|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 09 tháng 07, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,170)- PHẨM THỨ NHẤT.
Bài
10. Kinh Bahudhītara (Bahudhītarasuttaṃ)
-BIẾT TỤC LỤY NÊN THOÁT VÒNG TỤC LỤY.
Không phải ai sống trong khổ đau cũng biết mình đang đau
khổ. Nhờ những hình ảnh tương phản đánh động ý thức về thực
trạng của kiếp nhân sinh. Có những nền văn hoá của nhân loại
mà hình ảnh các tu sĩ sống ngoài tục luỵ là
gợi nhắc quan trọng về giá trị của con đường vượt
thoát do huân tu nội tại. Bài kinh ghi lại câu chuyện của
một người đáng thương vì cuộc sống bủa vây bao thứ hệ luỵ.
Vốn đã khổ lại bị lạc mất đàn bò nên càng thêm khổ. Nhìn
thấy hình ảnh của một sa môn, chính là Đức Phật, an nhiên
thiền toạ trong rừng bất chợt cảm khái xót xa cho thân phận
của mình. Trong lời tán thán Đức Phật cũng chứa đựng nỗi bi
ai về thân phận mình. Đức Phật không than thở dùm mà chỉ
dùng những gì ông bà la môn nói để lập lại như một hiễn thị:
có nhiều thì khổ nhiều. Những tháng ngày sau đó của vị bà la
môn đầy những may mắn đích thực.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena aññatarassa
bhāradvājagottassa brāhmaṇassa catuddasa balībaddā naṭṭhā
honti. Atha kho bhāradvājagotto brāhmaṇo te balībadde
gavesanto yena so vanasaṇḍo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
addasa bhagavantaṃ tasmiṃ vanasaṇḍe nisinnaṃ pallaṅkaṃ
ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ
upaṭṭhapetvā. Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi –
Một thuở Đức Thế Tôn trú ở tại một khu rừng trong xứ Kosala,
.
Bấy giờ, một bà la môn dòng họ Bhāradvāja bị mất mười bốn
con bò.
Bà la môn Bhāradvāja trên đường đi tìm bò băng ngang khu
rùng nhìn thấy Đức Thế Tôn đang ngồi kiết già, lưng thẳng,
hướng chánh niệm trước mặt.
Thấy vậy, vị bà la môn tiến đến Đức Thế Tôn và nói lên kệ
ngôn: Ajjasaṭṭhiṃ na dissanti, tenāyaṃ samaṇo sukhī. ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa, tilākhettasmi pāpakā; Ekapaṇṇā dupaṇṇā ca, tenāyaṃ samaṇo sukhī. ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa, tucchakoṭṭhasmi mūsikā; Ussoḷhikāya naccanti, tenāyaṃ samaṇo sukhī. ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa, santhāro sattamāsiko; Uppāṭakehi sañchanno, tenāyaṃ samaṇo sukhī. ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa, vidhavā satta dhītaro; Ekaputtā duputtā ca, tenāyaṃ samaṇo sukhī. ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa, piṅgalā tilakāhatā; Sottaṃ pādena bodheti, tenāyaṃ samaṇo sukhī. ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa, paccūsamhi iṇāyikā; Detha dethāti codenti, tenāyaṃ samaṇo sukhī’’ti. ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa, balībaddā catuddasa; Ajjasaṭṭhiṃ na dissanti, tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī. Không có mười bốn bò Đã lạc mất sáu ngày Nên chi được an lạc Quả thật Sa môn nầy Không rẫy mè thất thu Với lá mọc thưa thớt Nên chi được an lạc Quả thật Sa môn nầy Không bồ trống với chuột Chạy vờn quanh nhốn nháo Nên chi được an lạc Quả thật Sa môn nầy Không mền đầy chí rận Năm bảy tháng không giặt Nên chi được an lạc Quả thật Sa môn nầy Không bảy đứa con gái Goá bụa lại có con Nên chi được an lạc Quả thật Sa môn nầy Không vợ mặt rỗ xấu Dùng chân đánh thức mình Nên chi được an lạc Quả thật Sa môn nầy Buổi sáng không chủ nợ Kêu mắng “phải trả ngay” Nên chi được an lạc (Thế Tôn) ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa, tilākhettasmi pāpakā;Ekapaṇṇā dupaṇṇā ca, tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī. ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa, tucchakoṭṭhasmi mūsikā; Ussoḷhikāya naccanti, tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī. ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa, santhāro sattamāsiko; Uppāṭakehi sañchanno, tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī. ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa, vidhavā satta dhītaro; Ekaputtā duputtā ca, tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī. ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa, piṅgalā tilakāhatā; Sottaṃ pādena bodheti, tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī. ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa, paccūsamhi iṇāyikā; Detha dethāti codenti, tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī’’ti. Không có mười bốn bò Đã lạc mất sáu ngày Nên ta được an lạc Qua thật Sa môn nầy Không rẫy mè thất thu Với lá mọc thưa thớt Nên ta được an lạc Đúng vậy, hỡi Phạm chí Không bồ trống với chuột Chạy vờn quanh nhốn nháo Nên ta được an lạc Đúng vậy, hỡi Phạm chí Không mền đầy chí rận Năm bảy tháng không giặt Nên ta được an lạc Đúng vậy, hỡi Phạm chí Không bảy đứa con gái Goá bụa lại có con Nên ta được an lạc Đúng vậy, hỡi Phạm chí Không vợ mặt rỗ xấu Dùng chân đánh thức mình Nên ta được an lạc Đúng vậy, hỡi Phạm chí Buổi sáng không chủ nợ Kêu mắng “phải trả ngay” Nên ta được an lạc
Evaṃ vutte, bhāradvājagotto brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca –
‘‘abhikkantaṃ, bho gotama, abhikkantaṃ, bho gotama!
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya,
paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya,
andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya – cakkhumanto rūpāni
dakkhantīti; evameva bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo
pakāsito. Esāhaṃ bhavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ gacchāmi
dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṃ bhoto gotamassa
santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampada’’nti.
Alattha kho bhāradvājagotto brāhmaṇo bhagavato santike
pabbajjaṃ, alattha upasampadaṃ. Acirūpasampanno panāyasmā
bhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto
viharanto nacirasseva – yassatthāya kulaputtā sammadeva
agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ –
brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja vihāsi. ‘‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’’ti
abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṃ
ahosīti.
Ðược nghe vậy, bà la môn Bhāradvāja
bạch Đức Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người
dựng đứng những gì bị
ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường
cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai
có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin
nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả
Gotama cho con được xuất gia với Đức Thế Tôn,
và được thọ đại
giới.
Bà la môn Bhāradvāja
được xuất gia và thọ đại giới từ Đức Thế Tôn.
Thọ giới không lâu, Tôn giả Sundarika Bhāradvāja sống độc
cư, viễn ly, cần mẫn, không xao lãng, quyết tâm và tự thân
chứng ngộ chánh trí ngay trong kiếp hiện tại. Đây chính là
cứu cánh mà những thiện gia nam tử đi tu sống không gia đình
hướng tới. Vị ấy chính mình biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái
này nữa".
Và Tôn giả
Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
balībaddā catuddasa = Ajjasaṭṭhiṃ na dissanti = tenāyaṃ samaṇo sukhī = ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa = tilākhettasmi pāpakā = Ekapaṇṇā dupaṇṇā ca = tenāyaṃ samaṇo sukhī = ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa = tucchakoṭṭhasmi mūsikā = Ussoḷhikāya naccanti = tenāyaṃ samaṇo sukhī = ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa = santhāro sattamāsiko = Uppāṭakehi sañchanno = tenāyaṃ samaṇo sukhī = ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa = vidhavā satta dhītaro = Ekaputtā duputtā ca = tenāyaṃ samaṇo sukhī = ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa = piṅgalā tilakāhatā = Sottaṃ pādena bodheti = tenāyaṃ samaṇo sukhī = ‘‘Na hi nūnimassa samaṇassa = paccūsamhi iṇāyikā = Detha dethāti codenti = tenāyaṃ samaṇo sukhī’’ti = ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa = balībaddā catuddasa = Ajjasaṭṭhiṃ na dissanti = tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī = ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa = tilākhettasmi pāpakā = Ekapaṇṇā dupaṇṇā ca = tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī = ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa = tucchakoṭṭhasmi mūsikā = Ussoḷhikāya naccanti = tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī = ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa = santhāro sattamāsiko = Uppāṭakehi sañchanno = tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī = ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa = vidhavā satta dhītaro = Ekaputtā duputtā ca = tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī = ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa = piṅgalā tilakāhatā = Sottaṃ pādena bodheti = tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī = ‘‘Na hi mayhaṃ brāhmaṇa = paccūsamhi iṇāyikā = Detha dethāti codenti = tenāhaṃ brāhmaṇā sukhī’’ti =
Thành ngữ “ajjasattḥiṃ na dissanti” theo Sớ giải là “đã
không thấy trong sáu ngày qua” nhưng theo Hậu Sớ Giải hàm ý
“biệt tăm biệt tích”(accantasaṃyoge c’etaṃ upayogavacanaṃ).
Theo Sớ giải thì ông Bà la môn nầy có bảy người con gái lấy
chồng và đã có con. Do chiến tranh bảy người con rễ đều tử
trận. Bên chồng gởi những cô gái goá bụa nầy về nhà ông bà
la môn. Do trong nhà nuôi nhiều miệng ăn nên bữa đói bữa no.
và vì vậy bài kinh có tựa đề là “ Bahudhītara - nhiều con
gái”
Theo Sớ giải thì sau khi ông bà la môn phát tâm xuất gia,
Đức Phật chỉ trao truyền sa di giới rồi dẫn ông đến gặp vua
Pasenadi. Vua nghe lời dạy của Đức Phật phát tâm giúp ba
điều: giúp trả hết nợ, tạo điều kiện sanh nhai cho bảy người
con gái, và chu cấp cho mẹ của sa di Bhāradvāja. Nhờ vậy vị
nầy sau đó được thọ đại giới vì không còn những ràng buộc
của của bổn phận thế tục. Cuối cùng thành tựu quả vị giác
ngộ giải thoát.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |