BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 12 tháng 07, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,172)- PHẨM CƯ SĨ.

Bài 1. Kinh Kasibhāradvāja (Kasibhāradvājasuttaṃ) -CHUYỆN ĐỜI, LÝ ĐẠO .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

 

 

 

Hầu hết người sống trong cuộc đời, đặt biệt là những người thành công, thường quan niệm mọi thức mang tính cố định từ một góc nhìn. Đức Phật, bậc Đạo Sư của nhân thiên, đôi khi dạy nên nhìn sự việc từ góc nhìn khác. Muốn nhìn được vậy tâm tư cần cởi mở; cho phép bản thân đi vào cảnh giới hoàn toàn xa lạ mà ở đây là “đạo chân thực”.  Bài kinh nầy cũng nhắc lại một lần nữa là Đức Phật trong nhiều trường hợp đã dùng những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống để chuyên chở đạo lý huyền vi. Từ cái rất bình thường được dùng để minh hoạ cái rất tế nhị cao siêu đó là đặc điểm được tìm thấy rất nhiều  trong Tam Tạng Giáo Điển.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā magadhesu viharati dakkhiṇāgirismiṃ ekanāḷāyaṃ brāhmaṇagāme. Tena kho pana samayena kasibhāradvājassa [kasikabhāradvājassa (ka.)] brāhmaṇassa pañcamattāni naṅgalasatāni payuttāni honti vappakāle. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa kammanto tenupasaṅkami.

Tôi được nghe như vầy,

Một thuở Đức Thế Tôn trú ở xứ Magadha (Ma Kiệt Đà) ở Dakkhiṇāgiri (Nam Sơn) tại làng bà la môn Ekanālā. Bấy giờ là lễ hạ điền, khời đầu mùa lúa, bà la môn Kasi Bhāradvāja sắp sẳn năm trăm lưỡi cày và ách cho nghi thức. Sáng hôm ấy Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát và y kép đi đến nông trường của bà la môn Bhāradvāja.

Tena kho pana samayena kasibhāradvājassa brāhmaṇassa parivesanā vattati. Atha kho bhagavā yena parivesanā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Addasā kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ piṇḍāya ṭhitaṃ. Disvā bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘ahaṃ kho, samaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmi. Tvampi, samaṇa, kasassu ca vapassu ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjassū’’ti. ‘‘Ahampi kho, brāhmaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmī’’ti. Na kho mayaṃ passāma bhoto gotamassa yugaṃ vā naṅgalaṃ vā phālaṃ vā pācanaṃ vā balībadde vā, atha ca pana bhavaṃ gotamo evamāha – ‘‘ahampi kho, brāhmaṇa, kasāmi ca vapāmi ca, kasitvā ca vapitvā ca bhuñjāmī’’ti.

Lúc bấy giờ nghi thức phân phát thực phẩm (đến năm trăm người cày ruộng) do bà la môn Kasi Bhāradvāja chủ trì đang diễn ra.

Đức Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn rồi đứng một bên.

Bà la môn Kasi Bhāradvāja thấy Đức Thế Tôn đang đứng khất thực liền nói:

-- Này Sa môn, tôi cày, tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa môn, Ông cũng nên cày và gieo mạ. Sau khi cày và gieo mạ rồi ăn.

-- Này Ba la môn, ta cũng  cày và gieo mạ. Sau khi cày và gieo mạ, ta ăn.

-- Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cái roi điều khiển, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: "Này Bà la môn, ta cũng  cày và gieo mạ. Sau khi cày và gieo mạ, ta ăn.".

Atha kho kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
‘‘Kassako paṭijānāsi, na ca passāmi te kasiṃ;
Kassako pucchito brūhi, kathaṃ jānemu taṃ kasi’’nti.

Rồi Bà la môn Kasi Bhāradvāja nói với ĐứcThế Tôn kệ ngôn:

Người nói là nông phu
Tôi không thấy người cày
Nếu thật là nông phu
Trả lời sao biết được?

(Thế Tôn):

‘‘Saddhā bījaṃ tapo vuṭṭhi, paññā me yuganaṅgalaṃ;
Hirī īsā mano yottaṃ, sati me phālapācanaṃ.

‘‘Kāyagutto vacīgutto, āhāre udare yato;

Saccaṃ karomi niddānaṃ, soraccaṃ me pamocanaṃ.

‘‘Vīriyaṃ me dhuradhorayhaṃ, yogakkhemādhivāhanaṃ;

Gacchati anivattantaṃ, yattha gantvā na socati.

‘‘Evamesā kasī kaṭṭhā, sā hoti amatapphalā;

Etaṃ kasiṃ kasitvāna, sabbadukkhā pamuccatī’’ti.

Niềm tin là hạt giống
Tự chế chính là mưa
Trí tuệ: ách, lưỡi cày
Lòng tàm là cán cày

Tâm ý là dây cột
Chánh niệm là lưỡi cày
Cũng là gậy điều khiển
Thân, khẩu được hộ trì

Tiết độ trong ẩm thực
Nhổ cỏ bằng lẽ thật
Tịch nhiên là tháo ách
Tinh tấn là lực kéo

Đưa ta đến giải thoát
Hành trình không ngừng nghỉ
Đến cảnh giới vô sầu
Với cày ruộng như vậy
Quả bất tử thu hoạch
Làm xong việc cày bừa
Chấm dứt tất cả khổ.

‘‘Bhuñjatu bhavaṃ gotamo. Kassako bhavaṃ. Yañhi bhavaṃ gotamo amatapphalampi kasiṃ kasatī’’ti [bhāsatīti (ka.)].

--Tôn giả Gotama hãy thọ dụng, người thật là một nông gia. Tôn giả Gotama cày bừa, sự cày bừa đưa đến quả bất tử.

(Thế Tôn):

‘‘Gāthābhigītaṃ me abhojaneyyaṃ,
Sampassataṃ brāhmaṇa nesa dhammo;

Gāthābhigītaṃ panudanti buddhā,
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā.

‘‘Aññena ca kevalinaṃ mahesiṃ,
Khīṇāsavaṃ kukkuccavūpasantaṃ;

Annena pānena upaṭṭhahassu,
Khettañhi taṃ puññapekkhassa hotī’’ti.

Ta không thọ tế phẩm
Hỡi phạm chí, ấy là
Nguyên tắc bậc kiến giả
Không thọ dụng tế phẩm

Là thường pháp chư Phật
Này hỡi bà la môn
Hãy cúng thực phẩm khác
Bậc kiến giả, Thắng giả
Bậc đoạn lậu, Bất hối
Ruộng phước cho người trồng

Evaṃ vutte, kasibhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama... pe... ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gata’’nti.

Ðược nghe vậy, Bà la môn Kasi Bhāradvāja bạch Đức Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người dựng đứng những gì bị  ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. . Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

 

 

‘‘Kassako paṭijānāsi =
na ca passāmi te kasiṃ =
Kassako pucchito brūhi =
kathaṃ jānemu taṃ kasi’’nti =
‘‘Saddhā bījaṃ tapo vuṭṭhi =
paññā me yuganaṅgalaṃ =
Hirī īsā mano yottaṃ =
sati me phālapācanaṃ =
‘‘Kāyagutto vacīgutto =
āhāre udare yato =
Saccaṃ karomi niddānaṃ =
soraccaṃ me pamocanaṃ =
‘‘Vīriyaṃ me dhuradhorayhaṃ =
yogakkhemādhivāhanaṃ =
Gacchati anivattantaṃ =
yattha gantvā na socati =
‘‘Evamesā kasī kaṭṭhā =
sā hoti amatapphalā =
Etaṃ kasiṃ kasitvāna =
sabbadukkhā pamuccatī’’ti =
‘‘Gāthābhigītaṃ me abhojaneyyaṃ =
Sampassataṃ brāhmaṇa nesa dhammo =
Gāthābhigītaṃ panudanti buddhā =
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā =
‘‘Aññena ca kevalinaṃ mahesiṃ =
Khīṇāsavaṃ kukkuccavūpasantaṃ =
Annena pānena upaṭṭhahassu =
Khettañhi taṃ puññapekkhassa hotī’’ti =

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo Sớ Giải thì sở dĩ ông bà la môn nầy tên Kasi vì là một người cày chuyên nghiệp.

Sớ giải mô tả buổi lễ nầy có tên là paṃsuvappa - lễ hạ điền là lễ mở đầu mùa lúa trước khi cày cấy. Một trong những điểm quan trọng nhất của buổi lễ là lễ trao thực phẩm (parivesanā) vào những đĩa bằng bạc do những người cày ruộng cầm trên tay xem là sự cầu nguyên mưa thuận giớ hoà, thu hoạch khả quan.

Theo Sớ giải thì bà la môn Kasi Bhāradvāja vốn nặng về trí tuệ lại thiếu đức tin (nên hay lý sự) do vậy Đức Phật khởi đầu huấn thị bằng câu “đức tin là hạt giống”

Theo Sớ giải thì tapa (tự chế) và paññā (trí tuệ) trong bài kinh nầy cần được hiểu là chỉ (samatha) và quán (vipassana)

Thuật ngữ soracca - thường dịch là nghiêm tịnh – nhưng theo Sớ giải thì ở đây phải hiểu nghĩa như câu sundare nibbāne ratattā (tìm thấy được hạnh phúc ở niết bàn). Soracca được kết cấu bởi su + rata ở đây dịch theo nghĩa là tịch nhiên chỉ cho cứu cách giải thoát giác ngộ hoàn toàn.

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-