|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, 26 tháng 07, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 31. Đạo Đế-Phần Chánh Định
Đạo đế nói một cách ngắn gọn là con đường dẫn đến sự
chấm dứt khổ đau. Kinh văn nêu rõ:
Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodhagāminī paṭipadā
ariyasaccaṃ ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathīdaṃ:
sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto
sammā’ājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về con đường dẫn đến
diệt khổ: chính là thánh đạo tám chi phần tức chánh
kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Nên hiểu “đạo” là con đường đưa đến.
Không nên hiểu khổ đau và hạnh phúc trong giáo lý tứ đế
theo cách đối xứng. Khổ và nguyên nhân sanh khổ rất khác
với sự diệt khổ và con đường dẫn đến sự diệt khổ. Tập
đến, tức ái dục, là nhân sanh ra khổ nhưng đạo đế không
phải là cội nguồn của hạnh phúc mà là con đường dẫn đến
Niết bàn giống như con đường dẫn tới ngọn núi chứ không
phải là con đường “tạo nên” hòn núi. Sự tương quan giữa
đạo đế và diệt đế không nằm trong định lý nhân duyên hay
nhân quả.
Có hai cách dịch chữ ariya là “chánh” hay “thánh”.
Mang ý nghĩa của sự vượt lên trên phàm tình. Không đơn
thuần là chánh đạo theo quan niệm đối đãi hoặc là nếp
sống của các bậc thánh mà là con đường dẫn đến giác ngộ
giải thoát.
Bát chánh đạo là “con đường đúng” gồm có tám chi phần
chứ không phải là tám con đường chánh.
Cấu trúc từ ngữ cho chữ Hán ở đây có thể bị ngộ nhận là
có tám con đường đều dẫn đến mục tiêu tối hậu giống như
cách nói “con đường nào cũng dẫn đến La Mã”. Ở đây hoàn
toàn không phải là 8 con đường riêng rẽ mà là hành trình
có 8 yếu tố hoà quyện.
Bát chánh đạo không phải là quan niệm luân lý mà là sự
kết hợp của tám pháp thực tính hay bản thể.
Nói đến chánh tà người ta thường nghĩ là khái niệm theo
đạo đức. Ở đây phải được hiểu là “làm đúng cách”. Thí dụ
như nấu cơm phải biết lửa và nước như thế nào mới có cơm
ngon. Làm đúng cách thì kết quả tốt. Về điểm nầy Thắng
Pháp Abhidhamma còn nêu rõ là “bát chi đạo có bản thể là
8 thuộc tánh (cetasika)" trong hành uẩn. Tám thuộc tánh
nầy đối với phàm tâm thì không thể đồng sanh trong một
sát na tâm nhưng một khi cùng lúc sanh khởi thì là tuệ
giác đoạn tận hay giảm thiểu vĩnh viễn kiết sử”. Đây là
pháp thực tính chứ không phải khái niệm của tư duy.
Con số “8” ở đây phải được hiểu là “ắt có và đủ”.
Trong pháp số
có trường hợp cố định và bất định. Trong trường
hợp bất định thì con số có thể gia giảm thí dụ khi nói
về cảm thọ có thể nói là 3 hay 5 hoặc nhiều hơn nữa. Có
trường hợp cố định thì không thể thêm hay bớt. Bát chánh
đạo là trường hợp cố định. Không thể là 7 hay là 9 hoặc
khác hơn. Đây là điểm rất quan trọng người học Phật cần
lưu tâm. Chánh kiến là cái nhìn chính xác. Thí dụ một người khởi sự hành trình nhận rõ đường đi, điểm đến và tình trạng giao thông. Chánh kiến trong Phật Pháp được hiểu qua ba phương diện:
a.
Chánh kiến là cái nhìn đối lập với tà kiến. Nói cách khác là
không chấp thường kiến tiêu biểu như không chấp thủ đây là
của ta, là ta, là tự ngã của ta và không chấp đoạn kiến cụ
thể là không chấp sai lạc không có đời sau, không có các
loại hoá sanh, hành vi thiện ác không có quả báo
b.
Chánh kiến là nhận thức các pháp hữu vi đều có ba đặc tính
là hằng chuyển (vô thường), hệ luỵ (khố não), vô chủ (vô
ngã). Chấp thủ ngược lại là tà kiến.
c.
Chánh kiến là cái nhìn thực tại qua hệ luận tứ đế: đây là
khổ, đây là nhân sanh khổ, đây là sự diệt khổ, đây là con
đường dẫn tới diệt khổ.
Chánh kiến trong bát chánh đạo thuộc phạm trù thứ ba kể trên
vì sự tương quan nhuần nhuyễn với bảy chi đạo còn lại.
Chánh tư duy là ý hướng hiền thiện trong suy nghĩ.
Tấm thức với tập tánh cố hữu của chúng sanh luôn
hướng đến cái gì đó. Ba tư duy được xem là đưa chúng sanh
vào hệ luỵ là dục tư duy hay ý hướng di tìm những thứ thoả
mãn thị hiếu; sân tư duy là ý hướng tập chú vào sự bất bình
bực tức; hại tư duy là ý hướng gây phiền luỵ khổ đau cho
chúng sanh do hiềm hận. Những ý hướng nầy luôn tồn tại hằng
trong tâm tư chúng sanh trở thành tập tánh nhiều lâu đời.
Tuy vậy không phải là không có cách hoán chuyển. Để huân tu
chánh tư duy không phải chỉ “nói không” mà cần tích cực huân
tu pháp đối trị. Ba pháp tích cực tạo nên chánh tư duy là:
A.
Ly tham tư duy hay ý hướng buông xả. Là thường xuyên ý thức
về “nguy hiểm nhiều hơn vị ngọt” đối với sự dính mắc. Đây
chính là một trong những điểm tế nhị của người tu tập so với
quan điểm thường tình. Có thể thí dụ như có rất nhiều người
“ghiền” nước ngọt phải mất thời gian dài thay đổi để thật sự
thoải mái với thức uống không đường.
B.
Ly sân tư duy là ý hướng thân thiện từ mẫn. Đây là trạng
thái của tâm từ. Thay vì soi mói tìm lỗi hay bất mãn điều
nầy điều kia thì hàm dưỡng tâm hoà ái luôn mong mõi muôn
loài được an lành.
C.
Ly hận tư duy là ý hướng cảm thông bi mẫn. Đây là trạng thái
của tâm bi. Tâm bi mẫn là sự cảm thông đủ sức hoá giải những
gút mắc oán hận, thù nghịch. Tâm bi mẫn mong chúng sanh
thoát khố đương nhiên không mong ai bị khổ.
Khi ba chánh tư duy kể trên được tu tập thuần thục sẽ cảm
nhận được nội tâm nhẹ nhàng, ít bị chi phối. và ở trong
trạng thái sẳn sàng cho những thiện pháp sanh khởi và tăng
trưởng.
Chánh ngữ là ngôn từ hiền thiện, không sai quấy.
Sự biểu đạt qua ngôn ngữ là một phần quan trọng trong cuộc
sống. Đa số nói năng theo thói quen mà không nhận ra cách sử
dụng lợi nói ảnh hưởng sâu xa cuộc sống và sự tu tập. Chánh
ngữ ở đây nên được hiểu là tất cả những gì được sử dụng để
truyền thông dù là lời nói bằng miệng hay viết lách…
A.
Trên phương diện kiên tránh, chánh ngữ là không nói dối,
không nói chia rẽ, không nói lời cay nghiệt, không nói lời
nhảm nhí vô ích.
B.
Trên phương diện huân tập lời nói tốt đẹp thì nên thường áp
dụng 5 nguyên tắc: nói đúng thời, nói sự thật, nói với lời
hoà nhã, nói điều lợi ích, nói với lòng từ
C.
Trên phưong diện ý thức sự nguy hiểm của ngôn từ nên nhớ lời
Phật dạy: Như Lai nói rằng người cố tình nói dối thì không
có ác hạnh nào không làm được.
D.
Người tu tập với dụng tâm tránh xa tà ngữ cũng là một cách
thanh tịnh hoá bản thân nhưng Phật ngôn trong Tăng chi bộ.
E.
Người con Phật nên suy tư về chánh ngữ của Đức Phật: chỉ nói
sự thật và chỉ nói sự thật liên hệ tới giải thoát giác ngộ
Chánh ngữ không phải chỉ là đề tài lớn trong cuộc sống hằng
ngày mà còn trong sự tu tập rất riêng tư và thậm chí là một
chi đạo trong thời khắc tuệ giác bừng khai.
Chánh nghiệp là hành động chơn chánh.
Chữ nghiệp dịch từ kammanta cần được định nghĩa và hiểu
trong khuôn khổ của bát chánh đạo vì từ vựng nầy được hiểu
với nhiều phạm trù khác nhau tuỳ theo ngữ cảnh.
A.
Chánh nghiệp ở đây là những tạo tác ngoài ngôn ngữ và sự mưu
sinh. Chính xác hơn là thân nghiệp hiền thiện. Trong lúc ở
những trường hợp khác thì nghiệp bao gồm cả khẩu nghiệp và
sự nuôi mạng.
B.
Một cách đơn cử cụ thể thì chánh nghiệp là không sát hại
sinh vật, không lấy của không cho, không tà hạnh trong dâm
dục.
C.
Người tu tập cũng cần hiểu rộng thêm là có những điều không
đơn cử nhưng liên quan tới thân nghiệp bất thiện cũng cần
được tránh như dù không sát hại nhưng hành động đánh đập,
gây tổn thương cho chúng sanh khác thì cũng nên tránh.
D.
Một số các vị thiền sư cũng dạy về chánh nghiệp bao gồm hành
vi tốt đẹp trong sinh hoạt hằng ngày nhưng không khuấy động
ồn ào khi đại chúng tu tập, không huỷ hoại môi trường sinh
thái một các vô ý thức, hay tạo ra những bất ổn cho người
chung quanh bằng sinh hoạt cá nhân….
Bên cạnh chánh ngữ là ngôn ngữ hiền thiền thì chánh nghiệp
hàm ý những gì tạo tác nên đi cùng với ý thức không hại cho
mình, không hại cho người hoặc vô hại cho cả hai.
Chánh mạng là mưu sinh bằng cách chân chánh.
Nuôi mạng vốn là một trong những nền tãng quan trọng của
kiếp người. Khác hơn các sanh loại khác, loài người đa số có
nhiều lựa chọn trong sinh kế. Bản năng tự tồn tất nhiên là
điều không thể không có nhưng chọn phương thức nuôi thân hay
nuôi gia đình mà không gây hại cho chúng sanh khác hoặc tạo
những ác nghiệp là điều mà bất cứ người tu tập nào cũng cần
phải quyết tâm thực hành.
A.
Chánh mạng không chỉ là quan niệm luân lý trong đời sống
hằng ngày mà còn là một thuộc tánh của tâm (cetasika), một
chi đạo trong bát chi đạo. Đây là những khía cạnh quan trọng
mà một người học Phật nghiêm túc không thể không quan tâm.
B.
Sự nuôi mạng chơn chánh được đề cập trong kinh có sự khác
biệt lớn giữa chánh mạng của người xuất gia và người tại
gia. Không thể lấy tiêu chuẩn của tu sĩ áp dụng cho cư sĩ
hay ngược lại.
C.
Với người cư sĩ thì sinh kế chân chánh nên được hiểu rộng
rãi thay vì chỉ có buôn bán. Năm thứ buôn bán nên tránh là
buôn bán người, buôn bán thú, buôn bán độc phẩm, buôn bán
khí giới, buôn bán rượu, Từ những cách sinh nhai nầy có thể
hiểu rộng ra là những gì gây phương hại, đau khổ cho chúng
sanh đều nên tránh.
D.
Đối với người xuất gia thì chánh mạng rất khác biệt với
người cư sĩ. Có nhiều cách nuôi mạng hoàn toàn hợp đạo với
người cư sĩ nhưng lại là tà mạng với người xuất gia nhưng
chuyên sống bằng nghề làm thuốc, coi bói, làm công…
E.
Trong kinh ghi lại có trường hợp người đi lính hoặc diễn
viên tin rằng nghề nghiệp của mình phục vụ cho người khác
nên sẽ được sanh thiên giới sau khi chết. Niềm tin sai lầm
đó sẽ dẫn người ấy vào khổ cảnh (….)
F.
Nghề nghiệp mưu sinh ảnh hưởng sâu sắc tới nội tâm. Người tu
tập cần tìm một phương cách sinh tồn mà không tạo nên những
thói quen hay cách sống khiến tâm trí bị ảnh hưởng xấu..
Không thể tu tập tiến bộ nếu sinh kế không hiền thiện.
Chánh tinh tấn là nỗ lực chánh đáng.
Trong cuộc sống, chúng sanh thường có những có gắng nhung
thường là xung lực bản năng như siêng năng tích góp tài sản
là một thí du. Sự cố gắng được gọi là chánh tinh tấn là thái
độ phấn đấu khi ý thức được cái gì nên có và cái gì không
nên. Thí dụ như một người khi ý thức rõ căn bệnh thì tự sự
hiểt biết đó cố gắng làm những gì để bệnh tình thuyên giảm.
A.
Điểm đầu tiên của người huân tu chánh tinh tấn là nhận thức
rõ có gì thiện, cái gì là bất thiện. Chẳng những chỉ phân
biệt mà còn thấy được sự tai hại của pháp bất thiện và sự
lợi lạc của pháp thiện. Từ ý thức nầy chỗi dậy sự tích cực
phấn đấu.
B.
Đối với pháp bất
thiện, hành giả cương quyết ngăn ngừa ác pháp chưa sanh
không cho sanh khởi (thận cần) và tiêu trừ ác pháp hiện có
(trừ cần).
C.
Đối với thiện pháp hành giả tích cực tu tạo những thiện pháp
chưa có khiến cho sanh khởi (tu cần); và duy trì pháp triển
thiện pháp đang có
(bảo cần)
D.
Đối với người huân tu chánh tinh tấn thì chỉ có một con
đường, con đường duy nhất, là phải nỗ lực đối với các pháp
thiện và pháp bất thiện. Không có nỗ lực là đồng nghĩa với
sự buông thả, chấp nhận, tiêu cực. Đó là con đường thối đọa.
E.
Sự huân tu các chi đạo khác luôn luôn cần sự đồng
hành của chánh tinh tấn.
Chánh niệm là khả năng bám sát với thực tại một cách tỉnh
thức liên tục.
Thực tại ở đây là thân và tâm. Tỉnh thức là thắp sáng ý thức
với hiện tại. Chánh niệm đối ngược với khuynh hướng cố hữu
của tâm ý là thường truy cầu quá khứ và mộng tưởng tương
lai. Người ta thường thấy hiện tại buồn chán nên hay tầm cầu
cái gì đó hoặc nhớ nghĩ những gì đã qua. Sống thiếu chánh
niệm thường tạo nên trạng thái không thật sự sống trọn với
những gì đang thật sự xẩy ra.
A.
Tu tập bát chánh đạo xây dựng trên nền tảng huân tập chánh
niệm đặc biệt là bước đầu với khả năng quán sát hơi thở.
B.
Bốn niệm xú gồm: a. Quán thân là chánh niệm đối với thân như
hơi thở; tư thế đi đứng nằm ngồ; cử chỉ trong sinh hoạt như
ăn uống, mặc y… b. Quán thọ là ý thức rõ cảm xúc vui, buồn,
thản nhiên . c. Quán tâm là khả năng nhận ra những trạng
thái của tâm trong hiện tại như tâm thiện, tâm bất thiện,
tâm thanh tịnh hay ô nhiễm.. d. Quán pháp là quán chiếu nhận
diện những đề tài pháp do Phật dạy như năm triền cái, sáu
nội ngoại xứ, thất giác chi, tứ diệu đế ở chính thân tâm chứ
không phải qua sách vỡ hay suy diễn.
C.
Đối với phần đông, sự tu tập chánh niệm với căn bản là niệm
hơi thở ra vào. Chính phép niệm hơi thở tạo nên khả năng
quán sát liên tục, khách quan, và trở về với hiện tại.
D.
Từ nền tảng hơi thờ, hành giả có thể nhận biết xa hơn những
trạng thái như đau nhức (thọ quán), tâm hưng phấn (tâm
quán), sự nhĩ thức đối với âm thanh nào đó (pháp quán) nhưng
sau những ghi nhận cần hướng sự chú ý trở về lại hơi thở.
E.
Hành giả sau khi thuần thục với hơi thở có thể dùng chánh
niệm quán sát chuyên sâu vào từng lãnh vực riêng biệt như
quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp. Giai đoạn chuyên
sâu chỉ nên thực hành khi chánh niệm đủ mạnh và thuần thục.
F.
Khả năng tập trung bền bĩ theo dõi hơi thở hay bước chân là
chỉ tịnh (samatha) và khà năng nhận diện - đặt biệt là thấy
rõ sanh diệt – là minh sát (vipassana). Cả hai đểu phải song
hành trong pháp bát chánh đạo. Riêng chánh định sẽ được nói
thêm trong phần tới.
G.
Trong sự tu tập chánh niệm nói riêng, và đời sống của người
tu Phật nói chung, sống tập chú vào hiện tại tốt hơn bận
lòng với việc đã qua cũng như cái chưa tới; tập chú vào thân
tâm tốt hơn là lo nghĩ mông lung; quán sát tướng trạng sanh
diệt của danh sắc quan trọng hơn khái niệm giả lập.
(Còn tiếp) Tỳ khưu Giác Đẳng |