|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 31 tháng 07, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 341. KHÔNG CỐT LÕI THÌ CÓ GÌ ĐỂ BÁM CHẤP?- Kinh Bọt Nổi (Pheṇapiṇḍūpamasuttaṃ). ******
Đi tìm chân ngã là sự khao khát muôn thuở của kiếp nhân sinh. Ý niệm “ta là ai” nếu được trả lời chính xác là sự tồn tại của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mỗi thành phần có tự tánh riên nhưng xét kỹ tất cả đều giả hợp, huyễn hoá. Vấn đề là sự chấp thú tạo nên sự thất vọng và phiền luỵ. Có ai nắm bắt được những bong bóng nước mỏng manh, chóng vỡ? Hành giả sẽ an nhiên khi chấp nhập dòng hiện hữu là tập hợp của hiện tượng sanh diệt liên tục đổi thay.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Ayojjha, bên bờ sông Hằng. Tại đó, Đức Thế Tôn nói với chư Tỳ khưu: “Này chư Tỳ khưu, ví như con sông Hằng cuốn theo một khối bọt nổi lớn. Một người có mắt thấy nó, quan sát tường tận, suy ngẫm thấu đáo người ấy sẽ thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì khối bọt nổi này có gì là thực chất? Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, bất kỳ sắc nào, dù là quá khứ, tương lai hay hiện tại, nội giới hay ngoại giới, thô hay tế, hạ liệt hay thù thắng, xa hay gần, hành giả thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì sắc có gì là thực chất cốt lõi? “Này chư Tỳ khưu, ví như trong mùa mưa, khi những giọt nước mưa lớn rơi xuống, bong bóng nước xuất hiện và tan biến ngay lập tức. Một người có mắt thấy nó, quan sát tường tận, suy ngẫm thấu đáo người ấy sẽ thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì bong bóng nước có gì là thực chất? Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, bất kỳ thọ nào, dù là quá khứ, tương lai hay hiện tại, nội giới hay ngoại giới, thô hay tế, hạ liệt hay thù thắng, xa hay gần, hành giả thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì thọ có gì là thực chất cốt lõi? “Này chư Tỳ khưu, ví như vào giữa mùa hè, giữa trưa, ánh nắng mặt trời tạo ra ảo ảnh. Một người có mắt thấy nó, quan sát tường tận, suy ngẫm thấu đáo người ấy sẽ thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì ảo ảnh có gì là thực chất? Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, bất kỳ tưởng nào, dù là quá khứ, tương lai hay hiện tại, nội giới hay ngoại giới, thô hay tế, hạ liệt hay thù thắng, xa hay gần, hành giả thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì tưởng có gì là thực chất cốt lõi? “Này chư Tỳ khưu, ví như một người tìm kiếm lõi cây trong rừng, mang theo một chiếc rìu sắc nhọn. Người ấy thấy một cây chuối lớn, thẳng, mới mọc. Anh ta chặt nó ở gốc, chặt từng đoạn, bóc từng lớp vỏ. Khi bóc hết lớp vỏ, người ấy không thấy gì là thân cứng, không thấy cốt lõi. Một người có mắt thấy nó, quan sát tường tận, suy ngẫm thấu đáo người ấy sẽ thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì cây chuối có gì là thực chất cốt lõi? Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, bất kỳ hành nào, dù là quá khứ, tương lai hay hiện tại, nội giới hay ngoại giới, thô hay tế, hạ liệt hay thù thắng, xa hay gần, hành giả thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì hành có gì là thực chất cốt lõi? “Này chư Tỳ khưu, ví như một ảo thuật gia hoặc học trò của ảo thuật gia biểu diễn một màn ảo thuật trên ngã tư đường. Một người có mắt thấy nó, quan sát tường tận, suy ngẫm thấu đáo người ấy sẽ thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì trò ảo thuật có gì là thực chất cốt lõi? Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, bất kỳ thức nào, dù là quá khứ, tương lai hay hiện tại, nội giới hay ngoại giới, thô hay tế, hạ liệt hay thù thắng, xa hay gần, hành giả thấy nó trống rỗng, huyễn thể và không có cốt lõi. Này chư Tỳ khưu, bởi vì thức có gì là thực chất cốt lõi? Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu thấy vậy sanh tâm yểm ly đối với sắc, yểm ly đối với thọ, yểm ly đối với tưởng, yểm ly đối với hành, yểm ly đối với thức. Do yểm ly vị ấy ly tham. Do ly tham, tâm được giải thoát. Khi tâm được giải thoát vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Đức Thế Tôn thuyết như vậy. Đấng Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói thêm:
Chú thích: Thị trấn Ayujjhapura nằm bên bờ sông Hằng (Ganga). Theo sớ giải thì dân chúng ở đây đã xây dựng tịnh xá ven sông với nhiều đại thụ cúng dường Đức Phật và Tăng chúng. Đức Phật giảng kinh này vào buổi chiều trong ngày khánh thành tịnh xá. Sắc uẩn hay xác thân là thành phần vật chất của con người. Mặc dù nhìn tấm thân như là một thực thể với hình vóc đẹp, xấu, cao, thấp... nhưng nếu qua cái nhìn rõ hơn, như về mặt y khoa, thì xác thân chỉ là tập hợp của những tế bào vốn liên tục biến đổi. Thọ uẩn hay cảm thọ khổ, lạc, ưu, hỷ, xả vốn do nhiều nhân duyên tạo thành và hoại diệt chóng vánh như bong bóng nước trước hiên nhà trong ngày mưa. Đâu ai có thể cầm nắm được bọt nước vốn mỏng mảnh. Tưởng uẩn hay sự nhận thức do trải nghiệm cũng chỉ là sự tồn đọng của quá khứ. Thấy như thực nhưng kỳ thật chỉ là biến hoá của nội tại giống như ảo ảnh giữa sa mạc. Thấy dường như là hồ nước lớn nhưng chỉ là ảo ảnh. Hành uẩn hay sự tạo tác của tâm. Là một thứ phức cảm với nhiều thuộc tính. Khi phân ra thành từng thứ riêng biệt thì chẳng có gì là thực thể cốt lõi, như thân cây chuối lột ra từng lớp cuối cùng chẳng còn gì. Thức uẩn hay các giác quan như trò ảo thuật. Do thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy tư tạo nên muôn ngàn ý niệm, kỳ thật chỉ là tâm đối cảnh rồi biến hoá vô cùng. Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu Ekaṃ samayaṃ bhagavā ayujjhāyaṃ viharati gaṅgāya nadiyā tīre. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: Một thời Thế Tôn ở Ayujjāya, trên bờ sông Hằng. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo … “Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṃ gaṅgā nadī mahantaṃ pheṇapiṇḍaṃ āvaheyya. Tamenaṃ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, pheṇapiṇḍe sāro? —Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được? Evameva kho, bhikkhave, yaṃ kiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ …pe… yaṃ dūre santike vā taṃ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, rūpe sāro? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được? Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye thullaphusitake deve vassante udake udakapubbuḷaṃ uppajjati ceva nirujjhati ca. Tamenaṃ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, udakapubbuḷe sāro? Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được? Evameva kho, bhikkhave, yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā …pe… yā dūre santike vā taṃ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, vedanāya sāro? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được? Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṃ pacchime māse ṭhite majjhanhike kāle marīcikā phandati. Tamenaṃ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya …pe… kiñhi siyā, bhikkhave, marīcikāya sāro? Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng … Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được? Evameva kho, bhikkhave, yā kāci saññā …pe…. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṃ caramāno tiṇhaṃ kuṭhāriṃ ādāya vanaṃ paviseyya. So tattha passeyya mahantaṃ kadalikkhandhaṃ ujuṃ navaṃ akukkukajātaṃ. Tamenaṃ mūle chindeyya; mūle chetvā agge chindeyya, agge chetvā pattavaṭṭiṃ vinibbhujeyya. So tassa pattavaṭṭiṃ vinibbhujanto pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṃ. Tamenaṃ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, kadalikkhandhe sāro? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có tưởng gì … Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây? Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy, cụm chuối ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong cụm chuối được? Evameva kho, bhikkhave, ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā …pe… ye dūre santike vā taṃ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, saṅkhāresu sāro? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát hành ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, hành ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong các hành được? Seyyathāpi, bhikkhave, māyākāro vā māyākārantevāsī vā catumahāpathe māyaṃ vidaṃseyya. Tamenaṃ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, māyāya sāro? Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Evameva kho, bhikkhave, yaṃ kiñci viññāṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ …pe… yaṃ dūre santike vā, taṃ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṃ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, viññāṇe sāro? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại … hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong thức được? Evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti …pe… nāparaṃ itthattāyāti pajānāti”. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy. Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā: Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm: vedanā bubbuḷūpamā; Marīcikūpamā saññā, saṅkhārā kadalūpamā; Māyūpamañca viññāṇaṃ, desitādiccabandhunā. Sắc ví với đống bọt, Thọ ví bong bóng nước, Tưởng ví ráng mặt trời, Hành ví với cây chuối, Thức ví với ảo thuật, Ðấng bà con mặt trời, Ðã thuyết giảng như vậy. Yathā yathā nijjhāyati, yoniso upaparikkhati; Rittakaṃ tucchakaṃ hoti, yo naṃ passati yoniso. Nếu như vậy chuyên chú, Như lý chơn quán sát, Như lý nhìn các pháp, Hiện rõ tánh trống không. Imañca kāyaṃ ārabbha, bhūripaññena desitaṃ; Pahānaṃ tiṇṇaṃ dhammānaṃ, rūpaṃ passatha chaḍḍitaṃ. Bắt đầu với thân này, Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng, Ðoạn tận cả ba pháp, Thấy sắc bị quăng bỏ. Āyu usmā ca viññāṇaṃ, yadā kāyaṃ jahantimaṃ; Apaviddho tadā seti, parabhattaṃ acetanaṃ. Thân bị quăng, vô tri, Không thọ, sức nóng, thức, Bị quăng đi, nó nằm, Làm đồ ăn kẻ khác. Etādisāyaṃ santāno, māyāyaṃ bālalāpinī; Vadhako esa akkhāto, sāro ettha na vijjati. Cái thân liên tục này, Ảo sư, kẻ ngu nói, Ðược gọi kẻ sát nhân, Không tìm thấy lõi cây. Evaṃ khandhe avekkheyya, bhikkhu āraddhavīriyo; Divā vā yadi vā rattiṃ, sampajāno paṭissato. Hãy quán uẩn như vậy, Vị Tỷ-kheo tinh cần, Suốt cả đêm lẫn ngày, Tỉnh giác, chánh tư niệm. Jaheyya sabbasaṃyogaṃ, kareyya saraṇattano; Careyyādittasīsova, patthayaṃ accutaṃ padan”ti. Hãy bỏ mọi kiết sử, Làm chỗ mình nương tựa, Sống như lửa cháy đầu, Cầu chứng cảnh bất động.
-ooOoo- |