BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, 24 tháng 07, 2023

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

PHẦN II-PHẬT PHÁP

Bài 37- Hạnh Phúc Theo Phật Pháp- - HỶ VÀ LẠC.

Hạnh phúc là đề tài lớn và quan trọng trong Phật Pháp. Có thể nói không sợ sai lầm là sự thực hành lời Phật dạy không thể tách biệt với hạnh phúc. Nhưng cũng phải nhấn mạnh điểm nầy là hạnh phúc theo Phật Pháp có nhiều thứ, nhiều loại từ thấp đến cao, từ cái tầm thường đến hạnh phúc tối thượng. Ngài Payutto làm một sưu tập về hạnh phúc được tìm thấy trong Tam Tạng Pāli. Dưới đây là một phần của bản liệt kê:
• Hạnh phúc tiêu thụ (paribhoga-sukha; upabhoga-sukha).
• Hạnh phúc giàu có (bhoga-sukha).
• Hạnh phúc của thân xác (kāya-sukha; kāyika-sukha).
• Hạnh phúc của tâm thức (citta-sukha; cetasika-sukha).
• Hạnh phúc của dục lạc (kāma-sukha).
• Hạnh phúc vật chất (sāmisa-sukha; āmisa-sukha).
• Hạnh phúc tinh thần (nirāmisa-sukha).
• Hạnh phúc của mùa tiết (utu-sukha).
• Hạnh phúc của danh vọng (kitti-sukha).
• Hạnh phúc của phàm phu (puthujjana-sukha).
• Hạnh phúc của con người (manussa-sukha).
• Hạnh phúc của thiên giới (dibba-sukha).
• Hạnh phúc của phần đông (mahājana-sukha).
• Hạnh phúc hoàn vũ (sabbaloka-sukha).
• Hạnh phúc của đắm say (madhura-sukha).
• Hạnh phúc hiền thiện (kusala-sukha).
• Hạnh phúc như pháp (dhammika-sukha).
• Hạnh phúc tu tập (bhāvanā-sukha).
• Hạnh phúc lâu dài (nicca-sukha).
• Hạnh phúc trầm luân (saṁsāra-sukha).
• Hạnh phúc của nỗ lực (yoga-sukha).
• Hạnh phúc thế gian (lokiya-sukha).
• Hạnh phúc xuất thế (lokuttara-sukha).
• Hạnh phúc luân hồi (vaṭṭa-sukha).
• Hạnh phúc không còn sanh tử (vivaṭṭa-sukha).
• Hạnh phúc thô thiển (oḷārika-sukha).
• Hạnh phúc tế nhị (sukhuma-sukha).
• Hạnh phúc của định (samādhi-sukha).
• Hạnh phúc của thiền (jhāna-sukha).
• Hạnh phúc của tuệ quán (vipassanā-sukha).
• Hạnh phúc của thánh nhân (ariya-sukha).
• Hạnh phúc của phàm nhân (anariya-sukha).
• Hạnh phúc của độc cư (viveka-sukha).
• Hạnh phúc của an tịnh (santi-sukha).
• Hạnh phúc của thanh thản (vimokkha-sukha).
• Hạnh phúc của giải thoát (vimutti-sukha).
• Hạnh phúc của đại ngộ (sambodhi-sukha).
• Hạnh phúc tối thượng (parama-sukha).
Với những ghi nhận trên từ kinh điển cho thấy hạnh phúc không phải chỉ là đề tài lớn mà vô cùng quan trọng mà người học Phật cần tìm hiểu thấu đáo. Phải có đủ sự tỉnh táo, cởi mở để chấp nhận những trạng thái hạnh phúc khác nhau mà đôi khi đối lập giữa cái không và cái có; giữa vật chất và tinh thần; giữa sanh tử và niết bàn. Không chỉ cảm nhận bằng suy tư mà cần đến sự tu tập thực chứng để nhìn thấy nhiều chiều kích khác nhau của hạnh phúc.

Bài học ngày 10.7.2023

HẠNH PHÚC LÀ GÌ?

Để tạo hạnh phúc trước hết cần hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của hạnh phúc. Nói một cách ngắn gọn, hạnh phúc là thành tựu ước muốn và nhu cầu được đáp ứng, hoặc nói ngắn hơn,  là sự thoả mãn, như ý. Định nghĩa nầy không thể gọi là hoàn toàn nhưng bao gồm ý nghĩa rộng lớn nhất.  Đây là định nghĩa về hạnh phúc mà phần đông chúng sanh tự giới hạn. Đa số không cảm nhận hạnh phúc vượt ngoài ý nghĩa nầy.

Muốn tắm rửa và và được tắm rửa khiến một người hạnh phúc. Muốn ăn và được ăn khiến một ngoùi hạnh phúc. Một đứa trẻ muốn vui đùa và được vui đùa là điều hạnh phúc. Đây là sự thành tựu điều mong muốn và thoả mãn nhu cầu.

Trong lãnh vực ngôn ngữ thì ước muốn và nhu cầu là hai điều khác nhau. Nhưng trong phạm vi của bài viết nầy thì thỉnh thoảng được sử dụng như tương đồng.

Trong định nghĩa hạnh phúc là sự thoả mãn ý muốn, rất cần thiết để định nghĩa bản chất tự nhiên của ý muốn. Ý muốn là một đề tài rất rộng. Đức Phật dạy: “Tất cả pháp bắt nguồn từ ý muốn (chandamūlaka sabbe dhammā) (Tăng Chi Bộ I - X, 58). Điều nầy hàm nghĩa tất cả những gì con người thực hiện đều khởi sự từ ý muốn.

Do vậy có hai điều cần thiết để đạt được hạnh phúc là: Một là hiểu rõ bản chất tự nhiên của ý muốn. Hai là nếu hạnh phúc là sự mãn nguyện thì cả hai ý muốn và hạnh phúc đều cần sự vun bồi.

Sự mơ hồ và lầm lẫn về ý muốn cản trở con người thấy rõ sự việc, không thể định hướng, và không giải quyết các vấn đề một cách thiết thực. Một người không hiểu rõ mình thật sự muốn gì thì không bao giờ có thể bắt tay tạo dựng hạnh phúc một các cụ thể.

BẢN CHẤT VÀ SỰ QUAN TRỌNG CỦA Ý MUỐN

Thuật ngữ Phật học chỉ cho ý muốn là từ ngữ tế nhị cần xác lập ý nghĩa rõ ràng. Chữ chanda có thể dịch là mong muốn, ước nguyện, hy vọng. Trong từ ngữ Phật học Hán Việt thì chanda có thể dịch là hy cầu, nguyện vọng, hoặc ngắn gọn là dục.

Chữ chanda được dùng rất rộng rãi trong văn học Phạm ngữ và Phật học. Kāmachanda là sự ham muốn dục lạc. Nekkhammachanda là ước muốn ly dục; paribhogachanda là ước muốn hưởng thụ; dhammachanda là pháp dục.

Trong kinh điển chữ chanda được chia thành hai:

1.    Khát dục (taṇhāchanda) là sự mong muốn đạt được, muốn chiếm hữu, muốn trở thành, muốn huỷ diệt.

2.    Tác dục (kattukamyatā) là ý muốn hành động, ý muốn nhập cuộc, ý muốn sáng tạo, ý muốn cải thiện, ý muốn học hỏi, ý muốn tôi luyện, kể cả ý muốn tu tập.

Khát dục là pháp bất thiện (akusalachanda); tác dục là thiện (kusalachanda) hoặc trung tính.

Nhưng cách dùng thường khi đòi hỏi sự tinh nghĩa vì trong sự cách dùng cũng như dịch thuật thường có khuynh hướng xem dục là tiêu cực nên có những từ ly dục, diệt dục… trong lúc chanda mang cả hai ý nghĩa tích cực cũng như tiêu cực.

Những nhà Sớ Giải thường sử dụng chữ patthanā – hy cầu, ước nguyện để có vẻ trung lập hơn nhưng rồi cũng rơi vào trường hợp chữ chanda vì cũng tạo nên hai thuật ngữ: Taṇhāchanda (ái trước) và chandapatthanā (hoài bảo). Đây là trường hợp “mèo lại hoàn mèo”.

Nên lưu ý có nhiều Phật tử khi nói đến “dục” thì mặc nhiên xem đó là tiêu cực, là điều cần phải tránh, phải diệt.  Trong lúc nói đến “nguyện” thì mặc nhiên xem là tốt. Kỳ thật thì dục và nguyện đều có thể dùng để dịch chữ chanda.

Bài học ngày 17.7.2023

HỶ VÀ LẠC

Trong phân tích rõ nét hơn về hạnh phúc, Phật pháp dạy về hỷ (pīti) và lạc (sukha). Như đã đề cập, hạnh phúc được hiểu là sự mãn nguyện hay ước vọng được thành tựu. Từ ước vọng đến sự thành tựu có một trạng thái cần được biết tới là hỷ (pīti) hay sự hân hoan. Trạng thái nầy có thể lầm lẫn với hạnh phúc (sukha - lạc) mà cũng có thể lầm lẫn với sự mong muốn. Trong Tam Tạng và Sớ giải thường dùng thí dụ sau đây để phân biệt ước muốn, hân hoan, và hạnh phúc (thuật ngữ gọi là dục, hỷ, và lạc)

Như một người hành trình giữa sa mạc đã cạn nước dự trữ mang theo đang bị cơn khát hoành hành. Bấy giờ mong ước tìm được nước và cố gắng đi tới. Đến một lúc nhìn thấy một ốc đảo từ xa với những cây xanh biết là đó là nơi có thể tìm thấy nước. Mặc dù kiệt sức nhưng do biết được sắp có nước nên tâm trên nên hăng hái và thân như có thêm sinh lực để đi tới. Cuối cùng người lữ hành đang bị khô khát đã đến được ốc đảo và trầm mình trong hồ nước cũng như uống nước thoả mãn sự nóng khát.

Hết nước và nóng khát nên mong mỏi tìm được nước là dục (chanda). Thấy ốc đảo từ xa biết là sắp có nước nên lòng sung sướng là hỷ (pīti). Trạng thái thoả mãn khi uống nước và ngâm mình trong hồ không còn bị nóng khác bức bách là lạc (sukha).

Cần hiểu là ước muốn chỉ là hy vọng có thể là ảo vọng như một người ao ước được trúng số độc đắt để trở nên giàu có. Hy vọng có thể định hướng cuộc sống nhưng cũng có thể là hoang tưởng thiếu thực tế. Một số các tôn giáo thường nói đến “thiên đường mai sau” hay “vườn địa đàng được tái tạo” như là niềm hy vọng tối hậu cho cuộc sống.

Sự hân hoan hay hỷ là thứ hạnh phúc chân thực vì ý muốn sắp hiện thực với cơ sở đủ rõ ràng. Điều nầy có phần gần với “sự hưởng thụ quá trình”. Như một người thích ăn tết trong lúc dọn dẹp trang trí nhà cửa, mua sắm hoa trái, nấu nướng thức ăn… với niềm vui đón tết.  Hỷ hay sự hân hoan thật sự theo Phật pháp là trạng thái dẫn tới sự lắng dịu những bồn chồn, nghi hoặc, căng thẳng do khát vọng tạo nên. Sự lắng dịu nầy Phật pháp gọi là passaddhi – an tịnh.

Trong rất nhiều mô tả trong kinh điển thì sự an tịnh là cầu nối giữa hỷ và lạc. “có giao động thì không có khinh an; trái lại sự an tịnh tạo nên khinh an”. Sự mong ước hay khát vọng thường tạo nên những hoang mang, lo lắng, căng thẳng, giao động. Có khi do do quá mong muốn tạo nên những bắt buộc, miễn cưỡng nội tại và đánh mất sự thanh thanh thản. Sự an tịnh thực sự khi những trạng thái tiêu cực được thay thế bằng trạng thái lành mạnh.

Niềm hy vọng có thể là động lực cho cuộc sống mà cũng có thể tạo nên sự thất vọng to lớn. Điều nầy dẫn tới sự buồn nãn, đau khổ hơn là hạnh phúc. Cần phân biệt ước vọng (chanda) lành mạnh là sự hy vọng đi với hiểu biết trong lúc sự khát ái (taṇhā) chỉ là khao khác hưởng thụ hay chiếm hữu. Như một người bỏ việc làm đi ăn nhậu với bạn bè đó là taṇhā chứ không phải chanda.

Cũng nên hiểu thêm về một khía cạnh quan trọng của lạc là sự an tịnh (santi). Đây là trạng thái hoàn toàn thoả mãn không còn những “lấn cấn”. Thí dụ một người ao ước có được một chiếc xe đắt tiền. Khi có được thì nhận ra chi phí bảo trì quá cao, tiền bảo hiểm là khoản tiền lớn, đi đâu cũng lo sợ bị cọ quẹt.. Hạnh phúc không trọn vẹn không có sự an tịnh.

Bài học ngày 24.7.2023

TÁNH PHỨC TẠP TRONG MƯU CẦU HẠNH PHÚC

Con đường dẫn tới hạnh phúc, dù là xuất thế hay hiệp thế, thì đều pha lẫn giữa áp lực và sự thoả mãn; giữa thành công và thất bại; giữa cái cái có được và gánh nặng đeo mang. Một người có trí luôn ý thức rõ là không thể chỉ có hạnh phúc mà không có cái giá phải trả mà cái gì đạt được đều gồm “trọn gói”.

Thái độ cầu toàn giữa cuộc sống bất toàn thường tạo nên thất vọng. Một trong những khía cạnh quan trọng trọng của ước muốn là mong có được cái hoàn hảo như ý. Mua một chiếc xe, theo đuổi một sở thích, kết hôn với người bạn đời… thường đi với ý muốn là tất cả phải tốt như mình mong mỏi. Nhưng sự bất toàn cuộc thực tế khiến chúng ta thất vọng. Không phải sự buồn nãn vì xui xẻo mà vì ước vọng không thực tế. Không có cái gọi là hoàn hảo trong những gì theo đuổi trong cuộc sống nầy. Ngày nay có những phong trào hướng về một môi trường sinh thái lành mạnh hay sự bình đẳng giới tính thường tạo nên những mục tiêu thiếu thực tế. Cuộc sống thường cần tánh quân bình hơn là nghiêng về một bên.

Nếu hạnh phúc được định nghĩa là mãn nguyện những gì mong ước thì nên nhìn ngược lại chính sự mong ước tạo nên áp lực, căng thẳng, nghi hoặc trong cuộc sống. Quá mong muốn cái gì thường tạo nên những xáo trộn tâm lý. Thí dụ một người mẹ quá kỳ vọng ở đứa con học hành đỗ đạt thường tạo nên nhiều căng thẳng trong việc vai trò của người mẹ lo cho con. Đa số những âu lo đến từ ước muốn mãnh liệt kể cả sự tha thiết có cuộc sống bình yên.

Nếu ước muốn cái hoàn hảo là một cực đoan thì đích điểm tối hậu là một cực đoan khác trong mưu cầu hạnh phúc. Người ta mua một điện thoại thông minh hay một chiếc xe đắt tiền với nghĩ là những thứ đó sẽ là “sản phẩm không một gì khác vượt qua được như một quảng cáo của hãng xe BMW có câu “Ultimate Driving Machine”. Thực tế thì tất cả hạnh phúc của trần gian chỉ là giai đoạn và mang giá trị rất tương đối. Một cái gì đó có thể là “tốt nhất” trong dự tính nhưng khi có được thì giá trị có thể sớm lỗi thời khi có cái tốt hơn xuất hiện. Ngay cả cảm hứng và hạnh phúc đối với những thứ đó của sớm mai một.

Người ta có câu “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Không may là đa số những thành tựu trong cuộc sống phải trả bằng giá quá đắt. Thí dụ một người cật lực làm việc để có số tiền sống thoải mái khi về già nhưng do làm việc quá nhiều khi về hưu thì sức khoẻ suy yếu. Trong sự già nua bệnh tật thường khi đồng tiền trở nên vô nghĩa. Trái lại khi còn trẻ tiêu xài nhiều để ăn chơi khi về già lâm vào cảnh túng thiếu thì cũng không phải là lối sống tốt. Nếu cuộc sống là hành trình thì mỗi ngày đều có giá trị riêng. Sống tất cả vì tương lai mà không cho phép những giây phút hiện tại an lạc thì thường khi là lối sống “thả mồi bắt bóng”.

Nói đến tính cách phức tạp của hạnh phúc, một lần nữa cần nhắc lại tinh thần trung đạo trong Phật pháp. “Nhân vô viễn lự tất hữu cận ưu” nhưng lo xa quá mà đánh mất hiện tại thì cũng là cực đoan. Mong cái tốt nhất nhưng cũng nên nhắc sự tương đối để không tạo thất vọng lớn. Sống với hy vọng khiến con người hăng hái nhưng sự kỳ vọng cũng tạo nên căng thẳng, áp lực, thậm chí là sự thất vọng lớn lao. Khả năng sống như nhiên (yathābhutam) song hành với chí hướng là điều cần thiết để tạo nên tinh thần trung đạo.

Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-