|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 17 tháng 07, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ III. Phẩm Tâm _ Kệ số 6&7
Duyên sự:
Hai
bài kệ nầy được Đức Phật thuyết tại Jetavana ở Sāvatthi, do
câu chuyện tỳ khưu Cittahattha. Một
cư dân Sāvatthi đến chùa được các vị tỳ kheo cho thức ăn
khất thực còn dư. Ăn no nê một bữa người ấy nghĩ: “đi tu
kiếm ăn dể dàng hơn sống ở nhà, vậy ta hãy xuất gia”. Người
ấy về từ giả gia đình rồi đến chùa xin xuất gia. Chư tăng
hoan hỷ thu nhận cho người ấy xuất gia.
Xuất gia không được bao lâu, người ấy thấy nhàm chán mới
hoàn tục.
Hoàn tục ít lâu thấy đời sống cư sĩ khó nhọc, mới vào chùa
xin tu lại. Cứ
thế, người nầy trở vào trở ra sáu lần. Hoàn tục lần thứ sáu,
về nhà một thời gian. Hôm nọ đi làm đồng vào nhà thấy bà vợ
đang ngủ ngáy, hả miệng, nước dãi chảy nhểu nhão … anh ta
chán ngấy, bèn bỏ nhà muốn xuất gia lại.
Trên đường đến chùa, anh ta suy niệm vô thường, khổ và đắc
quả Nhập lưu. Anh ta vào chùa xin chư Tăng cho tu lại. Chư
Tăng nghĩ: ông nầy đầu cứng như đá không thể làm vị sa môn,
đã xuất gia rồi hoàn tục sáu lần. Nên chư Tăng không chịu
làm lễ thọ giới cho anh ta. Anh
ta cứ năn nỉ chư Tăng xin từ bi tiếp độ, chỉ một lần nầy nữa
thôi. Chư
Tăng nghe vậy cũng bi mẫn làm lễ xuất gia cho anh ta, và đặt
cho cái tên là Cittahattha (người có tâm tuỳ hứng). Mấy
ngày sau, tỳ kheo Cittahattha chứng đắc quả A la hán với bốn
tuệ đạt thông. Chư tỳ kheo không biết việc đắc chứng của vị
ấy nên qua thời gian lâu sau, các vị mới hỏi tỳ kheo
Cittahattha: “Sau lần nầy, lâu quá hiền giả chưa hoàn tục?”.
“Bạch các Ngài, hể ai còn tâm luyến ái thì mới hoàn tục. Ai
dứt tâm luyến ái thì không còn hoàn tục nữa”. Chư
tỳ kheo đem chuyện nầy bạch trình đức Phật, tỳ kheo
Cittahattha đã nói với các tỳ kheo như là vọng ngữ, khoe
pháp cao nhân.
Nhưng bậc Đạo Sư đã xác nhận:
“Này chư tỳ kheo, vị ấy nói sự thật không đại vọng ngữ đâu.
Con trai ta khi trước tâm không vững trú, không thông hiểu
chánh pháp nên còn đi đi về về. Nhưng bây giờ thì niềm tin
bất động rồi”. Nói
xong, đức Phật thuyết lên hai bài kệ :
Anavaṭṭhitacittassa ..v.v..
Chánh văn:
(dhp 38) saddhammaṃ avijānato pariplavapasādassa paññā na paripūrati.
(dhp
39) ananvāhatacetaso puññapāpapahīnassa natthi jāgarato bhayaṃ.
Thích văn:
anavaṭṭhitacittassa
[sở thuộc cách số ít nam tính của danh từ hợp thể
anavaṭṭhitacitta
(an + avaṭṭhita + citta)] đối với người có tâm không
vững trú.
saddhammaṃ
[đối cách số ít của danh từ nam tính
saddhamma
(sammā + dhamma)] chánh pháp, giáo pháp chân chính.
avijānato
[sở thuộc cách số ít nam tính của tính từ
avijānanta
(na + vijānanta)_ hiện tại phân từ của động từ
vijānāti]
không hiểu.
pariplavapasādassa
[sở thuộc cách số ít nam tính của danh từ hợp thể
pariplavapasāda
(pariplava + pasāda)] niềm tin bấp bênh, niềm tin dể
dao động.
paññā
[chủ cách số ít của danh từ nữ tính
paññā]
trí tuệ.
na
[phủ định
từ] không, chẳng có.
paripūrati
[thì hiện tại ngôi III số ít
(pari + căn pūr + a) viên mãn, viên thành, tròn đủ.
anavassutacittassa
[sở thuộc cách số ít nam tính của tính từ hợp thể
anavassutacitta
(an + avassuta + citta)] đối với người có tâm không
ái nhiễm, có tâm không mê luyến.
ananvāhatacetaso
[sở thuộc cách số ít nam tính của tính từ hợp thể
ananvāhataceta
(na + anvāhata + ceta)] đối với người có tâm không
não hại, có tâm không công kích.
puññapāpapahīnassa
[sở thuộc cách số ít nam tính của tính từ hợp thể
puññapāpapahīna
(puññapāpānaṃ pahīnaṃ)] người đã từ bỏ cả thiện lẫn
ác.
natthi
[(na + atthi)
động từ
hiện tại ngôi III, số ít căn as)] không có,
chẳng có.
jāgarato
[sở thuộc cách số ít của hiện tại phân từ
jāgaranta
(jāgar + anta)] người đang tỉnh, đang thức.
bhayaṃ
[chủ cách số ít của danh từ trung tính
bhaya] sự sợ
hãi, sự kinh khiếp, tai hoạ, hoạn nạn.
Việt văn: Người tâm không vững trú không thông hiểu chánh pháp niềm tin dễ dao động trí tuệ không viên mãn. Người tâm không ái luyến tâm không nghĩ tàn hại từ bỏ mọi thiện ác tỉnh thức không sợ hãi.
Chuyển văn:
Anavaṭṭhitacittassa saddhammaṃ avijānato pariplavapasādassa
paññā na paripūrati. Đối
với người tâm không vững trú, không thông thiểu chánh pháp,
niềm tin bấp bênh, thì trí tuệ không viên mãn được.
Anavassutacittassa ananvāhatacetaso puññapāpapahīnassa
jāgarato bhayaṃ natthi. Đối
với người tâm không luyến ái, tâm không tàn hại, từ bỏ cả
thiện ác và tỉnh thức, thì không có sự sợ hãi.
Lý giải: Bài
kệ đầu trong hai bài kệ nầy, đức Phật nói đến tình trạng
trước đó của tỳ kheo Cittahattha, cứ đi xuất gia rồi hoàn
tục, hoàn tục rồi xuất gia, tới lui sáu lần, do chưa viên
thành trí tuệ. Trí
tuệ ở đây là tuệ minh sát (vipassanāñāṇa), tuệ đạo
(maggañāṇa) và tuệ quả (phalañāṇa). Vì
sao trí tuệ không viên thành? Vì
tâm không vững trú, không thông hiểu chánh pháp, niềm tin
bấp bênh dao động. Gọi
là người tâm không vững trú (anavaṭṭhitacittassa)
nghĩa là có lúc muốn xuất gia, có lúc muốn làm cư sĩ, có lúc
tinh tấn, có lúc lười biếng ..v.v.. không có kiên
định lập trường. Gọi
là người không thông hiểu chánh pháp (saddhammaṃ
avijānato) nghĩa là vị xuất gia mà không biết rõ các
pháp giác phần (sattatiṃsabodhipakkhiya) là tinh
hoa của giáo pháp, để tu tập. Gọi
là niềm tin bấp bênh dao động (pariplavapasādassa)
nghĩa là người mà niềm tin phật pháp không nhất hướng, tin
tam bảo cũng có, ngoại giáo cũng có, nghe đâu tin đó không
phân biệt chánh tà. Đối
với người tâm không vững trú, không biết tinh hoa giáo pháp,
không có niềm tin tam bảo nhất hướng như thế thì không thể
thành tựu trí tuệ đạo quả. Bài
kệ sau trong hai bài kệ ấy, đức Phật mô tả trạng thái giác
ngộ chứng quả A la hán của tỳ kheo Cittahattha nên không còn
trở lui lại đời sống thế tục nữa. Một
vị A la hán là vị mà tâm không có mê luyến, đã dứt trừ tham
ái (anavassutacittassa). Vị
A la hán đã tuyệt trừ sân hận, không còn não hại chúng sanh
(ananvāhatacetaso). Vị
A la hán là vị đã hoàn toàn thanh tịnh không còn phiền não
nên đã dứt bỏ mọi điều ác (pahīnapāpa), việc cần
làm để trừ ác pháp đã làm xong, nên không cần làm thêm điều
thiện nào nữa, gọi là dứt bỏ điều thiện (pahīnapuñña).
Do ý nghĩa nầy mới nói bậc A la hán từ bỏ mọi thiện ác
(puññapāpapahīnassa). Vị
A la hán là bậc tỉnh thức (jāgarato), nghĩa là vị
Lậu tận thành tựu năm pháp tỉnh thức (pañcahi
jāgaradhammehi samanāgato) tức ngũ lực: tín, tấn, niệm,
định và tuệ. Đối
với bậc Lậu tận thì không còn mối đe doạ hay nỗi sợ hãi do
phiền não. Bởi lẽ các phiền não đã được bốn thánh đạo đoạn
trừ rồi không tái phát, không còn đeo bám vị ấy nữa. Nỗi sợ
hãi (bhayaṃ) ở đây là nói đến nỗi sợ hãi do phiền
não (kilesabhayaṃ). @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |