|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 29 tháng 07, 2024
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần IV: ÔN CỐ TRI TÂN
- CÁI TẦM THƯỜNG KHÔNG TẦM THƯỜNG-
Cullaka-Setthi Jataka (Bổn sanh số 4)
Appakenapi medhāvī,
Người
có trí khôn ngoan
Câu chuyện xa xưa
Ngày xưa rất xưa, Bồ tát là một viên quan thủ khố với tư
chất mẫn tiệp thường có cái nhìn khác đời. Một lần vị
quan nầy đi đường nhìn thấy một xác chuột chết, cùng lúc
cũng thấy bên cạnh có một thanh niên hiền lành nhưng
sáng dạ. Vị quan nói như tự nói với chính mình: “Người
khôn khéo có thể từ xác chuột chết làm nên đại nghiệp”.
Anh thanh niên nghe vậy suy nghĩ: Vị quan nầy không phải
là người tầm thường; lời nói ẩn chứa những giá trị không
thể xem thường”.
Rồi thanh niên đó nhặt xác chuột cầm đi một đoạn
đường thì bổng có tiếng gọi từ trong một hàng quán: “Nè,
cầm xác chuột đi đâu đó. Hãy đưa cho ta để làm thức ăn
cho con mèo cưng. Đây là đồng xu. Cầm đi. Tiền mua con
chuột đấy”.
Cầm đồng xu trong tay, người thanh niên đi ngang một khu
rừng. Lúc ấy lại gặp một người vác một bao lớn bông hoa
thu hái trong rừng. Thấy vậy người thanh niên đề nghị
giúp khuân vác một đoạn. Người hái hoa rừng cảm kích và
nói “Có tiền không? Chỉ cần đưa ta một xu thôi, ta sẽ
đưa hết những bông hoa nầy. Sáng mai đem vào chợ bán sẽ
có lời đó!”.
Đúng như lời người đi rừng hái hoa đã nói, hôm
sau người thanh niên đem số bông hoa ra chợ bán được tám
đồng xu.
Đang vui với tiền kiếm được anh ghé vào quán nước mua
đường và nước uống. Chợt trong thấy những đứa trẻ đang
chơi đùa gần đó, anh thanh niên mua thêm một số đường và
nước đem cho. Mọi người cùng uống nước và vui đùa.
Đêm đó một cơn mưa giông lớn đi ngang thành phố. Vườn
ngự uyển bị gẫy đổ nhiều cây lớn. Anh thanh niên sáng
hôm sau đi ngoài đường bỗng nghe tiếng gọi của một bác
lớn tuổi. Bác nầy tự nhận là người làm vườn cho nhà vua
và đề nghị anh giúp thu dọn một tay và sẽ trả tiền công.
Anh thanh niên trả lời là không cần trả tiền công chỉ
cần sau khi thu dọn thì tất cả thân và nhánh cây bỏ đi
cho anh mang về. Người làm vườn hết sức vui vẻ đồng ý.
Lúc ấy bọn trẻ hôm qua ở đâu lại xuất hiện. Mọi người
cùng thu dọn. Anh thanh niên đãi bọn trẻ một bữa ăn ngon
sau khi đã gom lại một đống củi lớn.
Vận may vẫn tiếp tục mỉm cười với thanh niên dễ thương
nầy. Một người thợ gốm đi ngang thấy đống củi đề nghị
mua tất cả với giá mười sáu đồng xu. Với số tiền nầy,
người thanh niên vui vẻ đi ra ngoại thành. Từ xa trong
thấy những người cắt cỏ cho ngựa ăn đang làm việc giữa
trưa nắng vất vả. Anh thanh niên nghĩ mình đang vui nên
làm cái gì cho người khác vui. Thế là anh mua nước và
kẹo biếu cho những người cắt cỏ. Những người ấy rất cảm
kích. Sau khi uống nước và nghĩa ngơi họ nói chuyện
riêng với nhau rồi kêu anh lại bảo rằng: “Này người bạn
trẻ, chúng ta không biết phải cảm ơn bạn thế nào. Chúng
ta chỉ có cỏ. Bạn lấy mấy mươi bó cỏ nầy về nhà. Ngày
mai nầy sẽ có một đoàn thương buôn lớn tới đây. Họ cần
mua cỏ cho bầy ngựa ăn. Chúng ta sẽ tránh mặt không đem
cỏ ra bán. Ngươi hãy đem số cỏ nầy bán cho họ với giá
một nghìn đồng xu. Ngươi bán xong thì chúng ta sẽ đem cỏ
ra bán như thường lệ. Nhớ chưa?!”
Hôm sau, đúng là có một đoàn thương buôn đến thành phố.
Họ vội vã đi tìm mua cỏ cho bầy ngựa đang đói. Không tìm
thấy số đông người bán cỏ tương như thường lệ mà chỉ có
một thanh niên đứng bán. Sau khi thương lượng, họ đã trả
một ngàn đồng để mua số cỏ đó. Với số vốn nầy người
thanh niên đi gom mua những đặc sản trong thành. Không
lâu sau đó một đoàn thương buôn từ xa đến nhận ra rằng
họ chỉ có thể mua những đặc sản từ người thanh niên. Hai
bên đồng ý trao đổi hàng hoá. Giao dịch nầy khiến anh
thanh niên có được khoản tiền lớn hai trăm ngàn đồng.
Chỉ có bốn tháng mà từ một người tay trắng bây giờ lại
có được một gia sản lớn. Anh thanh niên nghĩ đến vị quan
thủ khố, tức đức Bồ tát, nên tìm đến tư dinh với bao thơ
một ngàn đồng để hậu tạ sau khi kể lại “con đường khởi
nghiệp” của mình. Nghe xong vị quan thủ khố bảo rằng:
“Ta không cần tiền hậu tạ mà chỉ cần một đứa con rễ vừa
ý. Nếu ngươi chịu thì chấp nhận lấy con gái ta làm vợ”.
Anh thanh niên đồng ý. Sau nầy khi vị quan thủ khố qua
đời, người thanh niên ấy kế thừa trở thành thủ khố của
triều đình.
Một câu chuyện cổ tích đẹp như… cổ tích.
Câu chuyện trong thời của Đức Phật
Thời Phật trụ thế có một tiểu thơ con nhà giàu có đem
lòng yêu thương một thanh niên lực điền trong nhà. Biết
gia đình không chấp nhận nên cả hai trốn đi xứ khác xây
tổ uyên ương. Khi người vợ có thai gần đến kỳ sanh nở
lại muốn về nhà cha mẹ để xin tha thứ và chấp nhận.
Người chồng không đồng ý vì biết quan niệm bảo thủ của
cha mẹ vợ. Người vợ sau đó tự ý lẻn ra đi nhưng dọc
đường thì chuyển dạ sanh con. May mắn lúc đó người chồng
tìm tới kịp và đưa hai mẹ cho trở lại nhà bình yên. Sự
việc nầy cũng lập lại lần thứ hai. Do hai bé sanh ra
giữa đường nên cha mẹ đặt tên là Panthaka (Khách Lữ,
phiên âm là Bàn Đặt). Bé anh gọi là Panthaka Lớn, bé em
gọi là Panthaka Nhỏ.
Sau nầy khi hai con khôn lớn, vợ chồng đưa về gặp cha
mẹ. Gia đình không chấp nhận người con rễ xuất thân
nghèo hèn chỉ cho một số tiền rồi bảo cứ tiếp tục sống
ly hương nhưng chịu thừa nhận nuôi hai cháu ngoại.
Sống bên gia đình ngoại, hai anh em Panthaka Lớn và
Panthaka Nhỏ
thừa kế sản nghiệp trở thành doanh nhân khá giả. Cả hai
cùng có tín tâm ở Tam Bảo. Sau nầy người anh quyết định
xuất gia theo Phật và người em cũng hết lòng xin đi tu
theo bào huynh.
Xuất gia rồi Tỳ khưu Cūlapanthaka (Panthaka Nhỏ) mới
nhận ra là mình có năng khiếu buôn bán nhưng lại rất khó
khăn học kinh điển nhất là học thuộc lòng những câu
kinh. Sự việc tệ hại đến đỗi người sư huynh khuyên sư đệ
nên hoàn tục để có đời sống cư sĩ tốt hơn.
Hôm đó tất cả chư tăng cùng đi với Đức Phật đến nhà thái
y Jīvaka thọ trai. Tỳ khưu Cūlapanthaka ở lại chùa một
mình do sự căn dặn của người anh ruột là Tôn giả
Mahāpanthaka để buổi sáng xả giới hoàn tục. Vị sư đệ dù
tối dạ không học thuộc kinh nhưng lại rất muốn tu nên
buồn bã vô cùng khi nghĩ đến chuyện rời xa chiếc y ca
sa. Bất chợt nhìn lên thấy Đức Phật đang đứng trước mặt;
Ngài hỏi “Tại sao buồn vậy?”. Tôn giả kể lại trường hợp
của mình vì tối dạ nên sư huynh dạy nên hoàn tục mặc dù
rất muốn giữ áo tu. Đức Phật ôn tồn dạy rằng: “Con không
cần trở về đời cư sĩ. Cầm lấy khăn tay trắng nầy và quán
niệm”. Đức Phật và chư tăng đi rồi Tôn giả cầm chiếc
khăn trắng cố tìm đọc “kinh vô tự” mà chẳng thấy gì.
Không lâu sau đó Tôn giả chợt nhận ra chiếc khăn bây giờ
không còn trắng tinh như khi Đức Phật đưa mà đã có chút
vết bẩn. Ngay giây phút đó Tôn giả tỏ ngộ đạo lý vô
thường và chứng quả a la hán với lục thông. Sau khi đắc
đạo, Ngài muốn làm cái gì để biết ơn Phật nên biến hiện
thành nhiều thân quét dọn khắp ngôi đại tự mênh mông.
Bấy giờ tại nhà thái y Jīvaka, lễ cúng dường thực phẩm
bắt đầu. Trước hết thái y dâng nước lên Đức Phật. Thay
vì nhận nước thì Đức Phật hỏi: “Tất cả chư tăng đã đến
đây đông đủ chưa?”. Thái y là một bậc thánh sơ quả hiểu
rằng Đức Phật đã hỏi thì phải có duyên cớ nên sai một
người trong nhà nhanh chóng đến chùa xem có vị sư nào
còn ở đó. Người đi rồi về báo rằng trong chùa có đông
đảo chư tăng đăng quét dọn. Trước sự ngạc nhiên của
nhiều người, Đức Phật dạy: “Hãy quay lại chùa và nói với
một tỳ khưu: "Tôn giả Cūlapanthaka, Bậc Đạo Sư cho gọi
Ngài”. Người nhà làm như vậy lập tức tất cả tỳ khưu biến
trở thành một vị và đi theo tới nhà thái y thọ trai. Hôm
đó Đức Phật chỉ định Tôn giả Cūlapanthaka nói lời chúc
lành và thuyết pháp cho thí chủ. Pháp thoại không chỉ
mang lại sự ngạc nhiên mà còn tạo nên niềm hoan hỷ lớn
lao từ một vị mà trước kia ai cũng biết là học một kệ
ngôn ngắn mấy tháng cũng không thuộc.
Chiều hôm ấy tại chùa, Đức Phật dạy sở dĩ Tôn giả
Cūlapanthaka thời gian đầu xuất gia tối dạ vì nghiệp quá
khứ từng là một tỳ khưu chế nhạo vị khác học kinh chậm
nhưng ba la mật đầy đủ nên bây giờ chứng quả a la hán
với lục thông và tuệ phân tích. Đức Phật cũng nhắc lại
chuyện tiền thân mà cũng chính Ngài là người chỉ điểm
cho thanh niên làm nên cơ nghiệp từ xác chuột chết. Viên
quan thủ khố là tiền thân của Đức Phật và người thanh
niên là Cūlapanthaka. Rồi Đấng Đại Gíác nói thêm:
Người
có trí khôn ngoan
Mới hay ở đời có những thành tựu phi thường bắt đầu bằng
cái rất tầm thường. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình. |