|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 27 tháng 07, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,180)- PHẨM CƯ SĨ.
Bài
8. Kinh Kaṭṭhahāra (Kaṭṭhahārasuttaṃ)
-KHI TU CAO KHÔNG MANG NGUYỆN LỚN.
Người đời khi thấy một tu sĩ chân tu khả kính thường nghĩ là
tu như vậy phải có sở nguyện cao cả để chứng đạt cái gì đó
phi thường. Nhìn hình ảnh Đức Phật tĩnh toạ trang nghiêm
giữa chốn rừng sâu, ông bà la môn không thể không nghị đến
một bậc xuất trần thượng sĩ với đại nguyện cao cả mới được
như vậy. Câu trả lời của Đức Phật làm chấn động tâm tư ông
ấy hơn cả hình ảnh độc cư thiền toạ của Ngài: Không mong cầu
chấp trước gì thì mới không còn vô minh, và do vậy, an nhiên
giữa rừng sâu núi thẳm. Tất cả những mong cầu đều đưa tâm
hưởng đến những gì không thuộc hiện tại, hiện tiền. Những
ước vọng có xuất xứ từ vô minh. Chỉ có bậc không còn khát
vọng mới có thể tự tại. Đây là điều ít người nhận ra: tu tập
là sống với thực tại bằng tỉnh thức chứ không phải là chạy
đuổi theo cái gì đó dù được xem là cao vợi.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena aññatarassa
bhāradvājagottassa brāhmaṇassa sambahulā antevāsikā
kaṭṭhahārakā māṇavakā yena vanasaṇḍo tenupasaṅkamiṃsu;
upasaṅkamitvā addasaṃsu bhagavantaṃ tasmiṃ vanasaṇḍe
nisinnaṃ pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ
satiṃ upaṭṭhapetvā. Disvāna yena bhāradvājagotto brāhmaṇo
tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhāradvājagottaṃ brāhmaṇaṃ
etadavocuṃ – ‘‘yagghe, bhavaṃ jāneyyāsi! Asukasmiṃ vanasaṇḍe
samaṇo nisinno pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya
parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā’’.
Thuở ấy Đức Thế Tôn trú ở tại một khu rừng trong xứ Kosala.
Bấy giờ có một số thanh niên học trò của bà la môn dòng
Bhāradvāja vào khu rừng ấy tìm lượm củi. Họ trông thấy Đức
Thế Tôn đang ngồi kiết già, lưng thẳng, hướng chánh niệm
phia trước. Thấy vậy liền đi về thưa lại với bà la môn dòng
Bhāradvāja: Thưa Thầy, Thầy nên biết trong rừng có một sa
môn đang ngồi kiết già, lưng thẳng, trú niệm trước mặt.
Atha kho bhāradvājagotto brāhmaṇo tehi māṇavakehi saddhiṃ
yena so vanasaṇḍo tenupasaṅkami. Addasā kho bhagavantaṃ
tasmiṃ vanasaṇḍe nisinnaṃ pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ
paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. Disvāna yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ gāthāya
ajjhabhāsi –
‘‘Gambhīrarūpe bahubherave vane,
‘‘Na yattha gītaṃ napi yattha vāditaṃ,
‘‘Maññāmahaṃ lokādhipatisahabyataṃ,
Rồi ông bà la môn cùng với những thanh niên bà la môn đi vào
rừng gặp Đức Thế Tôn đang thiền toạ, lưng thẳng, trú niệm
trước mặt. Ông bà la môn nói lên kệ ngôn: Rừng sâu đầy kinh hãi Thân bất động, trang nghiêm Tỳ khưu thiền, tướng hảo Không lời ca, tiếng nhạc Ẩn sĩ trú giữa rừng Độc cư tâm tịnh lạc Khiến lòng con quý kính Chắc Ngài mong sanh thiên Cộng trú cùng Thiên chúa Ngài khổ tu trong rừng Để chứng quả Phạm thiên?
(Thế Tôn):
‘‘Yā kāci kaṅkhā abhinandanā vā,
‘‘Svāhaṃ akaṅkho asito anūpayo,
Bất cứ hỷ, lạc gì
Không mong cầu, chấp trước
Evaṃ vutte, bhāradvājagotto brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca –
‘‘abhikkantaṃ, bho gotama abhikkantaṃ, bho gotama...pe...
ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gata’’nti.
Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhāradvāja
bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người
dựng đứng những gì bị
ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường
cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai
có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin
nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. . Mong Tôn giả
Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con
trọn đời quy ngưỡng.
Suññaṃ araññaṃ vijanaṃ vigāhiya = Aniñjamānena ṭhitena vaggunā = Sucārurūpaṃ vata bhikkhu jhāyasi = ‘‘Na yattha gītaṃ napi yattha vāditaṃ = Eko araññe vanavassito muni = Accherarūpaṃ paṭibhāti maṃ idaṃ = Yadekako pītimano vane vase = ‘‘Maññāmahaṃ lokādhipatisahabyataṃ = Ākaṅkhamāno tidivaṃ anuttaraṃ = Kasmā bhavaṃ vijanamaraññamassito = Tapo idha kubbasi brahmapattiyā’’ti = ‘‘Yā kāci kaṅkhā abhinandanā vā = Anekadhātūsu puthū sadāsitā = Aññāṇamūlappabhavā pajappitā = Sabbā mayā byantikatā samūlikā = ‘‘Svāhaṃ akaṅkho asito anūpayo = Sabbesu dhammesu visuddhadassano = Pappuyya sambodhimanuttaraṃ sivaṃ = Jhāyāmahaṃ brahma raho visārado’’ti =
Ta Bà Giáo Chủ Tam Thiên Điều Ngự (lokādhipati tidivam
anuttaraṃ) là cách gọi của bà la môn giáo chỉ cho Đại Phạm
Thiên (Mahābrahma). Cụm từ nầy được Phật giáo Đại Thừa
thường dùng để chỉ cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Theo Sớ Giải thì hỷ (kaṅkhā), lạc (abhinandanā), và chấp
trước (pajappitā) đều là những hình thái của ái chấp
(tanḥā). Gốc rễ không hiểu biết (Aññāṇamūla) chính là vô
minh (avijjā)
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |