|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 20 tháng 07, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,177)- PHẨM CƯ SĨ.
Bài
5. Kinh Mānatthaddha (Mānatthaddhasuttaṃ)
-TRỊ KIÊU MẠN BẰNG “ĐỌC TRÚNG TIM ĐEN”.
Tự thị rằng mình
cao quý là sự câu chấp rất thường có ở người đời khi có cái
gì đó nghĩ là “mình hơn người khác”. Sự kiêu mạn rất khó từ
bỏ vì đó là sự thể hiện của ngã chấp, một thứ phiền não ăn
sâu trong tâm thức chúng sanh.
Có nhiều lần Đức Phật cảm hoá người kiêu mạn bằng
cách cho người đó biết năng lực “tha tâm thông” của Ngài.
Dường như cách nầy rất hiệu nghiệm để hoá giải tâm kiêu mạn
như trường hợp Đức Phật độ ba anh em tu sĩ Uruvela Kassapa.
Có ai sống mà không vướng mắc chấp thủ nhân ngã bỉ thử?.
Khác biệt chăng là ở mức độ tế hay thô. Người may mắn hữu
duyên gặp bậc Vô
thượng Y vương thì được trị liệu tốt.
Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena mānatthaddho nāma
brāhmaṇo sāvatthiyaṃ paṭivasati. So neva mātaraṃ abhivādeti,
na pitaraṃ abhivādeti, na ācariyaṃ abhivādeti, na
jeṭṭhabhātaraṃ abhivādeti.
Tại Sāvatthi.
Thuở ấy có bà la môn được gọi là
Mānatthada (Ngạo Mạn) sống ở Sāvatthi. Người nầy không cung
kính mẹ, không cung kính cha, không cung kính thầy,
không kính trọng anh cả.
Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya parivuto dhammaṃ
deseti. Atha kho mānatthaddhassa brāhmaṇassa etadahosi –
‘‘ayaṃ kho samaṇo gotamo mahatiyā parisāya parivuto dhammaṃ
deseti. Yaṃnūnāhaṃ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṃ.
Sace maṃ samaṇo gotamo ālapissati, ahampi taṃ ālapissāmi. No
ce maṃ samaṇo gotamo ālapissati, ahampi nālapissāmī’’ti.
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā tuṇhībhūto ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha kho bhagavā
taṃ nālapi. Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo – ‘nāyaṃ samaṇo
gotamo kiñci jānātī’ti tatova puna nivattitukāmo ahosi.
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang thuyết
pháp với đông đảo thính chúng ngồi chung quanh. Bà la
môn Mānatthada khởi ý nghĩ: "Sa môn Gotama đang thuyết pháp
với đông đảo thính chúng ngồi chung quanh. Ta hãy đi đến
Savmôn Gotama. Nếu Sa môn Gotama nói chuyện với ta, ta sẽ
nói chuyện với Sa-môn Gotama. Nếu Sa môn Gotama không nói
chuyện với ta, ta cũng sẽ không nói chuyện với Sa-môn
Gotama".
Rồi Bà-la-môn Mānatthada đi đến Đức Thế Tôn; sau khi đến,
đứng một bên và im lặng.
Đức Thế Tôn không nói chuyện gì với bà la môn ấy.
Bà-la-môn Mānatthada suy nghĩ: "Sa môn Gotama này không hiểu
biết gì", nên muốn bỏ
về.
Atha kho bhagavā mānatthaddhassa brāhmaṇassa cetasā
cetoparivitakkamaññāya mānatthaddhaṃ brāhmaṇaṃ gāthāya
ajjhabhāsi –
‘‘Na mānaṃ brāhmaṇa sādhu, atthikassīdha brāhmaṇa;
Yena atthena āgacchi, tamevamanubrūhaye’’ti.
Đức Thế Tôn với tâm mình biết được ý nghĩ của bà la môn
Mānatthada, liền nói lên
kệ ngôn: Người muốn điều lợi ích Nên hướng đến mục đích Đến vì thế, Phạm chí!
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo – ‘‘cittaṃ me samaṇo gotamo
jānātī’’ti tattheva bhagavato pādesu sirasā nipatitvā
bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati pāṇīhi ca
parisambāhati, nāmañca sāveti – ‘‘mānatthaddhāhaṃ, bho
gotama, mānatthaddhāhaṃ, bho gotamā’’ti. Atha kho sā parisā
abbhutacittajātā [abbhutacittajātā (sī. syā. kaṃ. pī.),
acchariyabbhutacittajātā (ka.)] ahosi – ‘acchariyaṃ vata
bho, abbhutaṃ vata bho! Ayañhi mānatthaddho brāhmaṇo neva
mātaraṃ abhivādeti, na pitaraṃ abhivādeti, na ācariyaṃ
abhivādeti, na jeṭṭhabhātaraṃ abhivādeti; atha ca pana
samaṇe gotame evarūpaṃ paramanipaccakāraṃ karotī’ti. Atha
kho bhagavā mānatthaddhaṃ brāhmaṇaṃ etadavoca – ‘‘alaṃ,
brāhmaṇa, uṭṭhehi, sake āsane nisīda. Yato te mayi cittaṃ
pasanna’’nti.
Bà la môn Mānatthada suy nghĩ: "Sa môn Gotama biết tâm tư
của mình", cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hôn chân Thế Tôn,
xoa chân Dức Thế Tôn và nói tên của mình:
-- Thưa Tôn giả Gotama, con là Mānatthada. Thưa Tôn giả
Gotama, con là Mānatthada.
Đám đông hiện diện lấy làm kinh ngạc: Thật kỳ diệu bạch
Ngài, thật kỳ diệu bạch Ngài.
Rồi đại chúng ấy tâm khởi lên kinh dị vi diệu: "Thật là vi
diệu, thưa Ngài! Thật là hy hữu, thưa Ngài! bà la môn
Mānatthada (không cung kính mẹ, không cung kính cha, không
cung kính thầy,
không kính trọng
anh cả., nay lại thể hiện sự cung kính tột độ với Gotama."
Đức Thế Tôn nói với Bà la môn Mānatthada:
Như vậy đã đủ rồi. Hãy an toạ.
Do đâu Ông có lòng
tín thành đối với Ta?
Atha kho mānatthaddho brāhmaṇo sake āsane nisīditvā bhagavantaṃ
gāthāya ajjhabhāsi –
‘‘Kesu na mānaṃ kayirātha, kesu cassa sagāravo;
Kyassa apacitā assu, kyassu sādhu supūjitā’’ti.
Bà la môn Mānatthada sau khi an toạ đã nói kệ ngôn: Với ai nên kính trọng? Với ai nên lễ bái? Với ai nên cúng dường? (Thế Tôn): Ācariye catutthamhi, Tesu na mānaṃ kayirātha; Tesu assa sagāravo, Tyassa apacitā assu; Tyassu sādhu supūjitā. ‘‘Arahante sītībhūte, katakicce anāsave; Nihacca mānaṃ athaddho, te namasse anuttare’’ti. Với anh cả trưởng thượng Thứ tư là thầy tổ , Không đem lòng cao ngạo, Nên lễ những vị ấy, Nên kính những vị ấy, Với tâm tư khiêm hạ Lễ La Hán vô thượng Tịnh tịnh và vô nhiễm Đã làm việc nên làm
Evaṃ vutte, mānatthaddho brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca –
‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... upāsakaṃ maṃ bhavaṃ gotamo
dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gata’’nti.
Khi được nghe nói vậy, bà la môn Mānatthada bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu
thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người dựng đứng
những gì bị ngã
xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc
lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai có mắt
thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin nương
tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. . Mong Tôn giả Gotama
nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời
quy ngưỡng.
atthikassīdha brāhmaṇa = Yena atthena āgacchi = tamevamanubrūhaye’’ti = ‘‘Kesu na mānaṃ kayirātha = kesu cassa sagāravo = Kyassa apacitā assu = kyassu sādhu supūjitā’’ti = ‘‘Mātari pitari cāpi, atho jeṭṭhamhi bhātari = Ācariye catutthamhi = Tesu na mānaṃ kayirātha = Tesu assa sagāravo = Tyassa apacitā assu = Tyassu sādhu supūjitā = ‘‘Arahante sītībhūte = katakicce anāsave = Nihacca mānaṃ athaddho = te namasse anuttare’’ti =
Theo Sớ giải, bà la môn Mānatthada nghĩ “Sa môn Gotama không
hiểu biết gì” hàm nghĩa là theo ông thì Đức Phật không biết
sự cao quý của một người sanh trong giai cấp bà la môn. Đây
là một quan niệm rất phổ biến trong xã hội phân biệt giai
cấp do dòng dõi thọ sanh. Sự
thể hiện bằng “cách đảnh lễ chân , hôn chân, xoa chân và nói
tên của mình” là biểu tỏ sự tôn kính cao nhất trong văn hoá
Ấn độ.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |