|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 05 tháng 07, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 97. CHÍ CẢ CỦA NGƯỜI TU. Kinh Nhà Gạch (Giñjakāvasathasuttaṃ) .
Có những cái tốt
khởi sự từ hạt giống ban đầu. Sẽ là điều may mắn lớn cho
những ai đi vào đời hay bắt đầu cuộc tu với chí hướng cao
đẹp. Như một lời cầu đạo trong nghi thức thọ sa di giới:
nguyện đoạn tất cả khổ và chứng ngộ niết bàn. Dù chưa giác
ngộ giải thoát nhưng có được bản nguyện cao quý sẽ có tác
động tích cực trong cái nhìn, cách suy nghĩ, và sự biểu lộ
của cuộc sống. Tất cả những cây lành trái ngọt đều cần hạt
giống lành.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā ñātike viharati giñjakāvasathe. Tatra
kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti.
‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā
etadavoca –
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại một ngôi nhà gạch ở Ñātika.
Bấy giờ Đức Thế Tôn lên tiếng: “Này chư Tỳ Khưu”. Chư tỳ
khưu trả lời; “Dạ, Bạch Thế Tôn”
Đức Thế Tôn dạy rằng:
‘‘Dhātuṃ, bhikkhave, paṭicca uppajjati saññā, uppajjati
diṭṭhi, uppajjati vitakko’’ti. Evaṃ vutte, āyasmā kaccāno
[saddho kaccāno (ka.)] bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘yāyaṃ,
bhante, diṭṭhi – ‘asammāsambuddhesu sammāsambuddhā’ti, ayaṃ
nu kho, bhante, diṭṭhi kiṃ paṭicca paññāyatī’’ti?
-- Này chư Tỳ Khưu, khuynh hướng sanh khởi nhận thức; do
nhận thức sanh khởi cái nhìn; do cái nhìn sanh khởi suy
luận.
(Dịch theo cổ văn: -- Này chư Tỳ
Khưu,
do duyên giới, tưởng sanh khởi, kiến sanh khởi, tầm sanh
khởi).
Được nghe vậy, Tôn giả Saddha Kaccāyana bạch Đức Thế Tôn:
-- Bạch Đức Thế Tôn, đối với những người không thật sự giác
ngộ, cái nhìn nầy sanh khởi: “đây là những bậc viên giác”.
Do duyên gì cái nhìn (sai lạc) ấy được minh thị?
‘‘Mahati kho esā, kaccāna, dhātu yadidaṃ avijjādhātu. Hīnaṃ,
kaccāna, dhātuṃ paṭicca uppajjati hīnā saññā, hīnā diṭṭhi,
hīno vitakko, hīnā cetanā, hīnā patthanā, hīno paṇidhi, hīno
puggalo, hīnā vācā; hīnaṃ ācikkhati deseti paññapeti
paṭṭhapeti vivarati vibhajati uttānīkaroti; hīnā tassa
upapattīti vadāmi.
-- Này Kaccāyana, khuynh hướng nầy thật trùm khắp tức là
khuynh hướng vô minh.
Này Kaccāyana, do khuynh hướng tầm thường sanh khởi nhận
thức tầm thường;
cái nhìn tầm thường; suy luận tầm thường, tác ý tầm thường,
ước vọng tầm thường, chí nguyện tầm thường, tư cách tầm
thường, ngôn ngữ tầm thường . Những gì vị ấy nói, thuyết
giảng, trình bày,
đề xướng, giải thích, phân tích, minh định đều tầm
thường. Ta nói sự tái sanh của vị ấy cũng tầm thường.
(Bản dịch của HT Minh Châu: -- Lớn thay, này Kaccāyana, là
giới này, tức là vô minh giới. Này Kaccāyana, do duyên liệt
(hīna) giới, liệt tưởng, liệt kiến, liệt tầm, liệt tư
(cetanā), liệt hy vọng (patthanā), liệt ước nguyện, liệt
nhân (puggalā), liệt ngữ sanh khởi. Liệt là điều vị ấy nói,
vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị ấy đề xướng, vị ấy hiển
thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên thị. Ta nói rằng liệt là
sự thọ sanh (uppatti) của vị ấy).
‘‘Majjhimaṃ, kaccāna, dhātuṃ paṭicca uppajjati majjhimā
saññā, majjhimā diṭṭhi, majjhimo vitakko, majjhimā cetanā,
majjhimā patthanā, majjhimo paṇidhi, majjhimo puggalo,
majjhimā vācā; majjhimaṃ ācikkhati deseti paññapeti
paṭṭhapeti vivarati vibhajati uttānīkaroti; majjhimā tassa
upapattīti vadāmi.
Này Kaccāyana, do khuynh hướng bậc trung sanh khởi nhận thức
bậc trung; cái
nhìn bậc trung; suy luận bậc trung, tác ý bậc trung, ước
vọng bậc trung, chí nguyện bậc trung, tư cách bậc trung,
ngôn ngữ bậc trung . Những gì vị ấy nói, thuyết giảng, trình
bày, đề xướng,
giải thích, phân tích, minh định đều bậc trung. Ta nói sự
tái sanh của vị ấy cũng bậc trung.
(Bản dịch của HT Minh Châu: Này Kaccāyana, do duyên trung
giới, trung tưởng, trung kiến, trung tầm, trung tư, trung hy
vọng, trung ước nguyện, trung nhân, trung ngữ sanh khởi.
Trung là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị
ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên
thị. Ta nói rằng trung là sự thọ sanh của vị ấy.)
‘‘Paṇītaṃ, kaccāna, dhātuṃ paṭicca uppajjati paṇītā saññā,
paṇītā diṭṭhi, paṇīto vitakko, paṇītā cetanā, paṇītā
patthanā, paṇīto paṇidhi, paṇīto puggalo, paṇītā vācā;
paṇītaṃ ācikkhati deseti paññapeti paṭṭhapeti vivarati
vibhajati uttānīkaroti; paṇītā tassa upapattīti vadāmī’’ti.
Này Kaccāyana, do khuynh hướng cao cả sanh khởi nhận thức
cao cả; cái nhìn
cao cả; suy luận cao cả, tác ý cao cả, ước vọng cao cả, chí
nguyện cao cả, tư cách cao cả, ngôn ngữ cao cả . Những gì vị
ấy nói, thuyết giảng, trình bày,
đề xướng, giải thích, phân tích, minh định đều cao
cả. Ta nói sự tái sanh của vị ấy cũng cao cả.
(Bản dịch của HT Minh Châu: Này Kaccāyana, do duyên thắng
giới, thắng tưởng, thắng kiến, thắng tầm, thắng tư, thắng hy
vọng, thắng ước nguyện, thắng nhân, thắng ngữ sanh khởi.
Thắng là điều vị ấy nói, vị ấy thuyết, vị ấy trình bày, vị
ấy đề xướng, vị ấy hiển thị, vị ấy phân biệt, vị ấy tuyên
thị. Ta nói rằng thắng là sự thọ sanh của vị ấy.)
Chú Thích Điểm
mấu chốt của bài kinh nầy dịch theo Sớ Giải. Nói cách khác
là lấy nghĩa hơn là văn. Chữ dhātu trong những bài kinh
trước được dịch là “giới” hay nguyên tố. Theo Sớ giải thì từ
kinh nầy về sau được hiểu là ajjhāsaya – khuynh hướng, khởi
niệm, sơ phát tâm. Bài
học nầy cũng ghi lại bản dịch của HT Thích Minh Châu vốn
dùng thuật ngữ theo văn cổ để tham khảo vì những lý do cần
thiết (…)
Tôn giả
Kaccāyana
ở đây được chú thích là Sabhiya Kaccanā theo Sớ Giải của Tam
Tạng Tích Lan còn được gọi là Sandha Kaccanā, một vị tỳ khưu
chỉ được nhắc tới hai tần trong Tam Tạng với rất ít chi
tiết. Câu
hỏi của Tôn giả Kaccāyana được Sớ Giải chú thích hơi tối
nghĩa theo hai cách: Một, tại sao tri kiến sanh khởi ở lục
sư ngoại giáo vốn không phải là bậc giác ngộ. Hai là tại sao
tri kiến sanh khởi ở những đệ tử trong lúc thầy của họ không
giác ngộ. Nguyên
văn của bài kinh dễ hiểu hơn Sớ Giải: Nếu do khuynh hướng
tạo nên nhận thức, cái nhìn, suy luận thì làm thế nào để
phân định giả, thật đối với sự giác ngộ?. Trong câu trả lời
Đức Phật dạy vô minh có ảnh hưởng trùm khắp. Tuy vậy phải
nói đến khuynh hướng của mỗi chúng sanh. Khuynh hướng tầm
thường, có trung bình, có cao cả. Từ khuynh hướng dẫn đến
nhận thức, quan điểm và cảnh giới mai hậu khác biệt. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |