|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 14 tháng 07, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ III. Phẩm Tâm _ Kệ số 5
Duyên sự: Bài
kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Jetavana ở Sāvatthi,
do câu chuyện của tỳ kheo chái trai Trưởng lão
Saṅgharakkhita.
Chuyện rằng Trưởng lão Saṅgharakkhita một vị A la hán,
Trưởng lão có người cháu trai gọi Ngài là cậu. Người cháu
trai ấy cũng xuất gia tỳ kheo do Trưởng lão tế độ, chư Tăng
gọi tỳ kheo ấy là Saṅgharakkhitabhāgineyya.
Thời gian sau, có lần tỳ kheo Saṅgharakkhitabhāgineyya nhập
hạ ở một ngôi chùa làng, nhận được hai tấm vải, một tấm dài
tám hắc tay, một tấm dài bảy hắc tay. Vị tỳ kheo cháu nhớ
đến sư cậu cũng là thầy tế độ muốn cúng dường sư cậu tấm vải
tám hắc tay, bèn trở về tịnh thất của sư cậu sau khi ra hạ.
Trưởng lão Saṅgharakkhita không nhận tấm vải, nói rằng đã đủ
tam y. Vị tỳ kheo cháu buồn lòng, trong lúc cầm quạt đứng
quạt hầu sư cậu mới nghĩ ngợi: “Thầy tế độ cũng là sư cậu
của ta, Ngài đã từ chối nhận tấm vải, Ngài đối xử với ta
lạnh nhạt. Thôi thì ta huỷ hoàn tục bán hai tấm vải lấy tiền
mua con cừu về nuôi. Cừu sanh sản một bầy. Ta bán bầy cừu có
nhiều tiền, rồi cưới vợ. Vợ sẽ sanh cho ta một đứa con trai.
Ta sẽ dẫn vợ bế con đến chùa thăm sư cậu. Trên đường đi con
khóc, vợ không dổ được nên ném con xuống đất, ta nổi giận
cầm roi đánh vợ một phát vào lưng …”.
Đang miên man nghĩ ngợi, ông sư cháu bất giác đánh cây quạt
vào đầu sư cậu. Vị trưởng lão có tha tâm thông biết tư tưởng
của sư cháu, mới bảo: “Sao ngươi đánh người phụ nữ ấy mà lại
trúng vào đầu ta vậy?”. Vị
tỳ kheo trẻ hoảng hốt, ngượng ngùng, ném cái quạt và chạy
trốn. Bị các tỳ kheo trong chùa bắt lại và dẫn đến đức Phật.
Bậc đạo sư hỏi nguyên do, tỳ kheo ấy thú nhận sự việc cũng
vì chán nản nên suy nghĩ vẩn vơ. Đức
Phật đã khiển trách tỳ kheo ấy, và Ngài nói lên bài kệ: “Duraṅgamaṃ
ekacaraṃ… Dứt bài kệ, vị tỳ kheo ấy chứng đắc quả Dự
lưu.
Chánh văn:
(dhp 37) asarīraṃ guhāsayaṃ ye cittaṃ saṃyamessanti mokkhanti mārabandhanā.
Thích văn:
dūraṅgamaṃ
[đối cách
số ít trung tính của tính từ hợp thể
dūraṅgama
(dūraṃ + gama)] đi xa, chạy xa, hành trình xa xôi.
ekacaraṃ
[đối cách số ít trung tính của tính từ hợp thể
ekacara
(eka + cara)] độc hành, đi một mình, sống một mình.
asarīraṃ
[đối cách số ít trung tính của tính từ hợp thể
asarīra
(na + sarīra)] không thân xác, vô hình.
guhāsayaṃ
[đối cách số ít trung tính của hợp thể tính từ
guhāsaya
(guhā + āsaya)] nằm trong cái hang, ẩn hang sâu.
ye
[chủ cách số nhiều nam tính của liên quan đại từ
ya] những ai,
những người nào.
cittaṃ
[đối cách
số ít của danh từ trung tính
citta] tâm, tư
tưởng.
saṃyamessanti
[có chổ viết là
saññamessanti.
Thì vị lai ngôi III số nhiều của động từ
saṃyameti/saññameti
(saṃ + căn yam + e)] sẽ kềm chế, sẽ chế ngự.
mokkhanti
[thì hiện tại ngôi III số nhiều của động từ
mokkhati
(mokkh + a)] giải thoát,
thoát khỏi.
mārabandhanā
[xuất xứ cách số ít trung tính của danh từ hợp thể
mārabandhana
(māra + bandhana)] sự trói buộc của ma, sự giam cầm
của ma, ma phược, ma tù.
Việt văn: (pc
37) không thân, ẩn hang sâu những ai chế ngự tâm sẽ thoát khỏi ma tù.
Chuyển văn:
Ye dūraṅgamaṃ ekacaraṃ asarīraṃ guhāsayaṃ cittaṃ
saṃyamessanti (te) mārabandhanā mokkhanti.
Những ai chế ngự được tâm vốn đi xa, độc hành, vô hình, ẩn
náu trong hang, (những người ấy) sẽ thoát khỏi ngục tù ma.
Lý giải: Tâm
đi xa (duraṅgamaṃ) là tư tưởng nghĩ ngợi, suy diễn
lung tung. Tâm
độc hành (ekacaraṃ) là tâm sanh khởi chỉ từng một
sát na, một sát na thôi, không thể có hai chập tư tưởng sanh
cùng một lúc; sát na tâm nầy diệt mới có sát na tâm khác
tiếp nối sanh khởi. Tâm
vô hình (asarīraṃ) là tâm thuộc danh (nāma),
phi sắc (arūpī), tâm không có hình hài, không màu
sắc. Đúng ra chữ asarīraṃ nghĩa là không thân thể, không có
xác thân. Tâm
ẩn hang sâu, nương náu cái hang (guhāsayaṃ), tức là
tâm sanh cõi ngũ uẩn luôn luôn nương trú sáu sắc vật
(vatthurūpa). Nhãn thức nương sắc nhãn vật, nhĩ thức
nương sắc nhĩ vật, tỷ thức nương sắc tỷ vật, thiệt thức
nương sắc thiệt vật, thân thức nương sắc thân vật, tâm ý
giới và ý thức giới (ngoại trừ bốn tâm quả vô sắc) nương trú
sắc ý vật (hadayavatthu).
Những ai chế ngự tâm (ye cittaṃ saṃyemessanti), tâm
cần phải chế ngự chính là tâm tham, tâm sân, tâm si, những
tâm tương ứng với phiền não. Trước hết là tu tập tâm thiện
dục giới, dùng tâm thiện dục giới tu tập chỉ (samatha)
và quán (vipassanā) để chế ngự tâm bất thiện và
chứng đắc tâm thiền đáo đại khống chế phiền não, rồi chứng
đắc đạo quả đoạn trừ phiền não.
Người chế ngự được tâm bất thiện như thế sẽ thoát khỏi ngục
tù ma (mārabandhanā mokkhanti). Ngục tù ma
(mārabandhana) đây có nghĩa là ba cõi luân hồi
(tebhūmakavaṭṭa) tức cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Vị
A la hán là người đã thoát khỏi sự trói buộc của phiền não
và thoát khỏi luân hồi ba cõi. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |