BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 01 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Rắn Độc- SN 35.245. Bài 447. NHIỀU CÁCH NÓI VỀ MỘT SỰ THỂ - Kinh Cây Kiṃsuka (Kiṃsukopamasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-447.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Có nhiều cách nói về một sự thể. Nói khác không hẳn là sai. Khẳng định chỉ có một cách đúng lại là điều sai. Giống như có nhiều con đường dẫn tới trung tâm thành phố. Có nhiều người dẫn đường nói lên lộ trình dựa trên kinh nghiệm của mình. Người nghe đôi lúc nhận thấy khác biệt giữa lời người nầy so với người kia. Đúng hay sai không nằm ở chỗ khác hay giống trong diễn tả. Đạo là con đường thực nghiệm bản thân. Tất cả minh hoạ chỉ là “ngón tay chỉ mặt trăng”

 KINH VĂN

245. atha kho aññataro bhikkhu yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ etadavoca — “kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti? “yato kho, āvuso, bhikkhu channaṃ phassāyatanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti.

atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena {pañhāveyyākaraṇena (syā. kaṃ. ka.)}, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ etadavoca — “kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti? “yato kho, āvuso, bhikkhu pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti.

atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ etadavoca — “kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti? “yato kho, āvuso, bhikkhu catunnaṃ mahābhūtānaṃ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti.

atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ etadavoca — “kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti? “yato kho, āvuso, bhikkhu yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhammanti yathābhūtaṃ pajānāti, ettāvatā, kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti.

atha kho so bhikkhu asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavoca — “idhāhaṃ, bhante, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkamiṃ; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ etadavocaṃ — kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī’ti? evaṃ vutte, bhante, so bhikkhu maṃ etadavoca — ‘yato kho, āvuso, bhikkhu channaṃ phassāyatanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī’ti. atha khvāhaṃ, bhante, asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro bhikkhu tenupasaṅkamiṃ; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ etadavocaṃ — ‘kittāvatā nu kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī’ti? evaṃ vutte, bhante, so bhikkhu maṃ etadavoca — ‘yato kho, āvuso, bhikkhu pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ ... pe ... catunnaṃ mahābhūtānaṃ samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti ... pe ... yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhammanti yathābhūtaṃ pajānāti, ettāvatā kho, āvuso, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī’ti. atha khvāhaṃ, bhante, asantuṭṭho tassa bhikkhussa pañhaveyyākaraṇena yena bhagavā tenupasaṅkamiṃ ( ) {(upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavocaṃ) (ka.)} . kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhuno dassanaṃ suvisuddhaṃ hotī”ti?

“seyyathāpi, bhikkhu, purisassa kiṃsuko adiṭṭhapubbo assa. so yenaññataro puriso kiṃsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya. upasaṅkamitvā taṃ purisaṃ evaṃ vadeyya — ‘kīdiso, bho purisa, kiṃsuko’ti? so evaṃ vadeyya — ‘kāḷako kho, ambho purisa, kiṃsuko — seyyathāpi jhāmakhāṇū’ti. tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṃsuko yathāpi {yathā (sī. syā. kaṃ.) dutiyavārādīsu pana “yathāpi”tveva dissati} tassa purisassa dassanaṃ. atha kho, so bhikkhu, puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṃsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṃ purisaṃ evaṃ vadeyya — ‘kīdiso, bho purisa, kiṃsuko’ti? so evaṃ vadeyya — ‘lohitako kho, ambho purisa, kiṃsuko — seyyathāpi maṃsapesī’ti. tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṃsuko yathāpi tassa purisassa dassanaṃ. atha kho so bhikkhu puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṃsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṃ purisaṃ evaṃ vadeyya — ‘kīdiso, bho purisa, kiṃsuko’ti? so evaṃ vadeyya — ‘ocīrakajāto {ojīrakajāto (sī.), odīrakajāto (pī.)} kho, ambho purisa, kiṃsuko ādinnasipāṭiko — seyyathāpi sirīso’ti. tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṃsuko, yathāpi tassa purisassa dassanaṃ. atha kho so bhikkhu puriso asantuṭṭho tassa purisassa pañhaveyyākaraṇena, yenaññataro puriso kiṃsukassa dassāvī tenupasaṅkameyya; upasaṅkamitvā taṃ purisaṃ evaṃ vadeyya — ‘kīdiso, bho purisa, kiṃsuko’ti? so evaṃ vadeyya — ‘bahalapattapalāso sandacchāyo {saṇḍacchāyo (syā. kaṃ.)} kho, ambho purisa, kiṃsuko — seyyathāpi nigrodho’ti. tena kho pana, bhikkhu, samayena tādisovassa kiṃsuko, yathāpi tassa purisassa dassanaṃ. evameva kho, bhikkhu, yathā yathā adhimuttānaṃ tesaṃ sappurisānaṃ dassanaṃ suvisuddhaṃ hoti, tathā tathā kho tehi sappurisehi byākataṃ.

“seyyathāpi, bhikkhu, rañño paccantimaṃ nagaraṃ daḷhuddhāpaṃ {daḷhuddāpaṃ (sī. pī.)} daḷhapākāratoraṇaṃ chadvāraṃ. tatrassa dovāriko paṇḍito byatto medhāvī, aññātānaṃ nivāretā, ñātānaṃ pavesetā. puratthimāya disāya āgantvā sīghaṃ dūtayugaṃ taṃ dovārikaṃ evaṃ vadeyya — ‘kahaṃ, bho purisa, imassa nagarassa nagarassāmī’ti? so evaṃ vadeyya — ‘eso, bhante, majjhe siṅghāṭake nisinno’ti. atha kho taṃ sīghaṃ dūtayugaṃ nagarassāmikassa yathābhūtaṃ vacanaṃ niyyātetvā yathāgatamaggaṃ paṭipajjeyya. pacchimāya disāya āgantvā sīghaṃ dūtayugaṃ ... pe ... uttarāya disāya... dakkhiṇāya disāya āgantvā sīghaṃ dūtayugaṃ taṃ dovārikaṃ evaṃ vadeyya — ‘kahaṃ, bho purisa, imassa nagarassāmī’ti? so evaṃ vadeyya — ‘eso, bhante, majjhe siṅghāṭake nisinno’ti. atha kho taṃ sīghaṃ dūtayugaṃ nagarassāmikassa yathābhūtaṃ vacanaṃ niyyātetvā yathāgatamaggaṃ paṭipajjeyya.

“upamā kho myāyaṃ, bhikkhu, katā atthassa viññāpanāya. ayañcettha attho — ‘nagaran’ti kho, bhikkhu, imassetaṃ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṃ mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṃsanadhammassa. ‘cha dvārā’ti kho, bhikkhu, channetaṃ ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ adhivacanaṃ. ‘dovāriko’ti kho, bhikkhu, satiyā etaṃ adhivacanaṃ. ‘sīghaṃ dūtayugan’ti kho, bhikkhu, samathavipassanānetaṃ adhivacanaṃ. ‘nagarassāmī’ti kho, bhikkhu, viññāṇassetaṃ adhivacanaṃ. ‘majjhe siṅghāṭako’ti kho, bhikkhu, catunnetaṃ mahābhūtānaṃ adhivacanaṃ — pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā. ‘yathābhūtaṃ vacanan’ti kho, bhikkhu, nibbānassetaṃ adhivacanaṃ. ‘yathāgatamaggo’ti kho, bhikkhu, ariyassetaṃ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṃ, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhiyā ... pe ... sammāsamādhissā”ti. aṭṭhamaṃ.

1. Một vị Tỳ khưu đến hỏi một vị khác:
— “Hiền giả, như thế nào thì cái thấy của một vị Tỳ khưu được thanh tịnh?”
2. Vị kia đáp:
— “Hiền giả, khi một Tỳ khưu thấy rõ như nhiên về sự sanh khởi và hoại diệt của sáu xúc xứ, thì cái thấy của vị ấy được thanh tịnh.”
3–4. Vị Tỳ khưu đầu tiên chưa hài lòng với câu trả lời ấy nên tiếp tục đến hỏi một vị khác:
— “Hiền giả, như thế nào thì cái thấy của một vị Tỳ khưu được thanh tịnh?”
— “Hiền giả, khi vị ấy thấy rõ như thật về sự khởi lên và hoại diệt của năm thủ uẩn, thì cái thấy của vị ấy được thanh tịnh.”
5–6. Vị ấy lại chưa thỏa mãn, đi hỏi một vị khác nữa:
— “Khi một Tỳ khưu thấy rõ như thật sự sinh và diệt của bốn đại chủng, thì cái thấy ấy được thanh tịnh.”
7–8. Vị ấy tiếp tục hỏi vị thứ tư, được trả lời:
— “Khi thấy rõ như thật rằng: ‘Bất cứ pháp gì có khởi sinh, đều có đoạn diệt’, thì cái thấy ấy là thanh tịnh.”
9. Vị Tỳ khưu đầu tiên, vẫn chưa thỏa mãn, đến đảnh lễ Thế Tôn, thuật lại toàn bộ sự việc và thưa:
— “Bạch Thế Tôn, như thế nào thì cái thấy của một Tỳ khưu được thanh tịnh?”
10–13.
Đức Phật nói:
— “Này Tỳ khưu, ví như có một người chưa từng thấy cây Kiṁsuka. Người ấy đến hỏi một người từng thấy và được trả lời:
— ‘Cây Kiṁsuka có màu đen như gốc cây cháy sém.’
Vào lúc đó, cây Kiṁsuka đúng là trông như vậy.
Người ấy chưa hài lòng, đi hỏi người khác, được đáp:
— ‘Cây Kiṁsuka có màu đỏ như một miếng thịt sống.’
Người ấy lại hỏi một người khác nữa:
— ‘Nó có vỏ xé rách, trái nứt ra, giống như cây keo.’
Hỏi thêm một người nữa, người này đáp:
— ‘Cây ấy có nhiều lá, tán rộng, mát rượi như cây đa.’
Tất cả những gì họ nói đều đúng theo cách họ từng thấy cây Kiṁsuka trong những thời điểm khác nhau.

14. “Cũng vậy, này Tỳ khưu, những bậc thượng nhân kia trả lời tùy theo nơi mà tri kiến họ được thanh tịnh, không phải sai lầm.

15. Ví như có một vị vua có một thành trì biên giới, với thành lũy vững chắc, sáu cổng vào. Có một người lính canh cổng thông minh, khôn ngoan, biết phân biệt người lạ và người quen. Một cặp sứ giả nhanh nhẹn từ phương Đông đến, hỏi lính canh:

— “Quan trấn thành ở đâu?”
Người lính đáp:
— “Ngài đang ở giữa quảng trường trung tâm.”

Cặp sứ giả vào gặp chúa thành, truyền đạt một thông điệp xác thật, rồi rời khỏi thành theo đúng ngả đã đến.
Tương tự, các sứ giả từ Tây, Nam, Bắc đến – đưa tin rồi đi.

16. Ta dùng ví dụ này, này Tỳ khưu, để truyền tải  ý nghĩa:

  • “Thành trì”: chính là thân xác này, được tạo từ bốn đại, do cha mẹ sinh, nuôi dưỡng bằng cơm cháo, chịu sự biến hoại, mài mòn, tan rã, phân tán.
  • “Sáu cổng”: là sáu nội xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).
  • “Người lính canh cổng”: là chánh niệm (sati).
  • “Cặp sứ giả nhanh nhẹn”: là định (samatha) và tuệ (vipassanā).
  • “Quan trấn thành”: là thức (viññāṇa).
  • “Quảng trường trung tâm”: là bốn đại (đất, nước, lửa, gió).
  • “Thông điệp xác thật”: là Niết-bàn (Nibbāna).
  • “Con đường mà họ đi đến và rời đi”: là Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, chánh tư duy … đến chánh định.”

Chú Thích

Sự thanh tịnh của cái thấy (dassana) thường có nghĩa là đạt được quả Dự lưu, hay đạt được "Pháp nhãn" (dhammacakkhu). Tuy nhiên, ở đây, với sự bổ sung "hoàn toàn thanh tịnh" (suvisuddha), dường như câu hỏi đang đề cập đến con đường dẫn đến quả vị A-la-hán. Sớ giải hiểu theo nghĩa này.

Sớ giải cho biết rằng tất cả các vị ty khưu trả lời đều là các bậc A-la-hán; họ trả lời phù hợp với phương pháp hành trì của riêng mình. Người đặt câu hỏi không hài lòng với câu trả lời đầu tiên vì nó chỉ đề cập một phần đến các hành (padesasankharesu hatva); vị ấ không hài lòng với các câu trả lời còn lại vì chúng dường như mâu thuẫn với nhau.

Kimsuka nghĩa đen là "cái gì đây?". Tên gọi này có thể bắt nguồn từ một câu đố dân gian Ấn Độ cổ. Kimsuka cũng được nhắc đến trong văn học Sanskrit (xem từ điển MW, mục từ ki). Cả từ điển PED và MW đều xác định đây là cây Butea frondosa. Liyanaratne liệt kê hai loại kimsuka ("Thực vật Nam Á phản ánh trong tác phẩm Abhidhānappadīpikā", §§43–44). Một loại, còn gọi là palibadda, được xác định là Erythrina variegata; tiếng Anh gọi là "coral tree" (cây san hô, thường được dùng để dịch cây paricchataka trong đoạn 48:68). Loại còn lại, gọi là palāsa, được xác định là Butea monosperma; tên tiếng Anh là "Bengal kino tree" hoặc "dhak tree". Dịch giả Woodward dịch là "cây Judas", nhưng điều này không hợp lý vì cây Judas thuộc chi Cercis, không phải loại trên.

Truyện ngụ ngôn Kimsukopama Jātaka (số 248; Ja I 265–66) bắt đầu bằng một tình huống tương tự như phần mở đầu bài kinh hiện tại, nhưng kể lại một câu chuyện khác về cây kimsuka để truyền đạt cùng một thông điệp. Trong bản Jātaka, cây kimsuka giống như một khúc gỗ cháy đen khi ra chồi non; giống cây đa khi lá xanh mướt; giống như một khối thịt khi đang trổ hoa; và giống cây keo khi đang ra quả. Theo Sớ giả, cây kimsuka trông như gốc cây cháy khi trụi lá; như khối thịt lúc nở hoa; vỏ xé tưa và trái nứt bung khi ra quả; và cho bóng râm dày đặc khi đầy lá. Sự giống hoa của nó với thịt là chủ đề của một bài thơ hài hước trong Thanh tịnh đạo (Vism 196,5–15; Ppn 6:91–92), nói về một con chó rừng tình cờ gặp cây kimsuka và vui mừng vì tìm thấy “một cái cây ra thịt”.

Sirīsa là cây Bồ-đề của đức Phật Kakusandha (xem DN I 4,12).

Sớ giải chú thích như bốn người mô tả cây kimsuka chỉ đơn giản mô tả theo những gì họ đã thấy, bốn vị tỳ-kheo này, sau khi đạt A-la-hán bằng cách thanh tịnh hóa cái thấy, đã mô tả Niết-bàn — yếu tố thanh tịnh hóa cái thấy — theo con đường mà các ngài chứng đạt. Sớ giải cũng so sánh bốn hình thức xuất hiện của cây với bốn phương pháp thiền định khác nhau mà các ngài tu tập để chứng đạt quả A-la-hán.

Sớ giải cũng đưa ra một phiên bản ví dụ . Tóm tắt như sau: Người cai quản thành phố là một hoàng tử, con của một vị Chuyển luân vương đức hạnh, được cha bổ nhiệm cai quản một vùng biên địa. Bị ảnh hưởng bởi bạn xấu, hoàng tử trở nên trụy lạc, dành thời gian uống rượu, nghe nhạc và xem múa hát. Nhà vua cử hai sứ giả đến để khuyên nhủ ông bỏ thói phóng dật và trở về làm tròn bổn phận. Một sứ giả là chiến binh dũng mãnh (tượng trưng cho thiền chỉ — samatha), người kia là vị quan thông thái (tượng trưng cho thiền quán — vipassanā). Chiến binh túm đầu hoàng tử và đe dọa chém đầu nếu không thay đổi: điều này ví như tâm bị “nắm chặt” và đứng yên nhờ định của sơ thiền. Việc bạn bè xấu bỏ chạy ví như năm triền cái biến mất khi sơ thiền khởi sinh. Khi hoàng tử đồng ý nghe lời vua, đó là giai đoạn hành giả xuất thiền. Khi vị quan đọc chiếu chỉ của vua, ấy là lúc hành giả bắt đầu tuệ quán với tâm đã mềm dẻo nhờ định. Khi hai sứ giả che lọng trắng lên đầu hoàng tử sau khi đăng quang, đó là lúc hành giả đạt A-la-hán bằng cách kết hợp thiền chỉ và thiền quán, được "che lọng trắng" của giải thoát.

Niết-bàn được gọi là “thông điệp của thực tại” (yathābhūta vacanaṃ) vì bản chất thực  là bất động và không biến đổi (yathābhūta sabhāvaṃ akuppaṃ avikāri). Cũng có thể dịch là thông điệp chân xác, thông điệp xác thực theo ngữ cảnh của ví dụ.

Sớ Giải

 245. aṭṭhame dassananti paṭhamamaggassetaṃ adhivacanaṃ. paṭhamamaggo hi kilesapahānakiccaṃ sādhento paṭhamaṃ nibbānaṃ passati, tasmā dassananti vuccati. gotrabhuñāṇaṃ pana kiñcāpi maggato paṭhamataraṃ passati, passitvā pana kattabbakiccassa kilesapahānassa abhāvena na dassananti vuccati. apica cattāropi maggā dassanameva. kasmā? sotāpattimaggakkhaṇe dassanaṃ visujjhati, phalakkhaṇe visuddhaṃ. sakadāgāmianāgāmiarahattamaggakkhaṇe visujjhati, phalakkhaṇe visuddhanti evaṃ kathentānaṃ bhikkhūnaṃ sutvā so bhikkhu “ahampi dassanaṃ visodhetvā arahattaphale patiṭṭhito dassanavisuddhikaṃ nibbānaṃ sacchikatvā viharissāmī”ti taṃ bhikkhuṃ upasaṅkamitvā evaṃ pucchi. so phassāyatanakammaṭṭhāniko channaṃ phassāyatanānaṃ vasena rūpārūpadhamme pariggahetvā arahattaṃ patto. ettha hi purimāni pañca āyatanāni rūpaṃ, manāyatanaṃ arūpaṃ. iti so attanā adhigatamaggameva kathesi.

asantuṭṭhoti padesasaṅkhāresu ṭhatvā kathitattā asantuṭṭho. evaṃ kirassa ahosi — “ayaṃ padesasaṅkhāresu ṭhatvā kathesi. sakkā nu kho padesasaṅkhāresu ṭhatvā dassanavisuddhikaṃ nibbānaṃ pāpuṇitun”ti? tato naṃ pucchi — “āvuso, tvaṃyeva nu kho idaṃ dassanavisuddhikaṃ nibbānaṃ jānāsi, udāhu aññepi jānantā atthī”ti. atthāvuso, asukavihāre asukatthero nāmāti. so tampi upasaṅkamitvā pucchi. etenupāyena aññampi aññampīti.

ettha ca dutiyo pañcakkhandhakammaṭṭhāniko rūpakkhandhavasena rūpaṃ, sesakkhandhavasena nāmanti nāmarūpaṃ vavatthapetvā anukkamena arahattaṃ patto. tasmā sopi attanā adhigatamaggameva kathesi. ayaṃ pana “imesaṃ aññamaññaṃ na sameti, paṭhamena sappadesasaṅkhāresu ṭhatvāva kathitaṃ, iminā nippadesesū”ti asantuṭṭho hutvā tatheva taṃ pucchitvā pakkāmi.

tatiyo mahābhūtakammaṭṭhāniko cattāri mahābhūtāni saṅkhepato ca vitthārato ca pariggahetvā arahattaṃ patto, tasmā ayampi attanā adhigatamaggameva kathesi. ayaṃ pana “imesaṃ aññamaññaṃ na sameti, paṭhamena sappadesasaṅkhāresu ṭhatvā kathitaṃ, dutiyena nippadesesu, tatiyena atisappadesesū”ti asantuṭṭho hutvā tatheva taṃ pucchitvā pakkāmi.

catuttho tebhūmakakammaṭṭhāniko. tassa kira samappavattā dhātuyo ahesuṃ, kallasarīraṃ balapattaṃ, kammaṭṭhānānipissa sabbāneva sappāyāni, atītā vā saṅkhārā hontu anāgatā vā paccuppannā vā kāmāvacarā vā rūpāvacarā vā arūpāvacarā vā, sabbepi sappāyāva. asappāyakammaṭṭhānaṃ nāma natthi. kālesupi purebhattaṃ vā hotu pacchābhattaṃ vā paṭhamayāmādayo vā, asappāyo kālo nāma natthi. yathā nāma cāribhūmiṃ otiṇṇo mahāhatthī hatthena gahetabbaṃ hattheneva luñcitvā gaṇhāti, pādehi paharitvā gahetabbaṃ pādehi paharitvā gaṇhāti, evameva sakale tebhūmakadhamme kalāpaggāhena gahetvā sammasanto arahattaṃ patto, tasmā esopi attanā adhigatamaggameva kathesi. ayaṃ pana “imesaṃ aññamaññaṃ na sameti. paṭhamena sappadesasaṅkhāresu ṭhatvā kathitaṃ, dutiyena nippadesesu, puna tatiyena sappadesesu, catutthena nippadesesuyevā”ti asantuṭṭho hutvā taṃ pucchi — “kiṃ nu kho, āvuso, idaṃ dassanavisuddhikaṃ nibbānaṃ tumhehi attanova dhammatāya ñātaṃ, udāhu kenaci vo akkhātan”ti? āvuso, mayaṃ kiṃ jānāma? atthi pana sadevake loke sammāsambuddho, taṃ nissāyetaṃ amhehi ñātanti. so cintesi — “ime bhikkhū mayhaṃ ajjhāsayaṃ gahetvā kathetuṃ na sakkonti, ahaṃ sabbaññubuddhameva pucchitvā nikkaṅkho bhavissāmī”ti yena bhagavā tenupasaṅkami.

 bhagavā tassa vacanaṃ sutvā “yehi te pañho kathito, te cattāropi khīṇāsavā, sukathitaṃ tehi, tvaṃ pana attano andhabālatāya taṃ na sallakkhesī”ti na evaṃ vihesesi. kārakabhāvaṃ panassa ñatvā “atthagavesako esa, dhammadesanāya eva naṃ bujjhāpessāmī”ti kiṃsukopamaṃ āhari. tattha bhūtaṃ vatthuṃ katvā evamattho vibhāvetabbo — ekasmiṃ kira mahānagare eko sabbaganthadharo brāhmaṇavejjo paṇḍito paṭivasati. atheko nagarassa pācīnadvāragāmavāsī paṇḍurogapuriso tassa santikaṃ āgantvā taṃ vanditvā aṭṭhāsi. vejjapaṇḍito tena saddhiṃ sammoditvā “kenatthena āgatosi bhadramukhā”ti, pucchi. rogenamhi, ayya, upadduto, bhesajjaṃ me kathehīti. tena hi, bho, gaccha, kiṃsukarukkhaṃ chinditvā, sosetvā jhāpetvā, tassa khārodakaṃ gahetvā iminā ciminā ca bhesajjena yojetvā, ariṭṭhaṃ katvā piva, tena te phāsukaṃ bhavissatīti. so tathā katvā nirogo balavā pāsādiko jāto.

athañño dakkhiṇadvāragāmavāsī puriso teneva rogena āturo “asuko kira bhesajjaṃ katvā arogo jāto”ti sutvā taṃ upasaṅkamitvā pucchi — “kena te, samma, phāsukaṃ jātan”ti. kiṃsukāriṭṭhena nāma, gaccha tvampi karohīti. sopi tathā katvā tādisova jāto.

athañño pacchimadvāragāmavāsī ... pe ... uttaradvāragāmavāsī puriso teneva rogena āturo “asuko kira bhesajjaṃ katvā arogo jāto”ti taṃ upasaṅkamitvā pucchi “kena te, samma, phāsukaṃ jātan”ti? kiṃsukāriṭṭhena nāma, gaccha tvampi karohīti. sopi tathā katvā tādisova jāto.

athañño paccantavāsī adiṭṭhapubbakiṃsuko eko puriso teneva rogena āturo ciraṃ tāni tāni bhesajjāni katvā roge avūpasamamāne “asuko kira nagarassa pācīnadvāragāmavāsī puriso bhesajjaṃ katvā arogo jāto”ti sutvā “gacchāmahampi, tena katabhesajjaṃ karissāmī”ti daṇḍamolubbha anupubbena tassa santikaṃ gantvā, “kena te, samma, phāsukaṃ jātan”ti pucchi. kiṃsukāriṭṭhena sammāti. kīdiso pana so kiṃsukoti. jhāpitagāme ṭhitajhāmathūṇo viyāti. iti so puriso attanā diṭṭhākārenava kiṃsukaṃ ācikkhi. tena hi diṭṭhakāle kiṃsuko patitapatto khāṇukakāle diṭṭhattā tādisova hoti.

so pana puriso sutamaṅgalikattā “ayaṃ ‘jhāpitagāme jhāmathūṇo viyā’ti āha, amaṅgalametaṃ. etasmiñhi me bhesajje katepi rogo na vūpasamissatī”ti tassa veyyākaraṇena asantuṭṭho taṃ pucchi — “kiṃ nu kho, bho, tvaññeva kiṃsukaṃ jānāsi, udāhu aññopi atthī”ti. atthi, bho, dakkhiṇadvāragāme asuko nāmāti. so taṃ upasaṅkamitvā pucchi, svāssa pupphitakāle diṭṭhattā attano dassanānurūpena “lohitako kiṃsuko”ti āha. so “ayaṃ purimena viruddhaṃ āha, kāḷako lohitakato suvidūradūre”ti tassapi veyyākaraṇena asantuṭṭho “atthi pana, bho, aññopi koci kiṃsukadassāvī, yena kiṃsuko diṭṭhapubbo”ti? pucchitvā, “atthi pacchimadvāragāme asuko nāmā”ti vutte tampi upasaṅkamitvā pucchi. svāssa phalitakāle diṭṭhattā attano dassanānurūpena “ocirakajāto ādinnasipāṭiko”ti āha. phalitakālasmiñhi kiṃsuko olambamānacīrako viya adhomukhaṃ katvā gahitāsikoso viya ca sirīsarukkho viya ca lambamānaphalo hoti. so “ayaṃ purimehi viruddhaṃ āha, na sakkā imassa vacanaṃ gahetun”ti tassapi veyyākaraṇena asantuṭṭho “atthi pana, bho, aññopi koci kiṃsukadassāvī, yena kiṃsuko diṭṭhapubbo”ti? pucchitvā, “atthi uttaradvāragāme asuko nāmā”ti vutte tampi upasaṅkamitvā pucchi. so assa sañchannapattakāle diṭṭhattā attano dassanānurūpena “bahalapattapalāso sandacchāyo”ti āha. sandacchāyo nāma saṃsanditvā ṭhitacchāyo.

so “ayampi purimehi viruddhaṃ āha, na sakkā imassa vacanaṃ gahetun”ti tassapi veyyākaraṇena asantuṭṭho taṃ āha, “kiṃ nu kho, bho, tumhe attanova dhammatāya kiṃsukaṃ jānātha, udāhu kenaci vo akkhāto”ti? kiṃ, bho, mayaṃ jānāma? atthi pana mahānagarassa majjhe amhākaṃ ācariyo vejjapaṇḍito, taṃ nissāya amhehi ñātanti. “tena hi ahampi ācariyameva upasaṅkamitvā nikkaṅkho bhavissāmī”ti tassa santikaṃ upasaṅkamitvā taṃ vanditvā aṭṭhāsi. vejjapaṇḍito tena saddhiṃ sammoditvā, “kenatthena āgatosi bhadramukhā”ti pucchi. rogenamhi, ayya, upadduto, bhesajjaṃ me kathethāti. tena hi, bho, gaccha, kiṃsukarukkhaṃ chinditvā sosetvā jhāpetvā tassa khārodakaṃ gahetvā iminā ciminā ca bhesajjena yojetvā ariṭṭhaṃ katvā piva, etena te phāsukaṃ bhavissatīti. so tathā katvā nirogo balavā pāsādiko jāto.

tattha mahānagaraṃ viya nibbānanagaraṃ daṭṭhabbaṃ. vejjapaṇḍito viya sammāsambuddho. vuttampi ce taṃ “bhisakko sallakattoti kho, sunakkhatta, tathāgatassetaṃ adhivacanaṃ arahato sammāsambuddhassā”ti (ma. ni. 3.65) catūsu dvāragāmesu cattāro vejjantevāsikā viya cattāro dassanavisuddhipattā khīṇāsavā. paccantavāsī paṭhamapuriso viya pañhapucchako bhikkhu. paccantavāsino catunnaṃ vejjantevāsikānaṃ kathāya asantuṭṭhassa ācariyameva upasaṅkamitvā pucchanakālo viya imassa bhikkhuno catunnaṃ dassanavisuddhipattānaṃ khīṇāsavānaṃ kathāya asantuṭṭhassa satthāraṃ upasaṅkamitvā pucchanakālo.

yathā yathā adhimuttānanti yena yenākārena adhimuttānaṃ. dassanaṃ suvisuddhanti nibbānadassanaṃ suṭṭhu visuddhaṃ. tathā tathā kho tehi sappurisehi byākatanti tena tenevākārena tuyhaṃ tehi sappurisehi kathitaṃ. yathā hi “kāḷako kiṃsuko”ti kathento na aññaṃ kathesi, attanā diṭṭhanayena kiṃsukameva kathesi, evameva chaphassāyatanānaṃ vasena dassanavisuddhipattakhīṇāsavopi imaṃ pañhaṃ kathento na aññaṃ kathesi, attanā adhigatamaggena dassanavisuddhikaṃ nibbānameva kathesi.

yathā ca “lohitako ocirakajāto bahalapattapalāso kiṃsuko”ti kathentopi na aññaṃ kathesi, attanā diṭṭhanayena kiṃsukameva kathesi, evameva pañcupādānakkhandhavasena catumahābhūtavasena tebhūmakadhammavasena dassanavisuddhipattakhīṇāsavopi imaṃ pañhaṃ kathento na aññaṃ kathesi, attanā adhigatamaggena dassanavisuddhikaṃ nibbānameva kathesi.

tattha yathā kāḷakakāle kiṃsukadassāvinopi taṃ dassanaṃ bhūtaṃ tacchaṃ na tena aññaṃ diṭṭhaṃ, kiṃsukova diṭṭho, evameva chaphassāyatanavasena dassanavisuddhipattassāpi khīṇāsavassa dassanaṃ bhūtaṃ tacchaṃ, na tena aññaṃ kathitaṃ, attanā adhigatamaggena dassanavisuddhikaṃ nibbānameva kathitaṃ. yathā ca lohitakāle ocirakajātakāle bahalapattapalāsakāle kiṃsukadassāvinopi taṃ dassanaṃ bhūtaṃ tacchaṃ, na tena aññaṃ diṭṭhaṃ, kiṃsukova diṭṭho, evameva pañcupādānakkhandhavasena catumahābhūtavasena tebhūmakadhammavasena dassanavisuddhipattassāpi khīṇāsavassa dassanaṃ bhūtaṃ tacchaṃ, na tena aññaṃ kathitaṃ, attanā adhigatamaggena dassanavisuddhikaṃ nibbānameva kathitaṃ.

seyyathāpi, bhikkhu rañño paccantimaṃ nagaranti idaṃ kasmā āraddhaṃ? sace tena bhikkhunā taṃ sallakkhitaṃ, athassa dhammadesanatthaṃ āraddhaṃ. sace na sallakkhitaṃ, athassa iminā nagaropamena tassevatthassa dīpanatthāya āvibhāvanatthāya āraddhaṃ. tattha yasmā majjhimapadese nagarassa pākārādīni thirāni vā hontu dubbalāni vā, sabbaso vā mā hontu, corāsaṅkā na honti, tasmā taṃ aggahetvā “paccantimaṃ nagaran”ti āha. daḷhuddhāpanti thirapākāraṃ. daḷhapākāratoraṇanti thirapākārañceva thiratoraṇañca. toraṇāni nāma hi purisubbedhāni nagarassa alaṅkāratthaṃ karīyanti, coranivāraṇatthānipi hontiyeva. atha vā toraṇanti piṭṭhasaṅghāṭassetaṃ nāmaṃ, thirapiṭṭhasaṅghāṭantipi attho. chadvāranti nagaradvāraṃ nāma ekampi hoti dvepi satampi sahassampi, idha pana satthā chadvārikanagaraṃ dassento evamāha. paṇḍitoti paṇḍiccena samannāgato. byattoti veyyattiyena samannāgato visadañāṇo. medhāvīti ṭhānuppattikapaññāsaṅkhātāya medhāya samannāgato.

puratthimāya disāyātiādimhi bhūtamatthaṃ katvā evamattho veditabbo — samiddhe kira mahānagare sattaratanasampanno rājā cakkavatti rajjaṃ anusāsati, tassetaṃ paccantanagaraṃ rājāyuttavirahitaṃ, atha purisā āgantvā “amhākaṃ, deva, nagare āyuttako natthi, dehi no kiñci āyuttakan”ti āhaṃsu. rājā ekaṃ puttaṃ datvā “gacchatha, etaṃ ādāya tattha abhisiñcitvā vinicchayaṭṭhānādīni katvā vasathā”ti. te tathā akaṃsu. rājaputto pāpamittasaṃsaggena katipāheyeva surāsoṇḍo hutvā, sabbāni vinicchayaṭṭhānādīni hāretvā, nagaramajjhe dhuttehi parivārito suraṃ pivanto naccagītādiratiyā vītināmeti. atha rañño āgantvā ārocayiṃsu.

rājā ekaṃ paṇḍitaṃ amaccaṃ āṇāpesi — “gaccha kumāraṃ ovaditvā, vinicchayaṭṭhānādīni kāretvā, puna abhisekaṃ katvā, ehī”ti. na sakkā, deva, kumāraṃ ovadituṃ, caṇḍo kumāro ghāteyyāpi manti. athekaṃ balasampannaṃ yodhaṃ āṇāpesi — “tvaṃ iminā saddhiṃ gantvā sace so ovāde na tiṭṭhati, sīsamassa chindāhī”ti. iti so amacco yodho cāti idaṃ sīghaṃ dūtayugaṃ tattha gantvā dovārikaṃ pucchi — “kahaṃ, bho, nagarassa sāmi kumāro”ti. esa majjhesiṅghāṭake suraṃ pivanto dhuttaparivārito gītādiratiṃ anubhonto nisinnoti. atha taṃ dūtayugaṃ gantvā amacco tāvettha, “sāmi, vinicchayaṭṭhānādīni kira kāretvā sādhukaṃ rajjaṃ anusāsā”ti āha. kumāro asuṇanto viya nisīdi. atha naṃ yodho sīse gahetvā, “sace rañño āṇaṃ karosi, kara, no ce, ettheva te sīsaṃ pātessāmī”ti khaggaṃ abbāhi. paricārakā dhuttā tāvadeva disāsu palāyiṃsu. kumāro bhīto sāsanaṃ sampaṭicchi. athassa te tattheva abhisekaṃ katvā setacchattaṃ ussāpetvā “sammā rajjaṃ anusāsāhī”ti raññā vuttaṃ yathābhūtavacanaṃ niyyātetvā yathāgatamaggameva paṭipajjiṃsu. imamatthaṃ āvikaronto bhagavā “puratthimāya disāyā”ti āha.

tatridaṃ opammasaṃsandanaṃ — samiddhamahānagaraṃ viya hi nibbānanagaraṃ daṭṭhabbaṃ, sattaratanasamannāgato rājā cakkavatti viya sattabojjhaṅgaratanasamannāgato dhammarājā sammāsambuddho, paccantimanagaraṃ viya sakkāyanagaraṃ, tasmiṃ nagare kūṭarājaputto viya imassa bhikkhuno kūṭacittuppādo, kūṭarājaputtassa dhuttehi parivāritakālo viya imassa bhikkhuno pañcahi nīvaraṇehi samaṅgikālo, dve sīghadūtā viya samathakammaṭṭhānañca vipassanākammaṭṭhānañca, mahāyodhena sīse gahitakālo viya uppannapaṭhamajjhānasamādhinā niccalaṃ katvā cittaggahitakālo, yodhena sīse gahitamatte dhuttānaṃ disāsu palāyitvā dūrībhāvo viya paṭhamajjhānamhi uppannamatte nīvaraṇānaṃ dūrībhāvo, “karissāmi rañño sāsanan”ti sampaṭicchitamatte vissaṭṭhakālo viya jhānato vuṭṭhitakālo, amaccena rañño sāsanaṃ ārocitakālo viya samādhinā cittaṃ kammaniyaṃ katvā vipassanākammaṭṭhānassa vaḍḍhitakālo, tatthevassa tehi dvīhi dūtehi katābhisekassa setacchattaussāpanaṃ viya samathavipassanākammaṭṭhānaṃ nissāya arahattappattassa vimuttisetacchattussāpanaṃ veditabbaṃ.

nagaranti kho bhikkhu imassetaṃ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanantiādīsu pana cātumahābhūtikassātiādīnaṃ padānaṃ attho heṭṭhā vitthāritova. kevalaṃ pana viññāṇarājaputtassa nivāsaṭṭhānattā ettha kāyo “nagaran”ti vutto, tasseva dvārabhūtattā cha āyatanāni “dvārānī”ti, tesu dvāresu niccaṃ suppatiṭṭhitattā sati “dovāriko”ti, kammaṭṭhānaṃ ācikkhantena dhammarājena pesitattā samathavipassanā “sīghaṃ dūtayugan”ti. ettha mahāyodho viya samatho, paṇḍitāmacco viya vipassanā veditabbā.

majjhe siṅghāṭakoti nagaramajjhe siṅghāṭako. mahābhūtānanti hadayavatthussa nissayabhūtānaṃ mahābhūtānaṃ. vatthurūpassa hi paccayadassanatthamevetaṃ catumahābhūtaggahaṇaṃ kataṃ. nagaramajjhe pana so rājakumāro viya sarīramajjhe hadayarūpasiṅghāṭake nisinno samathavipassanādūtehi arahattābhisekena abhisiñcitabbo vipassanāviññāṇarājaputto daṭṭhabbo. nibbānaṃ pana yathābhūtasabhāvaṃ akuppaṃ adhikārīti katvā yathābhūtaṃ vacananti vuttaṃ. ariyamaggo pana yādisova pubbabhāgavipassanāmaggo, ayampi aṭṭhaṅgasamannāgatattā tādisoyevāti katvā yathāgatamaggoti vutto. idaṃ tāvettha dhammadesanatthaṃ ābhatāya upamāya saṃsandanaṃ.

tassevatthassa pākaṭīkaraṇatthaṃ ābhatapakkhe pana idaṃ saṃsandanaṃ — ettha hi chadvārūpamā chaphassāyatanavasena dassanavisuddhipattaṃ khīṇāsavaṃ dassetuṃ ābhatā, nagarasāmiupamā pañcakkhandhavasena, siṅghāṭakūpamā catumahābhūtavasena, nagarūpamā tebhūmakadhammavasena dassanavisuddhipattaṃ khīṇāsavaṃ dassetuṃ ābhatā. saṅkhepato panimasmiṃ sutte catusaccameva kathitaṃ. sakalenapi hi nagarasambhārena dukkhasaccameva kathitaṃ, yathābhūtavacanena nirodhasaccaṃ, yathāgatamaggena maggasaccaṃ, dukkhassa pana pabhāvikā taṇhā samudayasaccaṃ. desanāpariyosāne pañhapucchako bhikkhu sotāpattiphale patiṭṭhitoti.
Trong bài kinh thứ tám, "dassanā" (cái thấy) là tên gọi dành cho đạo đầu tiên (tức là đạo quả Dự lưu – sotāpattimagga). Bởi vì đạo đầu tiên hoàn thành nhiệm vụ diệt trừ phiền não và là lần đầu tiên thấy được Niết-bàn, nên nó được gọi là “cái thấy”.

Dù gotrabhū-ñāṇa (trí tuệ chuyển tánh) thấy được Niết-bàn trước đạo, nhưng vì nó không thực hiện nhiệm vụ diệt phiền não nên không được gọi là “cái thấy”.Hơn nữa, cả bốn đạo (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán) đều là "cái thấy". Tại sao?
Bởi vì ở khoảnh khắc đạo Dự lưu, cái thấy trở nên trong sạch; ở khoảnh khắc quả, cái thấy đã hoàn toàn thuần tịnh. Tương tự, ở các khoảnh khắc đạo Nhất lai, Bất lai, và A-la-hán, cái thấy được làm trong sạch; ở quả tương ứng, cái thấy đã thuần tịnh. Nghe các vị tỳ-kheo nói như vậy, một vị tỳ-kheo khởi tâm: “Ta cũng sẽ làm thanh tịnh cái thấy và an trú trong quả A-la-hán, chứng ngộ Niết-bàn bằng sự thanh tịnh của cái thấy.”

Vị ấy đi đến một tỳ-kheo khác và hỏi. Vị tỳ-kheo kia là người hành thiền với đề mục là "xứ xúc" (phassāyatana-kammaṭṭhāna), đã phân biệt được các pháp sắc và vô sắc dựa trên sáu xứ xúc và chứng đắc quả A-la-hán. Ở đây, năm xứ đầu thuộc về sắc (rūpa), còn tâm xứ (manāyatana) thuộc về vô sắc (arūpa). Vì vậy, vị ấy chỉ trình bày con đường mình đã chứng đạt.

Người hỏi không hài lòng vì câu trả lời chỉ dựa vào padesasaṅkhāra (các hành có giới hạn, phân biệt). Vị ấy nghĩ: “Vị này nói dựa vào các hành hữu vi giới hạn; có thể nào đạt được Niết-bàn thanh tịnh cái thấy nhờ chỉ dựa trên những hành như vậy chăng?”

Vị ấy hỏi: “Này Hiền giả, chỉ mình Hiền giả biết Niết-bàn thanh tịnh cái thấy, hay còn ai khác cũng biết?” “Có đấy, ở tịnh xá kia có vị thượng tọa tên như vậy.”Thế là người ấy cũng đi đến hỏi vị kia. Rồi lần lượt hỏi người này đến người khác nữa.

Vị thứ hai hành trì với năm uẩn làm đề mục, phân biệt sắc uẩn là sắc, bốn uẩn còn lại là danh, rồi theo trình tự chứng đắc quả A-la-hán. Người hỏi lại không hài lòng, nghĩ rằng: “Cách giải thích của các vị không khớp nhau: vị thứ nhất nói dựa trên hành có phân biệt, vị thứ hai nói dựa trên hành không phân biệt.”

Vị thứ ba thực hành thiền trên bốn đại chủng (đất, nước, lửa, gió), cả tóm lược lẫn chi tiết, rồi chứng quả A-la-hán. Người hỏi vẫn không hài lòng, nghĩ rằng: “Ba người này trình bày khác nhau quá – một người dựa trên hành có phân biệt, một người vô phân biệt, người thứ ba thì còn quá mức phân biệt nữa.”

Vị thứ tư là người hành thiền dựa trên ba cảnh giới (tebhūmaka) làm thiền án (kammaṭṭhāna). Được biết, nơi vị ấy, các yếu tố thân-tâm vận hành rất điều hòa, thân thể cường tráng, đầy sức mạnh. Tất cả các đề mục thiền đều thích hợp với vị ấy:
– Cho dù là các hành (saṅkhāra) quá khứ, vị lai, hay hiện tại,
– Cho dù thuộc dục giới, sắc giới, hay vô sắc giới — tất cả đều thích hợp (sappāya). Không có đề mục nào là không thích hợp với vị ấy.
Cũng như vậy đối với thời gian: sáng hay chiều, canh đầu hay canh cuối — không có lúc nào là bất lợi với vị ấy. Ví như một con voi lớn bước vào vùng bốn phương,
– Nếu vật cần lấy bằng vòi, nó dùng vòi lấy.
– Nếu cần lấy bằng chân, nó dùng chân lấy.

Cũng vậy, vị ấy nắm bắt toàn bộ các pháp thuộc ba cõi bằng năng lực phân tích tổng hợp (kalāpaggāha) và quán xét thấu suốt, rồi chứng đắc A-la-hán.

Do đó, vị này cũng chỉ giảng giải theo con đường mình đã chứng đạt.

Người hỏi lại bất mãn, nghĩ rằng:
– Vị đầu tiên nói dựa trên các hành có phân biệt (sappadesasaṅkhāra),
– Vị thứ hai dựa trên hành không phân biệt (nippadesa),
– Vị thứ ba lại nói theo hướng cực kỳ phân biệt,
– Còn vị thứ tư thì vẫn là không phân biệt.

Các cách giải thích này dường như mâu thuẫn nhau.
Vị ấy lại hỏi:

“Này Hiền giả, cái thấy Niết-bàn thanh tịnh là do chư hiền giả tự mình biết do bản tánh pháp, hay là do ai khác chỉ dạy?”

Các tỳ-kheo đáp:

“Này Hiền giả. Chính bậc Chánh đẳng giác trong thế gian với nhân thiên — chính nhờ Ngài mà chúng tôi biết điều này.”

Người hỏi suy nghĩ:

“Những vị tỳ khưu này không hiểu được dụng ý của ta, và không thể giải đáp cho đúng. Ta sẽ đến gặp Đức Phật — bậc Toàn giác — để hỏi trực tiếp, và nhờ vậy sẽ thoát khỏi mọi nghi hoặc.”
Rồi vị ấy đến chỗ Đức Thế Tôn.

Khi Đức Thế Tôn nghe lời thưa hỏi ấy, Ngài không quở trách rằng:

“Này Tỳ khưu, chư vị mà Thầy đã hỏi đều là bậc A-la-hán lậu tận (khīṇāsava), và những điều họ nói đều đúng đắn, phù hợp. Còn ông, do u mê và ngu si mà không nhận ra.”

Ngài không nói như vậy để khiến người ấy bị tổn thương.

Tuy nhiên, Đức Phật biết rằng vị ấy có chí cầu pháp, đang tìm kiếm chân lý nên nghĩ:

“Người này đang đi tìm ý nghĩa, ta sẽ giúp người ấy hiểu qua bài pháp thích hợp.”

Vì thế, Ngài nêu ra thí dụ về cây kiṃsuka (truyện dụ Kiṃsuka).

Tại một đại đô thị nọ, có một brāhmaṇa (Bà-la-môn) học rộng, nắm vững tất cả các kinh sách, đồng thời là một thầy thuốc giỏi. Một hôm, có một người đàn ông bị bệnh bạch đới (paṇḍuroga, bệnh suy nhược) từ làng phía Đông thành phố đến, cúi đầu đảnh lễ thầy thuốc và đứng qua một bên.

Thầy thuốc nói chuyện thân thiện và hỏi:

“Này người thiện lành, vì lý do gì anh đến đây?”

Người ấy đáp:

“Thưa Ngài, tôi bị bệnh, xin Ngài hãy cho  thuốc.”

Thầy thuốc nói:

“Vậy thì, hãy đi chặt cây kiṃsuka, đem về phơi khô, đốt cháy thành than, lấy nước tro ấy hòa với các vị thuốc khác, chế thành thuốc ariṭṭha, rồi uống. Làm vậy sẽ khỏi.”

Người ấy làm đúng như lời dạy, khỏi bệnh, trở nên khỏe mạnh và rạng rỡ.

Rồi một người khác ở làng phía Nam của thành phố cũng bị chứng bệnh ấy, nghe tin người kia đã khỏi bệnh nhờ thuốc cây kiṃsuka, bèn đến hỏi:

“Này bạn, bạn đã khỏi bệnh nhờ thuốc gì?”

Người kia đáp:

“Thuốc từ cây kiṃsuka.”
Người này cũng làm theo, và cũng khỏi bệnh như thế.

Tương tự, một người ở làng phía Tây, và một người ở làng phía Bắc cũng bị cùng loại bệnh, nghe tin, tìm đến và hỏi:

“Bạn đã khỏi bệnh bằng gì?”
Đáp: “Bằng thuốc từ cây kiṃsuka.”
Rồi họ cũng làm theo, và đều khỏe lại.

Sau cùng, có một người ở vùng xa xôi hẻo lánh, chưa từng thấy cây kiṃsuka, cũng mắc cùng một loại bệnh. Dù đã dùng nhiều loại thuốc nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm.

Anh ta nghe kể rằng có một người ở làng phía Đông thành phố đã khỏi bệnh nhờ thuốc từ cây kiṃsuka, bèn quyết tâm đến đó để hỏi cho rõ.

Anh ta chống gậy, đi từng chặng, cuối cùng gặp người kia và hỏi:

“Này bạn, bạn đã khỏi bệnh bằng cách nào?”

Người kia đáp:

“Bằng thuốc từ cây kiṃsuka.”

Anh ta hỏi tiếp:

“Vậy cây kiṃsuka ấy hình dạng ra sao?”

Người kia mô tả:

“Giống như cây cột cháy đen còn lại trong làng bị cháy vậy.”

Anh ta mô tả cây dựa trên hình ảnh anh ta đã thấy khi cây kiṃsuka bị cháy, giống như cây cột đen sém.

Bởi vì cây kiṃsuka khi bị nhìn trong từng thời điểm khác nhau thì hình dáng khác nhau — khi mới mọc chồi, khi ra hoa, khi trụi lá, v.v… Nên người kia chỉ mô tả theo cách anh ta thấy được trong thời điểm đó, chứ không phải bản chất toàn diện của cây.

  • Người bệnh là ẩn dụ cho người cầu đạo, người đang bị khổ đau, tìm cầu giải thoát.
  • Cây kiṃsuka tượng trưng cho Niết-bàn.
  • Mỗi người mô tả cây theo cách thấy riêng → giống như các bậc A-la-hán mô tả Niết-bàn tùy theo phương pháp hành trì và căn cơ của họ.
  • Người từ biên địa chưa từng thấy cây kiṃsuka → tượng trưng cho người chưa có trí tuệ, chưa thấy Niết-bàn, không hiểu lời dạy, nên dễ hiểu lầm hoặc sinh nghi.

Người ấy (người bệnh từ vùng xa) do suy nghĩ bị ảnh hưởng bởi sự mê tín, nghĩ rằng:
“Người kia nói cây kiṃsuka giống như cây cột cháy trong làng cháy – thật là điềm xấu! Nếu ta làm thuốc từ thứ đó thì chắc chắn bệnh của ta sẽ không khỏi!”
Vì không hài lòng với câu trả lời đó, anh ta hỏi lại:
“Này ông bạn, chỉ mình ông biết cây kiṃsuka sao? Hay còn ai khác cũng từng thấy nó?”
Người kia đáp:
“Có chứ, ở làng phía Nam có một người tên như vầy.”
Thế là anh ta đến gặp người kia và hỏi. Người ấy, vì đã thấy cây kiṃsuka lúc nó đang nở hoa, nên mô tả theo cách mình đã thấy:
“Kiṃsuka là loại cây có hoa màu đỏ.”
Người hỏi lại bất mãn, nghĩ rằng:
“Người trước nói cây màu đen cháy, người này lại nói đỏ rực – hai thứ này khác xa nhau quá!”
Vì vậy, anh ta hỏi tiếp:
“Còn ai khác đã từng thấy cây kiṃsuka không?”
Người kia đáp:
“Có một người ở làng phía Tây.”
Anh ta tiếp tục đến hỏi. Người ấy, vì đã thấy cây kiṃsuka lúc ra quả, nên mô tả:
“Cây ấy có quả mọc chen chúc, rủ xuống như lưỡi rìu cháy đỏ, hoặc như cây sirīsa đang trĩu quả.”
(Vào thời điểm ra quả, cây kiṃsuka có các quả chùm rũ xuống như dải lụa cháy, khiến nó có vẻ giống như những vật thể khác nhau tùy theo góc nhìn.)
Người hỏi lại thấy mâu thuẫn và không hài lòng:
“Người này nói lại khác nữa! Không thể tin lời họ.”
Anh ta tiếp tục hỏi:
“Có ai khác từng thấy cây kiṃsuka không?”
Người kia nói:
“Có một người ở làng phía Bắc.”
Anh ta đến gặp người đó. Người này, vì đã thấy cây kiṃsuka lúc đầy lá, nên mô tả:
“Đó là loại cây rậm lá, có bóng mát dày đặc.”
(‘Bóng dày đặc’ ở đây chỉ bóng cây đan xen dày kín.)
Người hỏi càng rối bời:
“Người này cũng nói trái với ba người kia – không thể chấp nhận lời của người nào cả!”
Cuối cùng, anh ta hỏi:
“Này ông, ông biết cây kiṃsuka là do chính mình hiểu biết thật sự, hay là do ai chỉ dạy?”
Người kia trả lời:
“Tôi biết gì đâu! Nhưng ở trung tâm đại đô thị có một vị thầy thuốc giỏi, chính nhờ ông ấy mà chúng tôi biết cách chữa trị.”
Người ấy nghĩ:
“Vậy thì ta phải đến gặp người thầy đó, tự hỏi ông ấy để xua tan mọi nghi ngờ.”
Rồi anh ta đến gặp vị thầy thuốc, đảnh lễ rồi đứng sang một bên.
Vị thầy thân thiện hỏi:
“Này bạn tốt, vì lý do gì mà anh đến đây?”
Người ấy trả lời:
“Thưa ngài, con bị bệnh. Xin hãy cho con thuốc.
”

Vị thầy đáp:

“Được thôi, hãy đi chặt cây kiṃsuka, phơi khô, đốt cháy thành tro, lấy nước của tro ấy, pha chế với các loại thuốc khác, rồi uống loại thuốc ariṭṭha đã pha – sẽ khỏi ngay.”

Người ấy làm theo, và trở nên khỏe mạnh, rạng rỡ, đầy sức sống.

  • Đại đô thị ví như thành Niết-bàn – đích đến tối hậu.
  • Vị thầy thuốc ví như Đức Phật, bậc Chánh đẳng giác.

Như lời dạy: “Này Sunakkhatta, Tathāgata – bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác – được gọi là ‘người thầy thuốc bậc thầy’.” (MAhā Nidāna, MN 3.65)

  • Bốn học trò thầy thuốc ví như bốn vị A-la-hán đã đạt thanh tịnh về cái thấy (dassanavisuddhi).
  • Người bệnh từ vùng xa ví như vị tỳ-kheo nghi ngờ, người đã đặt câu hỏi và không hài lòng với lời giải thích từ các A-la-hán.
  • Việc người ấy sau cùng đến hỏi chính vị thầy ví như việc vị tỳ-kheo kia đến hỏi Đức Phật vì không hài lòng với các cách mô tả khác nhau về Niết-bàn.

Tùy theo từng cách mà các vị ấy có khuynh hướng (thiền quán dựa trên xứ xúc, uẩn, đại, hay ba cõi...), cái thấy về Niết-bàn của họ đều đã được làm cho hoàn toàn thanh tịnh (suvisuddha). Cũng theo cách ấy, các vị thánh (sappurisa) đã giảng giải đúng đắn theo con đường họ đã tự thân chứng ngộ.

Ví như người nói: “Cây kiṃsuka màu đen.” — không phải vì nói sai, mà chỉ vì anh ta thấy cây ấy vào thời điểm khi nó trụi lá nên giống như một cây cột cháy.
Tương tự vậy, vị A-la-hán hành thiền dựa trên chạm xúc (phassāyatana) cũng không nói sai — chỉ đang trình bày Niết-bàn thanh tịnh cái thấy dựa trên con đường mình đã chứng đắc.

Tương tự, người nói: “Cây kiṃsuka màu đỏ rực, hoặc trĩu quả, hoặc rậm lá...” đều không nói dối. Họ chỉ mô tả theo cách mà họ đã từng thấy cây kiṃsuka trong các giai đoạn khác nhau. Các vị A-la-hán khác cũng vậy: người hành thiền dựa trên năm thủ uẩn, bốn đại, hoặc ba cõi cũng đều nói về cùng một Niết-bàn, chỉ khác cách tiếp cận.

Mỗi người đều nói đúng trong khuôn khổ của cái thấy mình, và tất cả đều đang nói về cùng một thực tại – Niết-bàn.

Dụ ngôn về thành phố biên địa và vị hoàng tử trụy lạc:
Câu chuyện ví dụ về “thành phố biên giới” được đưa ra nhằm làm rõ hoặc minh họa sâu thêm cho ý nghĩa đã nêu nếu vị tỳ-kheo còn chưa hiểu hết ý dụ kiṃsuka.
Thành phố biên địa được nêu ra (thay vì trung tâm) vì ở trung tâm không có nỗi lo giặc cướp. Do đó, để phù hợp với hình ảnh cần dạy, Đức Phật chọn ví dụ thành phố biên cương.

  • "Daḷhuddhāpaṃ": có hào và tường kiên cố
  • "Daḷhapākāratoraṇaṃ": có tường và cổng thành vững chắc
  • "Chadvāraṃ": có sáu cửa thành
  • "Paṇḍito, byatto, medhāvī": chỉ một người đầy trí tuệ, hiểu sâu rộng, có khả năng xử lý các tình huống thích hợp

Ở một đế quốc thịnh vượng, có một vị vua Chuyển luân Thánh vương (sattaratanasampanno cakkavatti), đang trị vì toàn vẹn.

Một thành biên giới không có quan trấn nhậm, dân chúng đến tâu:

“Thưa Đại vương, xin ban cho chúng thần một vị quan trấn thủ.”
Nhà vua bèn sai hoàng tử đến thành ấy, làm lễ đăng quang và lập các cơ quan điều hành.
Tuy nhiên, do giao du với bạn xấu, chỉ trong vài ngày, hoàng tử trở nên say rượu, trụy lạc, giải tán các nơi xử kiện, tụ tập với bọn vô lại, ngày đêm uống rượu, hát múa và sống buông thả.
Dân chúng tâu lên vua.
Vua phái một vị đại thần trí tuệ đến để khuyên răn. Nhưng triều thần từ chối:
“Thưa Đại vương, hoàng tử hung dữ, có thể giết thần mất.”
Vua lại cử một chiến binh dũng mãnh, ra lệnh:
“Nếu hắn không vâng lời, hãy chém đầu tại chỗ.”
Vị đại thần và chiến binh đến thành, hỏi lính gác:
“Hoàng tử ở đâu?”
Đáp:
“Ngài đang ở giữa lầu, uống rượu, vui chơi với bọn vô lại.”
Họ vào, đại thần nói:
“Xin hoàng tử hãy điều hành thành phố đúng pháp, tái lập cơ quan chính sự.”
Hoàng tử làm ngơ, giả vờ không nghe.
Ngay lúc ấy, chiến binh nắm đầu và rút kiếm:
“Làm theo lời vua, hoặc mất đầu tại đây!”
Các tên vô lại chạy tán loạn.
Hoàng tử sợ hãi, chấp nhận cải tà quy chính.
Vị đại thần lập tức làm lễ đăng quang lại, giương lọng trắng lên, truyền lời vua:
“Hãy cai trị theo đúng chánh pháp.”
Từ đó, hoàng tử trở về chánh đạo.

Và đây là phần giải thích ý nghĩa ẩn dụ vừa nêu:

  • Thành phố phồn thịnh (samiddhamahānagaraṃ) ví như Niết-bàn.
  • Vua Chuyển Luân Thánh có đủ bảy báu (sattaratanasamannāgato cakkavatti) ví như Đức Phật, bậc Pháp vương (Dhammarāja) có đủ bảy giác chi (sattabojjhaṅga).
  • Thành phố biên địa ví như thân ngũ uẩn (sakkāya) của phàm phu.
  • Hoàng tử phản loạn ví như tâm khởi lên sai lầm (kūṭacittuppāda).
  • Thời gian hoàng tử bị bao vây bởi bọn vô lại ví như tâm bị vây phủ bởi năm triền cái.
  • Hai sứ giả nhanh nhẹn ví như thiền chỉ (samatha) và thiền quán (vipassanā).
  • Lúc chiến binh nắm đầu hoàng tử ví như tâm bị thiền định (sơ thiền) bắt giữ và làm bất động.
  • Khi tên vô lại bỏ chạy ví như năm triền cái bị dập tắt khi sơ thiền khởi sinh.
  • Lúc hoàng tử chịu nghe lời vua ví như tâm xuất thiền và hướng đến minh sát.
  • Khi vị đại thần truyền lệnh vua ví như thiền quán phát triển khi tâm đã được định làm cho thuần thục.
  • Khi hai sứ giả làm lễ đăng quang và giương lọng trắng ví như sự chứng đắc A-la-hán nhờ kết hợp chỉ–quán, và sự giải thoát toàn hảo được biểu hiện như chiếc lọng trắng của tự do.

– “Thành phố” là ẩn dụ cho thân tứ đại (cātumahābhūtika-kāya).
– “Sáu cửa thành” ví như sáu xứ xúc (chaphassāyatana).
– “Người gác cửa” ví như niệm (sati) – luôn canh giữ sáu căn.
– “Hai sứ giả” ví như thiền chỉ và thiền quán, được Pháp vương – Đức Phật – phái đến để giải thoát chúng sinh.

– Samatha (thiền chỉ) ví như chiến binh mạnh mẽ,
"Majjhe siṅghāṭako": nghĩa là trung tâm thành phố, ví dụ cho vị trí của tim (hadayarūpa) trong thân.

  • Tâm có gốc tại tim, là nơi trú ngụ của vị hoàng tử – tức là thức (viññāṇa).
  • Khi tâm ấy được thiền chỉ và thiền quán đến cảm hóa và tái lập chánh pháp → sẽ đạt A-la-hán.
  • Đây gọi là viññāṇa-rājaputta – “vị hoàng tử tâm thức”, được làm lễ đăng quang bằng giải thoát tối hậu (vimutti).
  • Dụ ngôn “kiṃsuka” dạy về sự đa dạng trong kinh nghiệm giải thoát, nhưng tất cả đều đúng nếu dựa vào thực chứng.
  • Dụ ngôn “thành phố biên địa” dạy về con đường tu tập – khi tâm bị ô nhiễm thì phải dùng cả định và tuệ mới cứu được.
  • Bài kinh là sự hợp nhất giữa thiền định và thiền quán, là nền tảng của thanh tịnh cái thấy (dassanavisuddhi).
  • Đức Phật là vị y vương, pháp vương, người duy nhất có thể chỉ ra con đường chính xác đưa đến Niết-bàn.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

204. VIII. Phải Gọi Là Gì (Kimsukà) (S.iv,191)

1) ...

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến một Tỷ-kheo khác, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:

-- Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

-- Này Hiền giả, Tỷ-kheo khi nào như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của sáu xúc xứ; cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

3) Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác và nói:

-- Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

-- Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

4) Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của Tỷ-kheo kia, liền đi đến một Tỷ-kheo khác nữa và nói:

-- Này Hiền giả, cho đến như thế nào, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?

-- Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

5) Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn...

-- Này Hiền giả, khi nào Tỷ-kheo như thật rõ biết rằng, phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều phải đoạn diệt; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh.

6) Rồi Tỷ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi đến một Tỷ-kheo và nói với Tỷ-kheo ấy: "Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?" Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy nói với con: "Khi nào như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ; khi ấy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh". Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời của Tỷ-kheo kia nên đi đến một Tỷ-kheo khác; sau khi đến, con nói với Tỷ-kheo ấy: "Cho đến như thế nào, này Hiền giả, sự thấy của một Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?" Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy nói với con: "Khi nào, này Hiền giả, Tỷ-kheo như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của năm thủ uẩn... như thật tuệ tri sự tập khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng... như thật tuệ tri rằng, phàm có pháp gì được tập khởi, tất cả pháp ấy bị đoạn diệt, cho đến như vậy, này Hiền giả, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh". Bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn câu trả lời câu hỏi của Tỷ-kheo kia nên con đi đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn: "Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, sự thấy của Tỷ-kheo khéo thanh tịnh?"

7) -- Ví như, này Tỷ-kheo, một người chưa từng thấy cây kimsuka, người ấy đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka và nói: "Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?". Người ấy đáp như sau: "Này Bạn, cây kimsuma màu đen, như một khúc cây bị cháy". Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, hỏi người ấy: "Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?" Người kia trả lời: "Này Bạn, cây kimsuka màu đỏ, giống như một đống thịt". Và này Tỷ-kheo, như vậy trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến nói với người ấy: "Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?" Người kia trả lời: "Này Bạn, cây kimsuka bị lột vỏ, vỏ bị nứt nẻ ra như cây keo (sirìso)". Này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Rồi, này Tỷ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, liền đi đến một người khác đã thấy cây kimsuka, sau khi đến, nói với người ấy: "Này Bạn, cây kimsuka là thế nào?" Người kia nói như sau: "Này Bạn, cây kimsuka có lá rậm rạp, bóng của nó dày và rậm, như cây bàng". Như vậy, này Tỷ-kheo, trong thời gian ấy, cây kimsuka đối với người ấy là giống như người kia đã thấy. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, tùy theo sự thấy của Chân nhân ấy khéo thanh tịnh, tùy thuộc theo đấy, họ đã trả lời.

8) Ví như, này Tỷ-kheo, có ngôi thành của vua ở biên giới được xây dựng với pháo đài kiên cố, với tường và tháp canh kiên cố và có đến sáu cửa thành. Tại đấy có người giữ cửa thành, là bậc thông minh, có kinh nghiệm và có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Từ phương Ðông, hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: "Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?" Người giữa cửa thành ấy nói: "Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường". Hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục đi theo con đường họ đến. Từ phương Tây, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến... từ phương Bắc, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: "Này Bạn, vị chủ thành trì này ở đâu?" Người giữ cửa thành ấy nói: "Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngã tư đường". Rồi hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục theo con đường họ đến.

9) Này Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ để giải thích ý nghĩa, và đây là ý nghĩa: Ngôi thành, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân do bốn đại chủng tạo thành này, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tiêu mòn, tiêu hao, hủy hoại, hủy diệt. Sáu cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Người giữ cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với niệm. Hai vị sứ giả cấp tốc, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với chỉ và quán. Người chủ ngôi thành là đồng nghĩa với thức. Ở giữa tại ngã tư đường là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới. Lời như thật ngữ, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Theo con đường họ đến là đồng nghĩa với con đường Thánh đạo Tám ngành. Như chánh tri kiến... chánh định.

-ooOoo-