|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 06 tháng 07, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 328. LIỄU NGỘ TỰ THÂN- Kinh Trăng Rằm (Puṇṇamasuttaṃ). ******
Một
trong
những
ước vọng
của con
người là
tìm được
ai đó
hiểu
mình như
câu thơ:
“trời
đất mang
mang, ai
người
tri
kỷ?”.
Với hành
giả thì
người đó
hiểu
mình
không
bằng tự
thân
hiểu
mình.
Chỉ có
thấu rõ
chân
tướng
năm uẩn
mới có
khả năng
xoá tan
chấp thủ
và thành
tựu
chánh
trí giải
thoát.
Thấu rõ
năm uẩn
là một
hành
trình
sâu lắng
dù trên
phương
diện
pháp học
hay pháp
hành.
Không
phải chỉ
đòi hỏi
khả năng
vượt
thoát
kiến văn
hữu hạn
mà còn
nhìn
khác với
cái nhìn
bản năng
tích tập
nhiều
đời. Một
người
mất trâu
đi tìm
bất chợt
gặp
Phật.
Khi hỏi
thăm thì
được
Phật hỏi
lại: Đi
tìm trâu
hay đi
tìm
chính
mình cái
nào quan
trọng
hơn? Chỉ
có sự
quán
chiếu
thực
tánh
sanh
diệt của
năm uẩn,
mới có
thể nhận
thức cái
ta, của
ta thật
sự là
gì.
Ekaṃ
samayaṃ
bhagavā
sāvatthiyaṃ
viharati
pubbārāme
migāramātupāsāde
mahatā
bhikkhusaṅghena
saddhiṃ.
Tena kho
pana
samayena
bhagavā
tadahuposathe
pannarase
puṇṇāya
puṇṇamāya
rattiyā
bhikkhusaṅghaparivuto
ajjhokāse
nisinno
hoti.
Atha kho
aññataro
bhikkhu
uṭṭhāyāsanā
ekaṃsaṃ
uttarāsaṅgaṃ
karitvā
yena
bhagavā
tenañjaliṃ
paṇāmetvā
bhagavantaṃ
etadavoca:
Một thuở Đức Thế
Tôn ngự
tại Lộc
Mẫu
giảng
Đường,
Đông
Phương
Tự, tại
Sāvatthi
(Xá-vệ)
cùng với
đại
chúng tỳ
khưu.
Lúc bấy giờ,
trong lễ
bố tát
ngày rằm
trăng
tròn,
Đức Thế
Tôn ngồi
giữa
trời với
chúng Tỳ
khưu
Tăng vây
quanh.
Rồi một vị tý
khưu từ
chỗ ngồi
đứng
dậy,
chỉnh
lại
thượng y
một bên
vai,
chấp tay
hướng về
Đức Thế
Tôn và
bạch
rằng:
“puccheyyāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ kiñcideva desaṃ, sace me
bhagavā
okāsaṃ
karoti
pañhassa
veyyākaraṇāyā”ti?
“Tena hi tvaṃ, bhikkhu, sake āsane nisīditvā puccha yadākaṅkhasī”ti.
—Bạch Đức Thế
Tôn, con
muốn hỏi
Ngài một
điều,
nếu Thế
Tôn cho
phép và
trả lời
câu hỏi
của con.
—Này Tỳ khưu,
hãy an
toạ và
hỏi điều
gì muốn
hỏi.
“Evaṃ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā sake āsane
nisīditvā
bhagavantaṃ
etadavoca:
—Dạ thưa vâng,
bạch Đức
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy trả
lời Đức
Thế Tôn
rồi ngồi
xuống
chỗ của
mình và
bạch
rằng:
“ime nu
kho,
bhante,
pañcupādānakkhandhā,
seyyathidaṃ—rūpupādānakkhandho,
vedanupādānakkhandho,
saññupādānakkhandho,
saṅkhārupādānakkhandho,
viññāṇupādānakkhandho”ti.
“Ime
kho,
bhikkhu,
pañcupādānakkhandhā;
Seyyathidaṃ—rūpupādānakkhandho
…pe…
viññāṇupādānakkhandho”ti.
“Sādhu,
bhante”ti
kho so
bhikkhu
bhagavato
bhāsitaṃ
abhinanditvā
anumoditvā
bhagavantaṃ
uttariṃ
pañhaṃ
apucchi:
—Bạch Đúc Thế
Tôn,
phải
chăng
năm uẩn
là sắc
thủ uẩn,
thọ thủ
uẩn,
tưởng
thủ uẩn,
hành thủ
uẩn,
thức thủ
uẩn?
—Này Tỳ khưu, có
năm thủ
uẩn, tức
là sắc
thủ uẩn
… thức
thủ uẩn.
—Lành thay, bạch
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy hoan
hỷ, tín
thọ lời
Đức Thế
Tôn dạy,
rồi hỏi
thêm Thế
Tôn một
câu
khác:
“Ime kho pana, bhante, pañcupādānakkhandhā kiṃmūlakā”ti?
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā chandamūlakā”ti …pe…
—Bạch Thế Tôn,
năm thủ
uẩn này
lấy gì
làm căn
cội?
—Này Tỳ khưu,
năm thủ
uẩn này
lấy dục
làm căn
cội.
taññeva
nu kho,
bhante,
upādānaṃ
te
pañcupādānakkhandhā
udāhu
aññatra
pañcahi
upādānakkhandhehi
upādānan”ti?
“Na kho,
bhikkhu,
taññeva
upādānaṃ
te
pañcupādānakkhandhā
nāpi
aññatra
pañcahi
upādānakkhandhehi
upādānaṃ,
api ca
yo
tattha
chandarāgo
taṃ
tattha
upādānan”ti.
—Lành thay, bạch
Thế Tôn
…
—Bạch Thế Tôn,
chấp thủ
ấy cũng
thuộc
năm thủ
uẩn hay
chấp thủ
ngoài
năm thủ
uẩn?
—Này Tỳ khưu,
chấp thủ
ấy không
là năm
thủ uẩn
cũng
không
phải
ngoài
năm thủ
uẩn. Chỗ
nào có
tham và
dục, chỗ
ấy có
chấp
thủ.
“Sādhu,
bhante”ti
kho so
bhikkhu
…pe…
uttariṃ
pañhaṃ
apucchi:
“Siyā
pana,
bhante,
pañcupādānakkhandhesu
chandarāgavemattatā”ti?
“Siyā,
bhikkhū”ti
bhagavā
avoca:
“idha,
bhikkhu,
ekaccassa
evaṃ
hoti:
‘evaṃrūpo
siyaṃ
anāgatamaddhānaṃ,
evaṃvedano
siyaṃ
anāgatamaddhānaṃ,
evaṃsañño
siyaṃ
anāgatamaddhānaṃ,
evaṃsaṅkhāro
siyaṃ
anāgatamaddhānaṃ,
evaṃviññāṇo
siyaṃ
anāgatamaddhānan’ti.
Evaṃ
kho,
bhikkhu,
siyā
pañcupādānakkhandhesu
chandarāgavemattatā”ti?
—Lành thay, bạch
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy … hỏi
Thế Tôn
một câu
hỏi
khác:
—Có thể chăng,
bạch Thế
Tôn, có
thể
chăng có
sự đa
dạng
trong
dục và
tham đối
với năm
thủ
uẩn?”
--Này Tỳ khưu,
có thể.
Ở đây
có
người
suy
nghĩ:
‘Mong
rằng ta
có được
sắc như
thế
trong
tương
lai!
Mong
rằng ta
có được
thọ như
thế
trong
tương
lai!
Mong
rằng ta
có được
tưởng
như thế
trong
tương
lai!
Mong
rằng ta
có được
hành như
thế
trong
tương
lai!
Mong
rằng ta
có được
thức như
thế
trong
tương
lai!’
Như vậy
có thể
có sự đa
dạng
trong
dục và
tham đối
với năm
thủ .”
“Sādhu,
bhante”ti
kho so
bhikkhu
…pe…
uttariṃ
pañhaṃ
apucchi:
“Kittāvatā
nu kho,
bhante,
khandhānaṃ
khandhādhivacanan”ti?
“Yaṃ
kiñci,
bhikkhu,
rūpaṃ
atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ
vā
bahiddhā
vā
oḷārikaṃ
vā
sukhumaṃ
vā hīnaṃ
vā
paṇītaṃ
vā yaṃ
dūre
santike
vā, ayaṃ
vuccati
rūpakkhandho.
Yā kāci
vedanā …
yā kāci
saññā …
ye keci
saṅkhārā
… yaṃ
kiñci
viññāṇaṃ
atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ
vā
bahiddhā
vā
oḷārikaṃ
vā
sukhumaṃ
vā hīnaṃ
vā
paṇītaṃ
vā yaṃ
dūre
santike
vā, ayaṃ
vuccati
viññāṇakkhandho.
Ettāvatā
kho,
bhikkhu,
khandhānaṃ
khandhādhivacanan”ti.
—Lành thay, bạch
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy … hỏi
thêm câu
hỏi nữa:
—Bạch Thế Tôn,
bằng
cách gì
uẩn được
gọi là
uẩn?
—Này Tỳ khưu,
phàm sắc
gì thuộc
quá khứ,
vị lai,
hiện
tại, nội
giới hay
ngoại
giới,
thô hay
tế, hạ
liệt hay
thù
thắng,
xa hay
gần, đây
gọi là
sắc uẩn.
Phàm thọ
gì …
Phàm
tưởng gì
… Phàm
các hành
gì …
Phàm
thức gì
thuộc
quá khứ,
vị lai,
hiện
tại,
hoặc nội
hay
ngoại,
hoặc thô
hay tế,
hoặc
liệt hay
thắng,
hoặc xa
hay gần;
đây gọi
là thức
uẩn. Này
Tỳ khưu,
bằng
cách đó
uẩn được
gọi là
uẩn
“Sādhu,
bhante”ti
kho so
bhikkhu
…pe…
apucchi:
“Ko nu
kho,
bhante,
hetu ko
paccayo
rūpakkhandhassa
paññāpanāya;
ko hetu
ko
paccayo
vedanākkhandhassa
paññāpanāya;
ko hetu
ko
paccayo
saññākkhandhassa
paññāpanāya;
ko hetu
ko
paccayo
saṅkhārakkhandhassa
paññāpanāya;
ko hetu
ko
paccayo
viññāṇakkhandhassa
paññāpanāyā”ti?
—Lành thay, bạch
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy … hỏi
thêm câu
hỏi nữa:
—Bạch Thế Tôn,
do nhân
gì,
duyên
gì, định
hình sắc
uẩn? do
nhân gì,
duyên
gì, định
hình là
thọ uẩn?
do nhân
gì,
duyên
gì, định
hình là
tưởng
uẩn? do
nhân gì,
duyên
gì, định
hình
hành
uẩn? do
nhân gì,
duyên
gì, định
hình
thức
uẩn?
“Cattāro
kho,
bhikkhu,
mahābhūtā
hetu,
cattāro
mahābhūtā
paccayo
rūpakkhandhassa
paññāpanāya.
Phasso
hetu
phasso
paccayo
vedanākkhandhassa
paññāpanāya.
Phasso
hetu
phasso
paccayo
saññākkhandhassa
paññāpanāya.
Phasso
hetu,
phasso
paccayo
saṅkhārakkhandhassa
paññāpanāya.
Nāmarūpaṃ
hetu,
nāmarūpaṃ
paccayo
viññāṇakkhandhassa
paññāpanāyā”ti.
—Này Tỳ khưu, do
nhân bốn
đại, do
duyên
bốn đại,
định
hình sắc
uẩn. Do
nhân
xúc, do
duyên
xúc,
định
hình thọ
uẩn. Do
nhân
xúc, do
duyên
xúc,
định
hình
tưởng
uẩn. Do
nhân
xúc, do
duyên
xúc,
định
hình
hành
uẩn. Do
nhân
danh
sắc, do
duyên
danh
sắc,
định
hình
thức
uẩn.
“Sādhu,
bhante”ti
kho so
bhikkhu
…pe…
apucchi:
“Kathaṃ
nu kho,
bhante,
sakkāyadiṭṭhi
hotī”ti?
“Idha,
bhikkhu,
assutavā
puthujjano
ariyānaṃ
adassāvī
ariyadhammassa
akovido
ariyadhamme
avinīto,
sappurisānaṃ
adassāvī
sappurisadhammassa
akovido
sappurisadhamme
avinīto
rūpaṃ
attato
samanupassati,
rūpavantaṃ
vā
attānaṃ;
attani
vā
rūpaṃ,
rūpasmiṃ
vā
attānaṃ;
vedanaṃ
… saññaṃ
…
saṅkhāre
…
viññāṇaṃ
attato
samanupassati,
viññāṇavantaṃ
vā
attānaṃ;
attani
vā
viññāṇaṃ,
viññāṇasmiṃ
vā
attānaṃ.
Evaṃ
kho,
bhikkhu,
sakkāyadiṭṭhi
hotī”ti.
—Lành thay, bạch
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy … hỏi
thêm câu
khác:
—Như thế nào,
bạch Thế
Tôn, là
có thân
kiến?
—Này Tỳ khưu, ở
đây phàm
phu
không
học
hiểu,
không tu
tập và
không
thuần
thục
pháp các
bậc
Thánh;
không
học
hiểu,
không tu
tập và
không
thuần
thục
pháp các
bậc
thiện
trí xem
sắc là
tự ngã;
xem tự
ngã là
sắc;
trong
sắc có
tự ngã;
trong tự
ngã có
sắc. …
xem thọ
là tự
ngã… xem
tưởng…
xem hành
là tự
ngã…xem
thức là
tự ngã,
xem tự
ngã là
thức,
xem
trong
thức có
tự ngã,
xem
trong tự
ngã có
thức.
Như vậy,
này Tỳ
khưu,
là có thân kiến.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Kathaṃ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
—Lành thay, bạch
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy … hỏi
thêm câu
nữa:
—Bạch Thế Tôn,
như thế
nào là
không có
thân
kiến?
“Idha,
bhikkhu,
sutavā
ariyasāvako
ariyānaṃ
dassāvī
ariyadhammassa
kovido
ariyadhamme
suvinīto,
sappurisānaṃ
dassāvī
sappurisadhammassa
kovido
sappurisadhamme
suvinīto
na rūpaṃ
attato
samanupassati,
na
rūpavantaṃ
vā
attānaṃ;
na
attani
vā
rūpaṃ,
na
rūpasmiṃ
vā
attānaṃ;
na
vedanaṃ
… na
saññaṃ …
na
saṅkhāre
… na
viññāṇaṃ
attato
samanupassati,
na
viññāṇavantaṃ
vā
attānaṃ;
na
attani
vā
viññāṇaṃ,
na
viññāṇasmiṃ
vā
attānaṃ.
Evaṃ
kho,
bhikkhu,
sakkāyadiṭṭhi
na
hotī”ti.
—Này Tỳ khưu, ở
đây vị
thánh đệ
tử có
học
hiểu, có
tu tập
và
thuần
thục
pháp các
bậc
Thánh;
có học
hiểu, có
tu tập
và
thuần
thục
pháp các
bậc
thiện
trí
không
xem sắc
là tự
ngã;
không
xem tự
ngã là
sắc;
không
xem
trong
sắc có
tự ngã;
không
xem
trong tự
ngã có
sắc. …
không
xem thọ
là tự
ngã…
không
xem
tưởng là
tự ngã…
không
xem hành
là tự
ngã…không
xem thức
là tự
ngã,
không
xem tự
ngã là
thức,
không
xem
trong
thức có
tự ngã,
không
xem
trong tự
ngã có
thức.
Như vậy,
này Tỳ
khưu, là
không có
thân
kiến.
“Sādhu,
bhante”ti
kho so
bhikkhu
…pe…
apucchi:
“Ko nu
kho,
bhante,
rūpassa
assādo,
ko
ādīnavo,
kiṃ
nissaraṇaṃ;
ko
vedanāya
… ko
saññāya
… ko
saṅkhārānaṃ
… ko
viññāṇassa
assādo,
ko
ādīnavo,
kiṃ
nissaraṇan”ti?\
“Yaṃ
kho,
bhikkhu,
rūpaṃ
paṭicca
uppajjati
sukhaṃ
somanassaṃ—ayaṃ
rūpassa
assādo.
Yaṃ
rūpaṃ
aniccaṃ
dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ—ayaṃ
rūpassa
ādīnavo.
Yo
rūpasmiṃ
chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ—idaṃ
rūpassa
nissaraṇaṃ.
Yaṃ
vedanaṃ
paṭicca
… yaṃ
saññaṃ
paṭicca
… ye
saṅkhāre
paṭicca
… yaṃ
viññāṇaṃ
paṭicca
uppajjati
sukhaṃ
somanassaṃ—ayaṃ
viññāṇassa
assādo.
Yaṃ
viññāṇaṃ
aniccaṃ
dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ—ayaṃ
viññāṇassa
ādīnavo.
Yo
viññāṇasmiṃ
chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ—idaṃ
viññāṇassa
nissaraṇan”ti.
—Lành thay, bạch
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy … hỏi
thêm một
câu nữa:
—Bạch Thế Tôn,
cái gì
là vị
ngọt, là
sự nguy
hiểm, là
sự xuất
ly của
sắc? …
của thọ
… của
tưởng …
của các
hành?
Cái gì
là vị
ngọt, là
sự nguy
hiểm, là
sự xuất
ly của
thức?
—Này Tỳ khưu, do
duyên
sắc khởi
lên lạc
hỷ gì,
đó là vị
ngọt của
sắc. Sự
vô
thường,
khổ,
chịu sự
biến
hoại của
sắc, đó
là sự
nguy
hiểm của
sắc. Sự
nhiếp
phục dục
và tham,
sự đoạn
tận dục
và tham
đối với
sắc, đó
là sự
xuất ly
của sắc.
Do duyên
thọ … Do
duyên
tưởng …
Do duyên
các hành
… Do
duyên
thức
khởi lên
lạc hỷ
gì, đó
là vị
ngọt của
thức. Sự
vô
thường,
khổ,
chịu sự
biến
hoại của
thức, đó
là sự
nguy
hiểm của
thức. Sự
nhiếp
phục dục
và tham,
sự đoạn
tận dục
và tham
đối với
thức, đó
là sự
xuất ly
của
thức.
“Sādhu,
bhante”ti
kho so
bhikkhu
bhagavato
bhāsitaṃ
abhinanditvā
anumoditvā
bhagavantaṃ
uttariṃ
pañhaṃ
apucchi:
“Kathaṃ
nu kho,
bhante,
jānato,
kathaṃ
passato
imasmiñca
saviññāṇake
kāye
bahiddhā
ca
sabbanimittesu
ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā
na
hontī”ti?
“Yaṃ
kiñci,
bhikkhu,
rūpaṃ
atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ
vā
bahiddhā
vā
oḷārikaṃ
vā
sukhumaṃ
vā hīnaṃ
vā
paṇītaṃ
vā yaṃ
dūre
santike
vā,
sabbaṃ
rūpaṃ:
‘netaṃ
mama,
nesohamasmi,
na meso
attā’ti
evametaṃ
yathābhūtaṃ
sammappaññāya
passati.
Yā kāci
vedanā …
yā kāci
saññā …
ye keci
saṅkhārā
… yaṃ
kiñci
viññāṇaṃ
atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ
vā
bahiddhā
vā
oḷārikaṃ
vā
sukhumaṃ
vā hīnaṃ
vā
paṇītaṃ
vā yaṃ
dūre
santike
vā,
sabbaṃ
viññāṇaṃ:
‘netaṃ
mama,
nesohamasmi,
na meso
attā’ti
evametaṃ
yathābhūtaṃ
sammappaññāya
passati.
Evaṃ
kho,
bhikkhu,
jānato
evaṃ
passato
imasmiñca
saviññāṇake
kāye
bahiddhā
ca
sabbanimittesu
ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā
na
hontī”ti.
—Lành thay, bạch
Thế Tôn.
Tỳ khưu ấy hoan
hỷ, tín
thọ lời
Thế Tôn
dạy, lại
hỏi Thế
Tôn thêm
câu nữa:
—Bạch Thế Tôn,
do biết
thế nào,
do thấy
thế nào,
đối với
thân có
thức này
và đối
với tất
cả tướng
ở ngoài,
không có
ngã
kiến,
ngã sở
kiến,
mạn tùy
miên?
—Này Tỳ khưu,
phàm sắc
gì thuộc
quá khứ,
vị lai,
hiện
tại, nội
giới hay
ngoại
giới,
thô hay
tế, hạ
liệt hay
thù
thắng,
xa hay
gần, tất
cả sắc,
được
quán
chiếu
như
nhiên
với
chánh
trí:
“Ðây
không
phải của
ta, đây
không
phải là
ta, đây
không
phải tự
ngã của
ta”.
Phàm thọ
gì …
Phàm
tưởng gì
… Phàm
các hành
gì …
Phàm
thức gì
thuộc
quá khứ,
vị lai,
hiện
tại, nội
giới hay
ngoại
giới,
thô hay
tế, hạ
liệt hay
thù
thắng,
xa hay
gần, tất
cả sắc,
được
quán
chiếu
như
nhiên
với
chánh
trí:
“Ðây
không
phải của
ta, đây
không
phải là
ta, đây
không
phải tự
ngã của
ta”.
Này
Tỳ khưu,
do biết
như vậy,
thấy như
vậy, đối
với thân
có thức
này và
đối với
tất cả
tướng ở
ngoài,
không có
ngã
kiến,
ngã sở
kiến,
mạn tùy
miên.
Tena kho
pana
samayena
aññatarassa
bhikkhuno
evaṃ
cetaso
parivitakko
udapādi:
“iti
kira bho
rūpaṃ
anattā,
vedanā …
saññā …
saṅkhārā
…
viññāṇaṃ
anattā;
anattakatāni
kammāni
kathamattānaṃ
phusissantī”ti.
Atha kho
bhagavā
tassa
bhikkhuno
cetasā
ceto
parivitakkamaññāya
bhikkhū
āmantesi:
“Ṭhānaṃ
kho
panetaṃ,
bhikkhave,
vijjati
yaṃ
idhekacco
moghapuriso
avidvā
avijjāgato
taṇhādhipateyyena
cetasā
satthusāsanaṃ
atidhāvitabbaṃ
maññeyya.
‘Iti
kira,
bho,
rūpaṃ
anattā,
vedanā …
saññā …
saṅkhārā
…
viññāṇaṃ
anattā.
Anattakatāni
kammāni
kathamattānaṃ
phusissantī’ti?
Paṭipucchāvinītā
kho me
tumhe,
bhikkhave,
tatra
tatra
tesu
tesu
dhammesu.
Lúc ấy, một Tỳ
khưu
khác
khởi lên
suy
nghĩ:
“Nếu
Ngài nói
sắc là
vô ngã,
thọ …
tưởng …
các hành
… thức
là vô
ngã, vậy
thì
không ai
tạo
nghiệp,
không ai
gặt
quả?”
Rồi Đức Thế Tôn
với tâm
tư của
mình
biết rõ
suy nghĩ
của Tỳ
khưu ấy,
liền nói
với các
Tỳ khưu:
—Này chư Tỳ
khưu, có
sự kiện
nầy:
kẻ
thiểu
trí, mê
lầm,
chìm đắm
trong vô
minh,
tâm bị
khát ái
chi
phối,
nghĩ
rằng có
thể vượt
qua lời
dạy bậc
Ðạo Sư,
với ý
nghĩ:
“Nếu
Ngài nói
sắc là
vô ngã,
thọ …
tưởng …
các hành
… thức
là vô
ngã, vậy
thì
không có
ai tạo
nghiệp,
không ai
gặt
quả?”
Này các
Tỳ khưu,
những
thẩm
định về
điều nầy
đã được
Ta hướng
dẫn cho
các thầy
chỗ nầy,
chỗ kia.
Taṃ kiṃ
maññatha,
bhikkhave,
rūpaṃ
niccaṃ
vā
aniccaṃ
vā”ti?
“Aniccaṃ,
bhante”.
“Yaṃ
panāniccaṃ
dukkhaṃ
vā taṃ
sukhaṃ
vā”ti?
“Dukkhaṃ,
bhante”.
Này chư Tỳ khưu,
các
Thầy
nghĩ thế
nào, sắc
là
thường
hay vô
thường?
—Là vô thường,
bạch Thế
Tôn.
—Cái gì vô
thường
là khổ
hay lạc?
—Là khổ, bạch
Thế Tôn.
“Yaṃ
paāniccaṃ
dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ
kallaṃ
nu taṃ
samanupassituṃ:
‘etaṃ
mama,
esohamasmi,
eso me
attā’”ti?
“No
hetaṃ,
bhante”.
—Cái gì vô
thường,
khổ,
chịu sự
biến
hoại, có
hợp lý
chăng
nếu quán
cái ấy
là: “Cái
này là
của tôi,
cái này
là tôi,
cái này
là tự
ngã của
tôi”?
—Thưa không,
bạch Thế
Tôn.
“Vedanā
… saññā
…
saṅkhārā
…
viññāṇaṃ
…pe…
tasmātiha,
bhikkhave,
evaṃ
passaṃ …
nāparaṃ
itthattāyāti
pajānātī”ti.
—Thọ … Tưởng …
Hành …
Thức …
Do vậy,
này chư
Tỳ khưu,
thấy vậy
… Vị ấy
biết: ”
… không
còn trở
lui
trạng
thái này
nữa”.
“Dve
khandhā
taññeva
siyaṃ,
adhivacanañca
hetunā;
Sakkāyena
duve
vuttā,
assādaviññāṇakena
ca;
Ete
dasavidhā
vuttā,
hoti
bhikkhu
pucchāyā”ti.
Chú Thích
Đông
Phương Tự -
Pubbārāma –
là ngôi chùa
nằm ở cổng
phía đông
của thành
Sāvatthi do
đại tín nữ
Visākhā dâng
cúng. Pháp
Xá
Migāramātupāsāda
nằm ngôi
chùa nầy.
Migāra
là tên cha
chồng của bà
Visākhā.
Migāramātu
có nghĩa là
Mẹ của
Mirāga. Vì
người cha
chồng trước
kia sùng tín
ngoại giáo
Ni Kiền Tử
sau nầy nhờ
con dâu
Visākhā mà
ông trở
thành vị
thánh nhập
lưu nên ông
gọi con dâu
là “mẹ tinh
thần” của
mình để tri
ân. Cách gọi
nầy trở
thành danh
gọi phổ
thông sau
nầy. Đúng ra
nên gọi
“Pháp Xá
Migāramātu”
hơn là dịch
tên người
thành “Lộc
Mẫu Giảng
Đường” . Chữ
Mirāga có
nghĩa là con
nai. Danh từ
riêng “Lộc
Mẫu Giảng
Đường” rất
phổ thông
trong Hán
Tạng. Nhưng
điều hơi lạ
là Phật tử
Việt Nam ít
biết về bà
Visākhā mà
trong Hán
Tạng gọi
theo phiên
âm là Tỳ Xá
Khư.
Mười câu hỏi
trong bài
kinh nầy có
thể xem là
tổng hợp ý
nghĩa của
nhiều bài
kinh trong
Phẩm Uẩn.
Theo Sớ Giải
câu hỏi dục
tham với năm
thủ uẩn là
một hay là
khác được
Đức Phật trả
lời: “Chấp
thủ ấy không
là năm thủ
uẩn cũng
không phải
ngoài năm
thủ uẩn. Chỗ
nào có tham
và dục, chỗ
ấy có chấp
thủ” bởi vì
năm uẩn
không thể
thu tóm lại
thàn dục
tham nên
không thể
nói dục tham
với năm uẩn
là một. Dục
tham là
thuộc tánh
(cetasika)
của tâm nên
không thể
nói là năm
ngoài năm
uẩn.
Chữ
paññāpanāya
nguyên nghĩa
là hiển thị,
làm cho
biết. Ở đây
dịch là định
hình theo
ngữ cảnh.
Theo Sớ Giải
Trung Bộ thì
một tỳ kheo
khác có thắc
mắc riêng
trong lòng:
“Nếu Ngài
nói sắc là
vô ngã, thọ
… tưởng …
các hành …
thức là vô
ngã, vậy thì
không có ai
tạo nghiệp,
không ai gặt
quả?” do vị
nầy chấp
thường kiến.
Cũng theo Sớ
Giải Trung
Bộ, khi bài
kinh nầy
được giảng
có 60 tỳ
khưu chứng
quả A la
hán. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |