho sundarikabhāradvājaṃ brāhmaṇaṃ bhagavā
gāthāhi ajjhabhāsi –
Đức Thế Tôn nói kệ ngôn nầy với bà la môn Sundarika
Bhāradvāja:
‘‘Mā brāhmaṇa dāru samādahāno,
Suddhiṃ amaññi bahiddhā hi etaṃ;
Na hi tena suddhiṃ kusalā vadanti,
Yo bāhirena parisuddhimicche.
‘‘Hitvā ahaṃ brāhmaṇa dārudāhaṃ
Ajjhattamevujjalayāmi jotiṃ;
Niccagginī niccasamāhitatto,
Arahaṃ ahaṃ brahmacariyaṃ carāmi.
‘‘Māno hi te brāhmaṇa khāribhāro,
Kodho dhumo bhasmani mosavajjaṃ;
Jivhā sujā hadayaṃ jotiṭhānaṃ,
Attā sudanto purisassa joti.
‘‘Dhammo rahado brāhmaṇa sīlatittho,
Anāvilo sabbhi sataṃ pasattho;
Yattha have vedaguno sinātā,
Anallagattāva taranti pāraṃ.
‘‘Saccaṃ dhammo saṃyamo brahmacariyaṃ,
Majjhe sitā brāhmaṇa brahmapatti;
Sa tujjubhūtesu namo karohi,
Tamahaṃ naraṃ dhammasārīti brūmī’’ti.
Hỡi này Bà la môn
Khi chuẩn bị củi lửa
Đế làm lễ cúng tế
Chớ nghĩ là làm vậy
Sẽ được thanh tịnh hoá
Bậc thiện trí nói rằng
Đó chẳng thanh tịnh gì
Chỉ là hình thức thôi
Từ bỏ chuyện thờ lửa
Ta thắp lửa nội tại
Tâm định luôn toả sáng
Bậc La Hán thánh thiện
Hư nguỵ là đòn gánh
Sân độc là khói mù
Tà ngữ là tro bụi
Hỡi này Ba là môn
(Với Như Lai thì khác)
Lưỡi ấy là khay lễ
Tâm chính là trang thờ
Thuần hoá là ánh sáng
Chánh pháp là hồ rộng
Giới hạnh là bến nước
Nơi bậc chân tu tắm
Lau khô, đáo bĩ ngạn
Chánh pháp là chân lý,
Tự chế là Phạm hạnh,
Ấy con đường trung đạo,
Hãy lễ bậc chánh trực,
Ta gọi tùy pháp hành.
Evaṃ vutte, sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ
etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... aññataro ca
panāyasmā bhāradvājo arahataṃ ahosī’’ti.
Ðược nghe vậy, bà la môn Sundarika Bhāradvāja
bạch Đức Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người
dựng đứng những gì bị
ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường
cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai
có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin
nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả
Gotama cho con được xuất gia với Đức Thế Tôn,
và được thọ đại giới.
Bà la môn Sundarika Bhāradvāja được xuất gia và thọ đại giới
từ Đức Thế Tôn.
Thọ giới không lâu, Tôn giả Sundarika Bhāradvāja sống độc
cư, viễn ly, cần mẫn, không xao lãng, quyết tâm và tự thân
chứng ngộ chánh trí ngay trong kiếp hiện tại. Đây chính là
cứu cánh mà những thiện gia nam tử đi tu sống không gia đình
hướng tới. Vị ấy chính mình biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái
này nữa".
Và Tôn giả Sundarika Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán
nữa.

‘‘Mā jātiṃ puccha caraṇañca puccha =
Kaṭṭhā have jāyati jātavedo =
Nīcākulīnopi muni dhitimā =
Ājānīyo hoti hirīnisedho =
‘‘Saccena danto damasā upeto =
Vedantagū vusitabrahmacariyo =
Yaññopanīto tamupavhayetha =
Kālena so juhati dakkhiṇeyye’’ti =
‘‘Addhā suyiṭṭhaṃ suhutaṃ mama yidaṃ =
Yaṃ tādisaṃ vedagumaddasāmi =
Tumhādisānañhi adassanena =
Añño jano bhuñjati habyasesa’’nti =
‘‘Gāthābhigītaṃ me abhojaneyyaṃ =
Sampassataṃ brāhmaṇa nesa dhammo =
Gāthābhigītaṃ panudanti buddhā =
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā =
‘‘Aññena ca kevalinaṃ mahesiṃ =
Khīṇāsavaṃ kukkuccavūpasantaṃ =
Annena pānena upaṭṭhahassu =
Khettañhi taṃ puññapekkhassa hotī’’ti =
‘‘Mā brāhmaṇa dāru samādahāno =
Suddhiṃ amaññi bahiddhā hi etaṃ =
Na hi tena suddhiṃ kusalā vadanti =
Yo bāhirena parisuddhimicche =
‘‘Hitvā ahaṃ brāhmaṇa dārudāhaṃ =
Ajjhattamevujjalayāmi jotiṃ =
Niccagginī niccasamāhitatto =
Arahaṃ ahaṃ brahmacariyaṃ carāmi =
‘‘Māno hi te brāhmaṇa khāribhāro =
Kodho dhumo bhasmani mosavajjaṃ =
Jivhā sujā hadayaṃ jotiṭhānaṃ =
Attā sudanto purisassa joti =
‘‘Dhammo rahado brāhmaṇa sīlatittho =
Anāvilo sabbhi sataṃ pasattho =
Yattha have vedaguno sinātā =
Anallagattāva taranti pāraṃ =
‘‘Saccaṃ dhammo saṃyamo brahmacariyaṃ =
Majjhe sitā brāhmaṇa brahmapatti =
Sa tujjubhūtesu namo karohi =
Tamahaṃ naraṃ dhammasārīti brūmī’’ti =

“Lửa có thể cháy từ nhiều thứ
nhiên liệu” hàm ý là phẩm hạnh cao quý có thể thành tựu từ
những người thuộc nhiều giai cấp khác nhau.
“bậc đạt tri kiến rốt ráo
(vedantagū)” là dụng ngữ của bà la môn giáo chỉ cho người
tinh thông Phệ Đà nhưng Đức Phật chỉ cho người thành tựu tuệ
giác vô lậu.
Theo Sớ Giải thì chư thiên
thường tận dụng cơ hội để cúng dường đến Đức Phật. Khi biết
có người cúng dường thực phẩm thì góp chung vào thực phẩm
của chư thiên. Chỉ có Đức Phật và các bậc La Hán có thần
thông mới tiêu hoá được loại thức ăn pha trộn như vậy.
Sớ giải cũng nêu những ý
nghĩa sau:
“Hư nguỵ là đòn gánh” hàm
nghĩa sự tự nhận thanh tịnh cao quý do giai cấp thọ sanh là
sự thậm xưng không thật. Chẳng những vậy khi tiếp xúc với
thực tế thì chỉ bộc lộc bản chất thật của phiền não tầm
thường như người gánh hàng hoá mỗi bước là sự trĩu nặng.
“Sân giận là khói mù” như khi
nhen lửa mà lửa không cháy chỉ tạo thành khói cay mắt. Tâm
sân khíến trí tuệ không sanh sanh khởi.
“Tà ngữ là tro bụi” không thể
đốt lửa từ tro. Lời nói hư nguỵ không tạo nên ánh sáng trí
tuệ.
Đức Phật cũng nói về sự cúng
tế lửa theo cách của Ngài:
“Lưỡi là khay cúng lễ” hàm
nghĩa là sự tuyên thuyết chánh pháp nhưng phương tiện cúng
dường.
“Tâm là bàn thờ” nghĩa là nội
tâm là nơi trang nghiêm.
“Thuần hoá là ánh sáng” có
nghĩa là khả năng tự điều phục là tinh anh.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng