|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 25 tháng 07, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,179)- PHẨM CƯ SĨ.
Bài
7. Kinh Navakammika (Navakammikasuttaṃ)
-KHI NGHĨA ĐEN VÀ NGHĨA BÓNG HOÀN TOÀN ĐỐI LẬP.
Ông bà la môn
trong bài kinh nầy hỏi Phật là Ngài thích thú gì khi sống
một mình trong rừng. Đức Phât trả lời chính vì không còn
rừng nên thích trú ở rùng. Nói không còn rừng, Đức Phật muốn
nói về niết bàn vượt ngoài những trùng trùng khổ ải của
phiền não, của nhân quả, của sinh diệt. Chỉ có một người
hoàn toàn giải thoát mới thật sự sống an lạc độc cư trong
rừng vắng. Những gì Đức Phật dạy liên hệ tới cái rất thân
quen của một người chuyên khai thác gỗ trong rừng mà cũng
hoàn toàn mới mẻ vè ý niệm khu rừng và niềm hạnh phúc sống
trong rừng. Không phải chỉ lãnh hội điều chưa từng nghĩ tới
mà còn thay đổi tận cùng niềm tin và định hướng trong đời
của con người hữu duyên đó.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena navakammikabhāradvājo
brāhmaṇo tasmiṃ vanasaṇḍe kammantaṃ kārāpeti. Addasā kho
navakammikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ aññatarasmiṃ
sālarukkhamūle nisinnaṃ pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ
paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. Disvānassa
etadahosi – ‘‘ahaṃ kho imasmiṃ vanasaṇḍe kammantaṃ kārāpento
ramāmi. Ayaṃ samaṇo gotamo kiṃ kārāpento ramatī’’ti?
Một thuở Đức Thế
Tôn trú ở tại một khu rừng.tại xứ Kosala, Bấy giờ bà la môn
Navakammika Bhāradvāja đang làm
việc tại khu rừng ấy. Bà la môn Navakammika trông thấy Thế
Tôn ngồi kiết già dưới một gốc cây, lưng thẳng và hướng
chánh niệm phía trước.
Thấy vậy, vị
Bà-la-môn suy nghĩ: "Ta thích làm việc khai thác gỗ trong
rừng còn Sa môn Gotama thích việc gì?"
Atha kho navakammikabhāradvājo brāhmaṇo yena bhagavā
tenupasaṅkami. Upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi
–
‘‘Ke nu kammantā karīyanti, bhikkhu sālavane tava;
Rồi bà la môn
Navakammika đi đến Thế Tôn và nói lên bài kệ ngôn: Giữa rừng cây sala Một mình, Ngài thích gì? Tôn giả Gotama
(Thế Tôn):
‘‘Na me vanasmiṃ karaṇīyamatthi, Ucchinnamūlaṃ me vanaṃ
visūkaṃ; Bứng gốc, rừng đã khô Không rừng, không gai góc Mọi bất mãn tận diệt Ta một mình trong rừng Sống hoan hỷ tự tại
Evaṃ vutte, navakammikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ
etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... upāsakaṃ maṃ
bhavaṃ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gata’’nti.
Ðược nghe nói
vậy, Bà-la-môn Navakammika Bhāradvāja bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu
thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người dựng đứng
những gì bị ngã
xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc
lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai có mắt
thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin nương
tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. . Mong Tôn giả Gotama
nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời
quy ngưỡng.
bhikkhu sālavane tava = Yadekako araññasmiṃ = ratiṃ vindati gotamo’’ti = ‘‘Na me vanasmiṃ karaṇīyamatthi = Ucchinnamūlaṃ me vanaṃ visūkaṃ = Svāhaṃ vane nibbanatho visallo = Eko rame aratiṃ vippahāyā’’ti =
Theo Sớ Giải thì biệt danh Navakammika (người làm việc sơ
khởi) xuất phát từ công việc cắt cây rừng mang về bán cho
trại cưa dưới phố. Ông bà la môn nầy chỉ đốn cây và cắt bỏ
cành lá nhưng giai đoạn đầu của việc khai thác gỗ cho việc
xây cất. Trong câu nói của Đức Phật chữ rừng ở hai câu đầu chỉ cho cảnh
giới trầm luân sanh tử. Trọn hai câu đầu là cách nói về niết
bàn (nibbāna = không còn rừng, thoát khỏi rừng rậm hoang
vu). Hai câu sau chữ rừng hiểu theo nghĩa đen.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |