|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 07, tháng 07, 2023 MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNGTHẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)
Kiccasangahe kiccāni nāma
paṭisandhi-bhavanga-āvajjanadassana-savana-ghāyana-sāyana-phusana-sampaṭicchana-santīraṇavotthapana-javana-tadārammaṇa-cutivasena
cuddasavidhāni bhavanti.
Paṭisandhi-bhavanga-āvajjana-pañcaviññāṇa-ṭṭhānādivasena
pana tesaṁ dasadhā ṭhānabhedo veditabbo 1. Kiết sanh thức (paṭisandhi) 2. Tiềm thức (bhavaṅga) 3. Khai môn (āvajjana) 4. Thấy (dassana) 5. Nghe (savana) 6. Ngửi (ghāyana) 7. Nếm (sāyana) 8. Xúc chạm (phusana) 9. Tiếp nhận (sampaṭicchana) 10. Kiểm tra (santīraṇa) 11. Xác định (votthapana) 12. Xử lý (javana) 13. Dư hưởng (tadālambana) 14. Mệnh chung (cuti) Nếu chia theo vị trí thì có 10 là kiết sanh thức, tiềm thức, khai môn, ngũ song thức….
Chú Thích
Chữ kicca có nghĩa là chức năng, phần hành hay phận sự. Đây
là những vai trò của tâm thức. Hiểu được những chức năng nầy
cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn về hoạt động của tâm và
những ảnh hưởng liên hệ. Chính những vai trò nầy phân định
rõ ràng vị thế của các loại tâm trong diễn trình tâm thức.
Đa số người học Thắng Pháp không tìm hiểu rõ ràng những vai
trò của tâm thức - đặc biệt là vai trò của tiềm thức
(bhavaṅga) – nên trong giáo trình nầy sẽ nhấn mạnh một số
điểm cần lưu tâm.
Tất cả tâm đều có chức năng.
Có tất cả là 14 chức năng của tâm thức: 2. Tiềm thức (bhavaṅga) 3. Khai môn (āvajjana) 4. Thấy (dassana) 5. Nghe (savana) 6. Ngửi (ghāyana) 7. Nếm (sāyana) 8. Xúc chạm (phusana) 9. Tiếp nhận (sampaṭicchana) 10. Kiểm tra (santīraṇa) 11. Xác định (votthapana) 12. Xử lý (javana) 13. Dư hưởng (tadālambana) 14. Mệnh chung (cuti)
Trong phần đầu sẽ nói về 3 chức năng: kiết sanh, tiềm thức
và mệnh chung vi cả ba có liên hệ mật thiết với nhau mặc dù
trong bảng liệt kê thì mệnh chung đặc ở cuối cùng. Cũng nên
lưu ý là phần nầy nói về chức năng của tâm nên đúng ra không
nên dùng chữ tâm hay thức mà chỉ nên nói về phần hành tuy
nhiên đôi khi dùng chữ thức như kiết sanh thức hay tiềm thức
để dễ nói.
Kiết sanh thức (paṭisandhi) kết nối giữa kiếp sống nầy và
kiếp sống khác. Chữ kiết sanh dịch theo nguyên nghĩa chữ
paṭisandhi mang ý nghĩa kết nối giữa hai đời. Ngài Tịnh Sự
dịch là tục sanh có nghĩa là tâm kế tục dòng sanh tử.
Kiết sanh thức do nghiệp lực chiêu cảm nên rất nhanh chóng
không có trường hợp “đi tìm chỗ thọ sanh”. Thắng Pháp nói
riêng và Tam Tạng Pàli nói chung không nói về một trạng thái
trung ấm hay trung hữu (majjhibhava) giữa hai kiếp sống.
Có 19 tâm làm việc kiết sanh là hai tâm kiểm tra, 8 tâm quả
dục giới tịnh hảo, 5 tâm quả sắc giới và 4 tâm quả vô sắc.
Tâm kiết sanh chỉ có
một sát na nhưng có ảnh hưởng toàn bộ kiếp sống. Tiếp
sau đó những tâm tiềm thức và tâm mệnh chung cùng một loại
tâm với phần hành khác biệt.
Tâm kiết sanh quyết định chủng loại, căn tánh, và đời sống
vui khố do nghiệp quá khứ chi phối (…)
Chúng sanh cõi vô tưởng sanh không tục sanh bằng kiết sanh
thức.
Tiềm thức (bhavaṅga)
là tâm tiềm tàng của đời sống khi không có hoạt thức
sanh khởi. Ngài Tịnh Sự dịch là tâm hộ kiếp nghĩa là gìn giữ
đời sống do năng lực của nghiệp (trì nghiệp). Hoà thượng
Thích Minh Châu dịch là tâm hữu phần lấy theo nguyên ngữ
bhava + aṅga có nghĩa là thành tố của sanh hữu.
Tiềm thức cùng một loại tâm với kiết sanh thức. Nói cách
khác kiết sanh thức bằng loại tâm nào thì tiềm thức bằng
loại tâm đó.
Lúc ngủ thật sâu không chiêm bao là lúc tiềm thức hiện hữu
liên tục. Trong đời sống hằng ngày thì sự chen lẫn giữa tiềm
thức và hoạt thức rất khó phân biệt vì sự vi tế. Trong
trường hợp tiềm thức là các tâm quả hữu nhân thì trạng thái
giống như các tâm thiện nhưng cảnh muội lược hơn (…)
Tiềm thức có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống. Tiềm thức thọ hỷ
thì bản tính vui vẻ, thọ xả thì bản tính điềm đạm. Tiềm thức
ly trí thì không có bén nhạy trong thẩm định và không có khả
năng chứng thiền, đắc đạo. Tiềm thức là tâm quả vô trợ thì
nhậm lẹ; hữu trợ thì chậm lụt.
Có thứ tiềm thức trung giới làm việc như “trái độn” (ngài
Tịnh Sự gọi là hộ kiếp khách) thì khác loại tâm (….)
Phật giáo Bắc Truyền không đề cập đến diễn trình tâm nên
không nói về bhavaṅga nhưng nói về tàng thức hay a lại da
thức với nhiều điểm tương đồng thú vị.
Ở đây chỉ nói ngắn gọn là các tâm tiềm thức hữu nhân
tuy là “một phiên bản” của tâm thiện trong quá khứ có lưu
lại “một số dấu ấn của quá khứ” nhưng không là tất cả như
tàng thức trong Duy Thức hay A Tỳ Đàm Câu Xá (….)
Mệnh chung (cuti) hay tâm tử là tâm sau cùng của kiếp sống
nhưng không phải đơn thuần “xuất hiện sau cùng nên không làm
gì cả” mặc dù đúng là loại tâm giống như tiềm thức và cũng
chiêu cảm nghiệp lực.
Nên hiểu là theo kinh điển có ba hiện tượng chết như cây đèn
tắt vì tim lụn được ví cho cái chết tự nhiên theo chủng loại
(loại chúng sanh đó chỉ có thể sống lâu nhất chừng đó); đèn
tắt vì hết dầu ví dụ cho chúng sanh chết vì hết phước hoặc
hết ảnh hưởng của ác nghiệp; đèn tắt vì gió thổi ví dụ cho
một thứ “đoạn nghiệp” mạnh cắt ngang mạng sống. Cần hiểu ba
thí dụ trên để thấy rằng tâm tử hay tâm mệnh chung không đơn
giản chỉ là thứ tiềm thức sau cùng.
Cũng nên hiểu rằng theo nghiệp báo thì không có cái chết gọi
là “chết oan” và cũng không được quyết định bởi Diêm chúa.
Nói một cách tổng quát thì cả ba kiết sanh thức, tiềm thức
và tử thức đều là sự chiêu cảm rõ nét của nghiệp lực.
Bài học ngày 7.7.2023
Năm chức năng của ngũ quan là thấy (dassana),
nghe (savana), ngửi (ghāyana), nếm (sāyana), xúc
chạm (phusana)
được gom chung một phần vì những đặc tính giống nhau.
Theo Thắng Pháp thì ngũ quan (thị giác, thính giác, khứu
giác, vị giác, xúc giác) nhận biết năm cảnh sắc, thinh,
khí, vị, xúc ở giai đoạn nguyên sơ chứ chưa có xử lý hay
phản ứng. Nói cách khác những cái gọi là sắc đẹp, tiếng
hay, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc hay năm cảnh
xấu ngược lại đã định dạng ở ngay khi căn tiếp xúc với
cảnh chứ không cần chờ tới sự xử lý nhồi nặn sau đó của
tâm thức. Ở mức độ nầy thì cảnh tốt xấu không là sản
phẩm của tâm hay có sự khác biệt giữa phàm thánh, ngu
nhân trí giả.
Bởi vì năm cảnh của ngũ quan trong giai đoạn nguyên sơ
đã định hình cảnh tốt xấu nên ngũ qua theo Thắng pháp
luôn luôn là chiêu cảm nghiệp lực: hoặc là quả bất thiện
trong trường hợp cảnh xấu hoặc là quả thiện trong trường
hợp cảnh tốt hay cảnh không xấu. Không có trường hợp
không bị chi phối bởi nghiệp và cũng không có trường hợp
không thuộc về quả thiện hay quả bất thiện.
Ngũ quan tuy muội lược nhưng mở ra thế giới ngoại tại
của tâm thức nên có chi phối lớn trong đời sống chúng
sanh. Năm cảnh ngoại nầy tạo thành căn tánh cố hữu của
chúng sanh trong đời. Rất ít người có khả năng tu và
chứng thiền vượt khỏi sự chi phối và lệ thuộc đối với
năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc do vậy năm cảnh của
ngũ quan trong Phật học gọi là năm dục trưởng dưỡng
(kàmaguna) hay ngũ dục; có khi cũng gọi là ngũ trần có
nghĩa là năm thứ bụi là nhơ tâm.
Nên phân biệt rõ năm cảnh ngoại (hay năm cảnh ngũ) với
cảnh pháp. Đây là trường hợp thường bị nhầm lẫn. Khi
cảnh ngũ trở thành quá khứ thì là cảnh pháp thí dụ như
cụm từ lấy từ một câu thơ: hương gây mùi nhớ. Thí dụ
khác khi nghe một bản nhạc bolero thì thính giác chỉ
nhận biết âm thanh lớn nhỏ, êm dịu.. còn thể loại nhạc
gì thuộc về sự nhận định của ý thức lúc đó âm thanh đã
trở thành cảnh pháp.
Trong bảng liệt kê 14 chức năm của tâm thì năm chức năng
thấy, nghe, ngữi, nếm, đụng xếp thứ tự từ số 4 đến số 8
năm sau khai môn (āvajjana). Nhưng trong giáo trình nầy
để trước chức năng khai môn vì chức năng nầy và những
chức năng còn lại cần được giảng chung để hiểu về diễn
trình của tâm thức (…)
Cho đến nay đã có 8 chức năng của tâm được đề cập đến là
kiết sanh thức, tiềm thức, tử thức và ngũ song thức (hay
ngũ quan). Trong cuộc sống hằng ngày thì tiềm thức
(bhavaṅga) có thể xem là sự
tồn tại của đời sống khi không có những “hoạt thức” sanh
khởi. Ngũ quan là một loại hoạt thức. Tất cả những chức
năng được kể dưới đây cũng đều thuộc hoạt thức: khai môn
(āvajjana), tiếp nhận (sampaṭicchana), kiểm tra
(santīraṇa), xác định (votthapana), xử lý (javana), dư
hưởng (tadālambana). Trước khi đi vào từng chức năng cần
nêu lên vài điểm sau:
Tâm thức sanh diệt và diễn tiến với tốc độ cực nhanh.
Trong một tíc tắc có triệu triệu sát na sanh diệt nối
tiếp nhau. Với tốc độ đó không thể hiểu những diễn biến
theo cái nhìn bình thường mà phải hiểu theo cách vĩ mô.
Giòng tâm thức là sự pha trộn của cả hai tiềm thức và
hoạt thức xen kẻ lẫn nhau. Một “chập” hoạt thức dài nhất
chỉ 17 sát na trong triệu triệu sát na của một khoảnh
khắc.
Tiềm thức (bhavaṅga) là loại tâm quả sanh ra do nghiệp
lực quá khứ trong lúc hoạt thức hỗn hợp cả những tâm
quả, tâm tạo quả và tâm cơ năng phi nhân phi quả.
Rất nhiều tâm với chức năng máy móc được đề cập trong
Thắng Pháp Abhidhamma chỉ là hiện tượng tự nhiên
(cittaniyama) chứ không mang màu sắc tôn giáo, triết lý,
hay luận lý. Về điểm nầy phần lớn Thắng Pháp Abhidhamma
có thể hiểu như một thứ “khoa học tự nhiên”.
Sáu chức năng sau đây cần được hiểu như những vai trò
cần thiết của hoạt thức khi tiếp xúc cảnh:
Khai môn (āvajjana)
đây là chức năng ngưng dòng hiện hữu của tìm thức
và khởi sự cho các hoạt thức sanh khởi giống như trong
một công ty hay một gia đình giàu có khi có tiếng bấm
chuông thì có người trách nhiệm ra cửa xem là ai. Đôi
khi còn được dịch là “khán môn” đúng theo từ āvajjana có
nghĩa là hướng tâm đến cảnh. Trong trường hợp năm cảnh
ngoại là sắc, thinh, khí, vị, xúc hiện khởi thì tâm khai
môn là
tâm khán ngũ môn
(pañcadvārāvajjana) và trong trường hợp cảnh pháp hiện
khởi thì tâm khai môn là
tâm khán ý môn
(manodvārāvajjana).
Tiếp nhận (sampaṭicchana)
là tâm sanh sau ngũ song thức (ngũ quan) là sự đón nhận
cảnh như nhân viên làm việc ở bàn lễ tân (reception).
Tâm nầy cũng là một thứ tâm quả chiêu cảm nghiệp lực
giống như ngũ song thức.
Kiểm tra (santīraṇa)
là tâm xem xét cảnh như một nhân viên có trách nhiệm tìm
hiểu sơ bộ về khách vừa đến. Tâm nầy cũng là một thứ tâm
quả chiêu cảm nghiệp lực giống như ngũ song thức và tâm
tiếp nhận.
Xác định (votthapana)
đây là tâm chuyển tiếp từ sự thu thập dữ kiện sơ bộ
(kiểm tra) để chuyển sang giải quyến (xử lý). Đây là vai
trò hoàn toàn máy móc không chiêu cảm bởi nghiệp lực dù
là quả nghiệp hay nhân tạo nghiệp. Tâm là việc xác định
là tâm khán
ý môn (manodvārāvajjana)
Xử lý (javana)
đây chính là tâm phản ứng, thụ lý hay “hưởng cảnh”.
Chính giai đoạn nầy của hoạt thức tạo nghiệp nếu là
chúng sanh chưa đoạn tận vô minh và ái dục. Khâu xử lý
thường khi có 7 sát na (lại là con số 7 thú vị (…) xuất
hiện nhiều nơi). Tâm nầy không phải là quả của nghiệp mà
chính là nghiệp. Có thể nói ý chí tạo tác nằm ở đây.
Không có một chữ dịch tương đương cho thuật ngữ javana.
Trong Phạn ngữ, javana nghĩa là chạy nhanh với lực mạnh
đôi khi dịch là đổng tốc, đổng lực, tốc hành tâm. Ngày
xưa Ngài Tịnh Sự còn dịch là “tâm thực” với ý nghĩa
hưởng cảnh.
Dư hưởng (tadālambana)
là tâm bắt cảnh tồn đọng khi cảnh là ấn tượng mạnh. Tâm
nầy sanh sau các tâm xử lý (javana). Ngài Tịnh Sự trước
kia xài nhiều chữ dịch cho chức năng nầy là tâm mót,
thập di, na cảnh. HT Minh Châu dịch là “đồng sở duyên
tâm” có nghĩa là cùng cảnh với tâm xử lý.
Để hiểu và nhớ rõ thêm về các chức năng của hoạt thức
chúng ta nên nhắc lại thí dụ cổ điển sau đây được tìm
thấy trong hầu hết sách dạy Thắng Pháp Abhidhamma:
Một người nằm ngủ dưới gốc cây xoài, một trái xoài rớt
xuống và lăn đến bên mình người ấy. Người ấy giựt mình
ngồi dậy và tìm biết cái gì đã làm mình giựt mình thức
giấc. Người này thấy trái xoài, lượm lên, ngửi và xem
xét trái xoài. Biết trái xoài đã chín, người ấy ăn trái
xoài. Khi ăn xong, người ấy còn cạp thêm vài cái mới bỏ
hột xoài ra và nằm xuống ngủ tiếp.
- Người đang ngủ" chỉ cho trạng thái thụ động của tâm
thức, đang trôi chảy không có gì làm giao động, trạng
thái này gọi là Hộ kiếp (Bhavaṅga) hoặc Hữu Phần hay
tiềm thức.
- Ngồi dậy và tìm biết cái gì đã làm mình thức giấc" chỉ
cho trạng thái muội lược của tâm thức, khi tâm thức đang
tìm xem ngoại trần kích thích mình thuộc về mắt, tai,
mũi, lưỡi hay thân. Tâm này gọi là tâm Khán ngũ môn
(Pañcadvārāvajjana) hay Ngũ Môn Hướng tâm.
- "Thấy trái xoài" chỉ cho sự sanh khởi của thức hoặc
thuộc về mắt, hoặc thuộc bốn căn khác. Thức này hoàn
toàn thuần túy, không có một chút suy tư gì cả (thọ xả).
- "Lượm trái xoài" chỉ cho trạng thái của tâm thức, lảnh
thọ sự kích thích của ngoại vật. Tâm này gọi là tâm tiếp
nhận (sampaticchana)
-“ Ngữi và xem xét trái xoài" chỉ cho trạng thái của tâm
thức suy nghĩ và tìm hiểu đối tượng bằng những kinh
nghiệm quá khứ của mình. Tâm này gọi là tâm kiểm tra
(santīrana) .
- "Xác định trái xoài đã chín" chỉ cho tâm thức xác định
vị trí của đối tượng theo sự hiểu biết của mình. Tâm này
gọi là tâm xác định (voṭṭhapana) .
- "Ăn trái xoài" chỉ cho tâm thức xử sự với đối tượng.
Ðây là trạng thái tâm thức quan trọng nhất, chính nghiệp
thiện hay bất thiện được thành đạt ở thời điểm này. Tâm
này được gọi là tâm xử lý (Javana).
- "Cạp thêm vài cái" chỉ trạng thái tâm thức tiếp tục
đối xử với cảnh còn lại, trạng thái này giống như tâm
Ðổng Tốc nhưng không có khả năng tạo quả nên được gọi là
tâm dư hưởng (Tadālambana).
- “Nằm ngủ tiếp" chỉ trạng thái của tâm thức sau khi lộ
trình tâm chấm dứt, trở về lại với trạng thái tiềm thức.
(Thí dụ trên được trích từ “Vi Diệu Pháp Giảng Giải” của
Pháp sư Giác Chánh với sự thay đổi về tên các chức năng
để phù hợp với giáo trình)
Người học Thắng Pháp Abhidhamma cần nhớ rõ chức năng nào
của tâm thức thuộc về tâm nào và ngược lại tâm nào làm
chức năng nào. Nắm vững hai mặt nầy sẽ có một khái niệm
rõ tại sao có tới 121 tâm và những hiện tượng hỗn hợp
trong cuộc sống của chúng sanh.
Trước nhất ba chức năng kiết sanh thức (paṭisandhi),
tiềm thức (bhavaṅga), tử thức(cuti) là vai trò của những
thứ tâm quả: 2 tâm kiểm tra (thuộc tâm quả vô nhân), 8
tâm quả dục giới tịnh hảo, 5 tâm quả sắc giới và 4 tâm
quả vô sắc giới. Quy luật cố hữu là kiết sanh thức, tiềm
thức, tử thức trong một kiếp sống luôn luôn cùng một thứ
tâm. Nói cách khác, sanh bằng tâm nào thì tiềm thức và
mệnh chung bằng tâm đó. Đây là định luật không bao giờ
thay đổi. Tâm kiểm tra quả bất thiện (santīraṇacitta)
làm việc kiết sanh, tiềm thức, mệnh chung cho chúng sanh
trong khổ cảnh như địa ngục, ngạ quỷ.. tuy là thọ xả cho
thấy khía cạnh “vắng mặt của hạnh phúc” chính là sự đau
khổ thường xuyên.
Năm chức năng của ngũ quan (thị giác, thính giác, khứu
giác, vị giác, xúc giác) là vai trò của ngũ song thức:
cặp nhãn thức, cặp nhĩ thức, cặp tỷ thức, cặp thiệt
thức, cặp thân thức. Ngũ quan tuy là sự nhận thức của
tâm đối với ngoại giới nhưng sự nhận biết nầy sơ khởi,
trực tiếp đối với cảnh nên chưa qua sự nhồi nặn, xử lý
nên năm thức nầy tương đối muội lược so với nhiều thứ
tâm khác. Cảnh tốt xấu của ngũ song thức theo Thắng Pháp
hoàn toàn do nghiệp lực chi phối.
Chức năng khai môn là vai trò của hai tâm khai ngũ môn
và khai ý môn. Đây là vai trò hoàn toàn máy móc nên
không phải là thứ tâm tạo nghiệp hay là quả của nghiệp.
Chức năng tiếp nhận là vai trò của hai tâm tiếp nhận.
Chức năng nầy là máy móc nhưng tiếp theo sau ngũ song
thức nên cũng có phân quả bất thiện, quả thiện tức là bị
chi phối bởi nghiệp lực (do ‘ăn theo” ngũ song thức)
Chức năng kiểm tra là vai trò của hai tâm kiểm tra.
Giống như tâm tiếp nhận, chức năng nầy cũng bị chi phối
bởi nghiệp lực.
Chức năng xác định là vai trò của tâm khai ý môn. Đây là
tâm chính thức khai mở cho vai trò xử lý của nội tại.
Chức năng xử lý là vai trò của tâm sinh tiếu, 12 tâm bất
thiện, 8 tâm thiện dục giới tịnh hảo, 5 tâm thiện sắc
giới, 4 tâm thiện vô sắc giới, 40 tâm siêu thế. Những
tâm xử lý cảnh có thể bị ảnh hưởng bởi quá khứ như thói
quen hay các suy nghĩ trong hiện tại như chánh tư niệm
hoặc do hoàn cảnh như người thân cận tuy nhiên hoàn toàn
không do nghiệp lực quá khứ chi phối (theo tác động nhân
quả) đây là một mấu chốt rất quan trọng của Phật pháp
đối với quan niệm tiền định, số mạng, thiên định.
Chức năng dư hưởng là vai trò của 3 tâm kiểm tra, 8 tâm
quả dục giới tịnh hảo. Chức năng nầy cho thấy tánh cách
“tự nhiên” trong hiện tượng tâm pháp chứ không nằm trong
chủ định “lập thuyết” tìm thấy trong nhiều bộ luận.
Trong cái nhìn đối chiếu tâm nào có chức năng nào thì có
liệt kê như sau: Tâm nhĩ thức có chức năng thính giác. Tâm tỷ thức có chức năng khứu giác. Tâm thiệt thức chức năng vị giác. Tâm thân thức có chức năng xúc giác. Tâm tiếp nhận có chức năng tiếp nhận. Tâm kiểm tra có chức năng kiểm tra, kiết sanh thức, tiềm thức, tử thức, dư hưởng. Tâm khai ngũ môn có chức năng khai môn Tâm khai ý môn có chức năng khai môn và xác định. Tâm sinh tiếu có chức năng xử lý. Tâm bất thiện có chức năng xử lý Tâm thiện dục giới có chức năng xử lý Tâm quả dục giới tịnh hảo có chức năng kiết sanh thức, tiềm thức, tử thức, dư hưởng. Tâm duy tác dục giới tịnh hảo có chức năng xử lý Tâm thiện và tâm duy tác sắc giới, vô sắc giới có chức năng xử lý. Tâm quả sắc giới và vô sắc giới có chức năng kiết sanh thức, tiềm thức, tử thức. Tâm đạo và tâm quả siêu thế có chức năng xử lý.
Tỳ kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |