|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 29 tháng 07, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Nghe lại bài 115. LẠC QUAN HAY BI QUAN ĐỀU PHIẾN DIỆN. Kinh Trước Khi Thành Đạo (Pubbesambodhasuttaṃ)
Cuộc sống vốn có cả hai mặt vị ngọt và sự nguy hiểm. Dù biết
vậy vẫn chưa đủ mà còn phải thấy được lối thoát của hệ luỵ.
Cả hai thế giới vật chất vàt tâm thức đều có những hỷ lạc
nhưng tất cả đều bị chi phối bởi vô thường. Vấn đề nằm ở
đây. Hạnh phúc là những niềm vui và thụ hưởng. Nhưng chính
những gì khiến chúng ta vui và ngay chính niềm vui cũng biến
đổi theo luật vô thường. Điều nầy giải thích tại sao chúng
ta thường sống trong âu lo, phiền muộn, khổ đau. Phải thấy
cả ba phương diện vị ngọt, nguy hiểm, và lối thoát thì mới
thật sự là thấy, là biết.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘pubbeva me, bhikkhave,
sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi –
‘ko nu kho pathavīdhātuyā assādo, ko ādīnavo, kiṃ
nissaraṇaṃ; ko āpodhātuyā assādo, ko ādīnavo, kiṃ
nissaraṇaṃ; ko tejodhātuyā assādo, ko ādīnavo, kiṃ
nissaraṇaṃ; ko vāyodhātuyā assādo, ko ādīnavo, kiṃ
nissaraṇa’’’nti?
...
Ngự tại
Sāvatthi.
-- Này
chư Tỳ khưu,
trước khi Ta
còn là bồ tát chưa viên thành chánh giác ta trầm tư như sau:
"Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất
ly của địa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái
gì là sự xuất ly của thủy giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là
nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của hỏa giới? Cái gì là vị
ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của phong
giới?"
‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘yaṃ kho
pathavīdhātuṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ
pathavīdhātuyā assādo;
yaṃ pathavīdhātu aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā, ayaṃ
pathavīdhātuyā ādīnavo; yo pathavīdhātuyā chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ, idaṃ pathavīdhātuyā nissaraṇaṃ. Yaṃ
āpodhātuṃ paṭicca...pe... yaṃ tejodhātuṃ paṭicca...pe... yaṃ
vāyodhātuṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ
vāyodhātuyā assādo; yaṃ vāyodhātu aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā, ayaṃ vāyodhātuyā ādīnavo; yo vāyodhātuyā
chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, idaṃ vāyodhātuyā
nissaraṇaṃ’’’.
-- Này chư Tỳ khưu, ý
nghĩ nầy khởi sanh nơi
Ta :
"Lạc
và
hỷ
nào sanh khởi
duyên địa giới
đó là vị ngọt của địa giới. Cái gì
thay đổi,
khổ
đau,
biến hoại của địa giới, đó là nguy hiểm của địa giới. Sự
nhiếp phục
từ bỏ ước muốn và vướng đối với địa giới
là sự xuất ly của địa giới".
"Lạc gì, hỷ nào sanh khởi duyên
thủy giới...".
"Lạc gì, hỷ nào sanh khởi duyên hỏa giới...".
"Lạc gì, hỷ nào sanh khởi duyên phong giới là vị ngọt của
phong giới. Cái gì thay đổi, khổ đau, biến hoại của phong
giới đó là nguy hiểm của phong giới. Sự nhiếp phục từ bỏ ước
muốn và vướng đối với
phong giới
là sự xuất ly của phong giới".
‘‘Yāvakīvañcāhaṃ, bhikkhave, imāsaṃ catunnaṃ dhātūnaṃ evaṃ
assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca
nissaraṇato yathābhūtaṃ na abbhaññāsiṃ, neva tāvāhaṃ,
bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṃ
sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti paccaññāsiṃ.
‘‘Yato ca khvāhaṃ, bhikkhave, imāsaṃ catunnaṃ dhātūnaṃ evaṃ
assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca
nissaraṇato yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, athāhaṃ, bhikkhave,
sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti
paccaññāsiṃ. Ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi – ‘akuppā me
vimutti,
ayamantimā jāti, natthi dāni
punabbhavo’’’ti.
-- Này chư Tỳ khưu,
cho đến khi nào đối với địa giới, thuỷ giới, hoả giới, phong
giới Ta chưa thật sự thấu triệt vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly
thời thì Ta chưa tự nhận cùng thế giới gồm chư thiên, ma
vương, phạm thiên, các tầng lớp sa môn, bà la môn, trời
người là ta đã chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
-- Này chư Tỳ khưu, khi
đối với địa giới, thuỷ giới, hoả giới, phong giới
Ta
thật sự thấu triệt vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly thời thì
Ta
tự nhận cùng thế giới gồm chư thiên, ma vương, phạm thiên,
các tầng lớp sa môn, bà la môn, trời người là
Ta
đã chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tri kiến
vả nhận thức
đã khởi lên ở nơi Ta: "Tâm
giải thoát của Ta
là bất động.
Ðời sống này là tối hậu,
giờ
không còn
luân hồi sanh tử
nữa".
Chú
Thích Bốn
đại trong kinh nầy gồm cách diễn tả với những thuật ngữ cô
đọng về thế giới vật chất một cách toàn diện. Những thức
ngon, đẹp, khả ái của sắc, thinh, hương, vị, xúc đều là biến
hiện của địa đại, thuỷ đại, hoả đại, phong đại. Ba
khía cạnh: vị ngọt, nguy hiểm, và sự xuất ly nói lên cái
nhìn toàn diện không lạc quan, không bi quan, không tiêu cực
của cái nhìn và sự hiểu biết. Nếu chỉ biết vị ngọt hay nguy
hiểm là cái nhìn phiến diện vì không thấy rõ đau khổ và
nguyên nhân ái chấp. Sớ
giải ghi rằng sự nhận thức hiện tượng giới theo bài kinh nầy
nằm trong tứ đế: nguy hiểm (ādīnava)
chỉ cho khổ đế, vị ngọt (assāda) chỉ cho tập đế, sự xuất ly
(nissaraṇa) chỉ cho diệt đế, con đường dẫn đến xuất ly chỉ
cho đạo đế. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |