|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 04 tháng 07, 2024 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XXII.Phẩm Khổ Cảnh (Nirayavagga) . Gồm 14 bài kệ với 9 duyên sự -Kệ số 2 (dhp 307)Chánh văn: (dhp 307)
2. Kāsāvakaṇṭhā bahavo
Chuyển văn:
2. Kāsāvakaṇṭhā pāpadhammā asaññatā bahavo te pāpā pāpehi
kammehi nirayaṃ upapajjare.
Thích văn:
Kāsāvakaṇṭhā
[chủ cách, số nhiêu, nam tính, danh từ hợp thể
kāsavakaṇṭha (kāsāva + kaṇṭha)]
những người mà cổ quấn cà sa, các tu sĩ mặc y vàng.
Việt văn:
(pc 307) ác hạnh, không chế ngự người ác do ác nghiệp phải sanh vào khổ cảnh.
2. Nhiều người cổ quấn cà sa mà theo ác pháp, không chế ngự,
những người ác xấu ấy phải chịu sanh khổ cảnh bởi các nghiệp
xấu.
Duyên sự:
Bài kệ nầy đức Phật thuyết ở Rājagaha, khi Ngài ngự tại chùa
Veḷuvana, do chuyện ngạ quỉ hình dáng tỳ kheo.
Tôn giả Mahāmoggallāna cùng với tôn giả Lakkhaṇa đang đi từ
núi Gijjhakūta xuống thành Rājagaha khất thực. Đang đi, Ngài
Moggallāna trong thấy một ngạ quỉ có hình dáng tỳ kheo đi
trên hư không, y cà sa cháy đỏ, bình bát cháy đỏ, thân thể
bị thiêu đốt, thấy vậy Ngài Moggallāna mỉm cười. Tôn giả
Lakkhaṇa bèn hỏi nguyên nhân gì Ngài mỉm cười?
Tôn giả Moggallāna nói: “Nay không đúng thời, này hiền giả,
Ngài hãy hỏi câu hỏi nầy trước mặt đức Thế Tôn”.
Thế rồi hai vị tôn giả xuống thành Rājagaha khất thực ăn
xong đã đi đến Veluvana đảnh lễ bậc Đạo sự.
Trước mặt
bậc Đạo sư, Tôn giả Lakkhaṇa đã hỏi Tôn giả Moggallāna: “Này
hiền giả Moggallāna lúc sáng khi từ núi Gijjhakūta xuống,
hiền giả mỉm cười do duyên cớ gì?”.
Được hỏi, Tôn giả Moggallāna đáp: “Này hiền giả Lakkhana, ở
đây, khi tôi đang từ núi Gijhakūta xuống đã nhìn thấy một
ngạ quỉ hình dáng vị tỳ kheo đang đi trên không, y tăng lê
của nó bị cháy, cháy đỏ rực, cháy lửa ngọn, bình bát của nó
cũng bị cháy, dây buộc lưng cũng bị cháy…”
Đức Thế Tôn nghe nói vậy, Ngài phán bảo: “Này chư tỳ kheo,
Như Lai đã từng thấy loài ngạ quỉ ấy rồi nhưng không nói ra
vì những người không tin lời Như Lai sẽ bất hạnh, nay có vị
Thinh Văn với thiên nhãn thấy được ngạ quỉ ấy, có người làm
chứng cho ta. Này chư tỳ kheo, đó là những vị xuất gia trong
giáo pháp của đấng Thập lực Kassapa, họ không thể thực hành
đúng theo hạnh bậc xuất gia, họ là những ác tỳ kheo. Do sở
hành ác xấu phải chịu quả dị thục sanh làm ngạ quỉ như thế”.
Nói xong, đức Phật đã thuyết ra bài kệ: Kāsāvakaṇṭhā
bahavo…v.v…nirayaṃ te upapajjare’ ti.
Dứt kệ ngôn, đã có nhiều vị tỳ kheo đắc thánh quả.
Lý giải:
Kāsāvakaṇṭhā những kẻ cổ quấn cà sa, tức là những vị tỳ kheo
mặc vận y cà sa.
Pāpadhammā những kẻ có ác pháp nghĩa là ác pháp, pháp thấp
hèn có nơi người nào thì người ấy là người có ác pháp. Đối
với vị xuất gia, ác pháp là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà
nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định; có sở hành
phi phạm hạnh, phi sa môn, nội tâm uế nhiễm.
Asaññatā không chế ngự, là không có kềm chế thân hành, khẩu
hành và ý hành; để thân hành động phóng túng, miệng nói
phóng túng, ý suy nghĩ phóng túng.
Người ác do ác nghiệp phải sanh vào khổ cảnh (pāpā pāpehi
kammehi nirayaṃ te upapajjare) nghĩa là những kẻ ác quấy như
thế sẽ sanh vào địa ngục do ác nghiệp bất thiện tự mình đã
tạo, chúng sau khi bị nung nấu ở địa ngục, thoát khỏi cỏi
ấy, với quả dư sót sanh vào loài ngạ quỉ khổ như vậy./. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |