|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 28 tháng 07, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ III. Phẩm Tâm _ Kệ số 10 & 11(dhp 42 & 43) Phẩm Tâm_Kệ số 10 (dhp 42)
Duyên sự:
Bài kệ nầy Đức Phật thuyết
đề cập đến người chăn bò tên Nanda ở xứ Kosala.
Chuyện rằng, gia chủ
Anāthapiṇḍika ở Sāvatthi có một người chăn bò tên Nanda
trông giữ đàn bò tại vùng quê Kosala.
Thỉnh thoảng, Nanda mang
sữa bò, bơ, sanh tô, thục tô ..v.v.. cung cấp cho gia
chủ Anāthapiṇḍika trong thành Sāvatthi. Có dịp diện kiến đức
Phật và nghe pháp. Ông Nanda thỉnh cầu đức Phật đến trú xứ
của mình.
Một ngày kia, đức Phật cùng
đại chúng tỳ kheo du hành đến vùng quê của người giữ bò
Nanda, Ngài dừng chân và ngồi nghĩ tại gốc cây gần nhà ông
ta. Ông Nanda đến đức Phật, đảnh lễ và thỉnh vào nhà để cúng
dường đức Phật và chúng tỳ kheo suốt bảy ngày.
Đến ngày thứ bảy, đức Thế
Tôn sau buổi thọ thực, Ngài đã thuyết pháp tuỳ hỷ công đức
thí chủ. Khi chấm dứt pháp thoại, người chăn bò Nanda chứng
quả dự lưu.
Đức Phật và chúng tỳ kheo
từ giả ra đi, ông Nanda đã cầm bát của đức Phật và đi theo
tiễn chân Ngài một đoạn đường. Khi đức Phật bảo: “Thiện nam,
hãy dừng lại”, ông ta mới trao bát, đảnh lễ bậc Đạo Sư và
trở về nhà.
Trên đường về qua khu rừng,
Nanda bị một thợ săn bắn nhằm đã chết. Các vị tỳ kheo đi sau
thấy ông thiện nam bị bắn chết đã tiến lên và báo với đức
Phật: “Bạch Thế Tôn, người chăn bò Nanda vì tiễn chân Ngài
một đổi xa khi trở về đã bị bắn chết”. Đức Phật nói với các
tỳ kheo: “Dù ta có đến hay không đến Nanda cũng không tránh
được cái chết hôm nay khi ác nghiệp trổ quả”. (Vì các tỳ
kheo không hỏi tiền nghiệp của Nanda nên đức Phật không nhắc
đến). Sau khi nói vậy, đức Phật đã thuyết bài kệ pháp cú : “Diso
disaṃ yaṃ taṃ kayirā ... kẻ thù hại kẻ thù ..v.v..”.
Chánh văn:
(dhp 42) verī vā pana verinaṃ micchāpaṇihitaṃ cittaṃ pāpiyo naṃ tato kare.
Thích văn:
diso [chủ cách số ít của danh
từ nam tính disa] kẻ
địch, người đối nghịch.
disaṃ
[đối cách số ít của danh từ
nam tính disa] đối với kẻ
địch, đối với kẻ nghịch.
yaṃ [đối cách số ít trung tính
của quan hệ đại từ ya]
việc gì, điều nào.
taṃ [đối cách số ít trung tính
của chỉ thị đại từ ta]
việc ấy, điều ấy.
kayirā [khả năng cách ngôi III số
ít hình thức attanopada
của động từ karoti
(căn kar)] có thể làm, có
thể gây nên.
verī [chủ cách số ít của danh
từ nam tính verī] kẻ thù,
kẻ kết oán, oan gia, cừu nhân.
vā pana
[hai bất biến từ tạo thành
một liên từ kết hợp] hoặc giả, hay như…
verinaṃ [đối cách số ít của danh
từ nam tính verī] đối với
kẻ thù, đối với oan gia.
micchāpaṇihitaṃ
[chủ cách số ít của tính từ
hợp thể micchāpaṇihita (micchā +
paṇihita) quá khứ phân từ của động từ
paṇidahati] hướng tà,
khuynh hướng lầm lạc, nghiêng về sự sái quấy.
cittaṃ
[chủ cách số ít của danh từ
trung tính citta] tâm
thức, tư tưởng.
pāpiyo [bất biến từ (pāpa
+ iyo)] xấu hơn, tệ hơn.
naṃ
[= taṃ. Đối cách số ít nam
tính của chỉ thị đại từ ta]
nó, người ấy.
tato [trạng từ] từ đó.
Tato pāpiyo nghĩa là “tồi
tệ hơn đó”.
kare [động từ khả năng cách, =
kayirā] có thể làm, có
thể gây nên.
Việt văn:
(pc 42) cừu nhân hại cừu nhân điều gây tệ hại hơn chính là tâm hướng tà.
Chuyển văn:
Yaṃ taṃ diso
disaṃ kayirā verī vā pana verinaṃ micchāpaṇihitaṃ cittaṃ naṃ
tato pāpiyo kare.
Điều nào mà kẻ địch gây cho
kẻ địch hoặc cừu nhân gây cho cừu nhân, có điều gây tệ hại
hơn cho người ấy, tức là tâm hướng tà.
Lý giải:
Tâm hướng tà
(micchāpaṇihitaṃ cittaṃ) là tâm khuynh hướng theo ác bất
thiện pháp, khiến tạo nghiệp bất thiện như sát sanh, trộm
cướp, tà dâm, nói dối nói ly gián, nói độc ác, nói nhãm nhí,
tham ác, sân ác, tà kiến ác.
Điều bất lợi mà kẻ địch gây
cho đối phương như đốt phá nhà cửa, bắt bớ vợ con họ, thậm
chí là đã thương họ hoặc giết chết họ… những điều ấy kẻ địch
chỉ gieo tang tóc cho người đó trong một kiếp sống nầy thôi.
Nhưng một người với tâm thuật bất chánh đã tạo nghiệp thân,
nghiệp khẩu, nghiệp ý thì ác nghiệp ấy tạo quả khổ đau tang
tóc suốt những kiếp luân hồi, khó tránh khỏi,
Cũng thế, ác nghiệp tạo
bằng tâm tà vạy còn tệ hại hơn những kẻ oán cừu trả thù lẫn
nhau nữa, hậu báo nghiệp ác sẽ đẹo dai dẳng cho đến khi vô
dư y níp bàn mới dứt. Dù là bậc A la hán còn thân hữu dư y,
vẫn phải gặt quả xấu do nghiệp ác quá khứ Ngài đã làm, nói
chi là bậc hữu học và phàm phu. Phẩm Tâm_Kệ số 11 (dhp 43)
Duyên sự:
Bài kệ nầy được đức Phật
thuyết tại Jetavana Sāvatthi do câu chuyện của đại đức
Soreyya.
Chuyện rằng: trong thành
Soreyya có vị công tử con trưởng giả vào một buổi sáng cùng
với người bạn thân ngồi xe đi ra khỏi thành để tắm. Ngay lúc
ấy, trưởng lão Mahākaccāyana muốn vào thành Soreyya khất
thực, Ngài đứng ngoài thành vận mặc lại y cho tề chỉnh, lộ
thân thể màu da ánh sáng như vàng ròng. Công tử Soreyya
trông thấy Ngài, đã suy nghĩ: “phải chi vị trưởng lão nầy là
vợ của ta nhỉ! Hoặc, phải chi thân hình của vợ ta sáng đẹp
như thân hình vị trưởng lão ấy nhỉ!”.
Vừa khi công tử có tư tưởng
quấy như vậy thì nam căn biến mất và nữ căn hiện ra. Công tử
cảm nhận được nên hổ thẹn xuống xe chạy trốn đi theo con
đường đến Takkasila, mọi người tìm kiếm mãi không thấy đâu
nên tiếp tục đi tắm. Họ trở về nhà và báo tin công tử
Soreyya đã chết đuối. Gia đình công tử cùng nhau đi tìm xác
cũng không thấy, họ đau khổ
Nói về công tử Soreyya bị
biến đổi giới tính thành nữ, bỏ quê hương trốn đi, đến thành
Takkasila được một công tử cưới làm vợ.
Trước kia ở quê nhà đã có
vợ và được hai đứa con. Nay có chồng và sau đó sanh được hai
đứa con nữa. Soreyya hổ thẹn lắm.
Thời gian sau tình cờ gặp
lại người bạn thân đi đến Takkasila, Soreyya thú nhận với
bạn. Người bạn cho biết Ngài Mahākaccāyana đang trú tại
Takkasila và khuyên Soreyya sám hối Tôn giả.
Khi được Tôn giả
Mahākaccāyana nói xá lỗi cho thì Soreyya được chuyển lại
giới tính như xưa. Soreyya chán đời sống cư sĩ xin xuất gia
với Tôn giả Mahākaccāyana.
Tỳ kheo Soreyya nỗ lực tu
tập và sớm chứng đắc đạo quả A la hán.
Các tỳ kheo biết chuyện
Soreyya làm cha của hai đứa con và làm mẹ của hai đứa con,
nên thường hỏi ông thương con của vợ đẻ ra hay thương con
của tự mình đẻ? Trước đó Soreyya trả lời là thương con mình
đẻ nhiều hơn! Nhưng sau khi đắc quả vị A la hán thì Ngài
Soreyya trả lời không thương đứa con nào hết. Các tỳ kheo
hiểu lầm cho là Ngài vọng ngôn, bèn đem chuyện trình bày cho
đức Phật nghe. Đức Thế Tôn bảo, quả thật giờ đây Soreyya
không còn sự luyến ái nữa vì đã chứng Lậu tận, và đức Thế
Tôn nói thêm rằng tâm hướng thiện có thể đem lại điều tốt
đẹp mà không một người cha hay người mẹ hay quyến thuộc nào
có thể tạo cho được. Đức Thế Tôn đã nói lên bài kệ: “Na
taṃ mātā pitā kayirā … Điều mẹ cha thân quyến ..v.v..”.
Chánh văn:
(dhp 43) aññe vā pi ca ñātakā sammāpaṇihitaṃ cittaṃ seyyaso naṃ tato kare
Thích văn:
na
[phủ định từ] không, không
có.
taṃ
[đối cách số ít trung tính
của chỉ thị đại từ ta]
việc ấy, điều ấy.
mātā [chủ cách số ít của danh
từ nữ tính mātu] người mẹ
pitā [chủ cách số ít của danh
từ nam tính pitu] người
cha
aññe [chủ cách số nhiều nam
tính của đại từ añña]
khác, người khác.
vā [liên từ] hay là, hoặc là
pi [liên từ] cũng
ca [liên từ] và. Ở đây chỉ là
từ đệm.
ñātakā [chủ cách số nhiều của
danh từ nam tính ñātaka]
thân nhân, quyến thuộc.
sammāpaṇihitaṃ [chủ cách số ít trung tính
của tính từ hợp thể
sammāpaṇihita (sammā + paṇihita)] hướng chánh, có
khuynh hướng chân chánh, có khuynh hướng đúng đắn.
seyyaso
[bất biến từ
(seyya + so)] tốt hơn, hay hơn.
Việt văn:
(pc 43) cũng không thể làm được chính là tâm hướng chánh làm được điều tốt đẹp
Chuyển văn:
Taṃ mātā ca
pitā aññe vā ñātakā na kāyirā sammāpaṇihitaṃ cittaṃ naṃ tato
seyyaso kare.
Điều mà mẹ cha hay người
thân khác cũng không thể làm được, chính là tâm hướng chánh
tạo cho người ấy điều tốt đẹp.
Lý giải:
Tâm hướng chánh
(sammāpaṇihitaṃ cittaṃ) là tâm có khuynh hướng tốt, tâm
tương ưng căn thiện vô tham, vô sân, vô si; Để do tâm thiện
ấy mà tạo nhiều điều thiện như bố thí, trì giới, tu tiến,
cung kính, phục vụ ..v.v.. Và tác thành quả tốt đẹp
như sống an vui, được sanh cõi lạc, đắc chứng thiền định đạo
quả.
Những điều tốt đẹp ấy chỉ
có tâm hướng chánh mới làm được thôi. Người mẹ, người cha,
hay những người thân khác không thể ban cho mình sự hạnh
phúc nội tâm, không thể ban cho sự tái sanh nhàn cảnh, không
thể ban cho thiền định, không thể ban cho đạo quả níp bàn.
(Dứt phẩm thứ ba - Phẩm
Tâm) @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |