BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 03 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Rắn Độc- SN 35.247. Bài 449. SỐNG VỚI KHẢ NĂNG TỰ CHẾ - Kinh Ẩn Dụ về Sáu Con Vật (Chappāṇakopamasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-449.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Tâm thức được hiểu là sự nhận biết, tư duy qua sáu giác quan. Mỗi giác quan có cảnh giới riêng và tác động khác biệt. Chính vì thế tạo nên những mâu thuẫn và phức cảm nội tại. Thay vì chạy theo thị dục của các giác quan khiến tâm luôn giao động, Đức Phật dạy nên khởi sự tu tập với thân quán niệm xứ. Quán niệm hơi thở là bước đầu cần luyện tập. Bên cạnh là quán sát các tư thế lớn và cử chỉ nhỏ nhặt của thân. Quán thể trược, quán tứ đại, quán tử thi, quán hài cốt đều nằm trong niệm thân. Kinh nghiệm thực thế cho thấy đối với phần đông chúng sanh sự quán chiếu vật chất qua phép niệm thân thường cần thiết trước khi đi sâu vào niệm thọ, niệm tâm, và niệm pháp.

 KINH VĂN

247. “seyyathāpi, bhikkhave, puriso arugatto pakkagatto saravanaṃ paviseyya. tassa kusakaṇṭakā ceva pāde vijjheyyuṃ, sarapattāni ca gattāni {sarapattāni pakkagattāni (syā. kaṃ.), arupakkāni gattāni (pī. ka.)} vilekheyyuṃ. evañhi so, bhikkhave, puriso bhiyyosomattāya tatonidānaṃ dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvediyetha. evameva kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu gāmagato vā araññagato vā labhati vattāraṃ — ‘ayañca so {ayañca kho (pī. ka.), ayaṃ so (?)} āyasmā evaṃkārī evaṃsamācāro asucigāmakaṇṭako’ti. taṃ kaṇṭakoti {taṃ “asucigāmakaṇḍato””ti (ka.)} iti viditvā saṃvaro ca asaṃvaro ca veditabbo.

“kathañca, bhikkhave, asaṃvaro hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe adhimuccati, appiyarūpe rūpe byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso. tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti. sotena saddaṃ sutvā... ghānena gandhaṃ ghāyitvā... jivhāya rasaṃ sāyitvā... kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā... manasā dhammaṃ viññāya piyarūpe dhamme adhimuccati, appiyarūpe dhamme byāpajjati, anupaṭṭhitakāyassati ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.

 “seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya. ahiṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. susumāraṃ {suṃsumāraṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)} gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. pakkhiṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. kukkuraṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. siṅgālaṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. makkaṭaṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. daḷhāya rajjuyā bandhitvā majjhe gaṇṭhiṃ karitvā ossajjeyya. atha kho, te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṃ sakaṃ gocaravisayaṃ āviñcheyyuṃ {āviñjeyyuṃ (sī.)} — ahi āviñcheyya ‘vammikaṃ pavekkhāmī’ti, susumāro āviñcheyya ‘udakaṃ pavekkhāmī’ti, pakkhī āviñcheyya ‘ākāsaṃ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya ‘gāmaṃ pavekkhāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya ‘sīvathikaṃ {sivathikaṃ (ka.)} pavekkhāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya ‘vanaṃ pavekkhāmī’ti. yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā jhattā assu kilantā, atha kho yo nesaṃ pāṇakānaṃ balavataro assa tassa te anuvatteyyuṃ, anuvidhāyeyyuṃ vasaṃ gaccheyyuṃ. evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati abhāvitā abahulīkatā, taṃ cakkhu āviñchati manāpiyesu rūpesu, amanāpiyā rūpā paṭikūlā honti ... pe ... mano āviñchati manāpiyesu dhammesu, amanāpiyā dhammā paṭikūlā honti. evaṃ kho, bhikkhave, asaṃvaro hoti.

“kathañca, bhikkhave, saṃvaro hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe nādhimuccati, appiyarūpe rūpe na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ pajānāti, yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti ... pe ... jivhā rasaṃ sāyitvā ... pe ... manasā dhammaṃ viññāya piyarūpe dhamme nādhimuccati, appiyarūpe dhamme na byāpajjati, upaṭṭhitakāyassati ca viharati appamāṇacetaso, tañca cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.

“seyyathāpi, bhikkhave, puriso chappāṇake gahetvā nānāvisaye nānāgocare daḷhāya rajjuyā bandheyya. ahiṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. susumāraṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. pakkhiṃ gahetvā ... pe ... kukkuraṃ gahetvā... siṅgālaṃ gahetvā... makkaṭaṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā bandheyya. daḷhāya rajjuyā bandhitvā daḷhe khīle vā thambhe vā upanibandheyya. atha kho te, bhikkhave, chappāṇakā nānāvisayā nānāgocarā sakaṃ sakaṃ gocaravisayaṃ āviñcheyyuṃ — ahi āviñcheyya ‘vammikaṃ pavekkhāmī’ti, susumāro āviñcheyya ‘udakaṃ pavekkhāmī’ti, pakkhī āviñcheyya ‘ākāsaṃ ḍessāmī’ti, kukkuro āviñcheyya ‘gāmaṃ pavekkhāmī’ti, siṅgālo āviñcheyya ‘sīvathikaṃ pavekkhāmī’ti, makkaṭo āviñcheyya ‘vanaṃ pavekkhāmī’ti. yadā kho te, bhikkhave, chappāṇakā jhattā assu kilantā, atha tameva khīlaṃ vā thambhaṃ vā upatiṭṭheyyuṃ, upanisīdeyyuṃ, upanipajjeyyuṃ. evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kāyagatāsati bhāvitā bahulīkatā, taṃ cakkhu nāviñchati manāpiyesu rūpesu, amanāpiyā rūpā nappaṭikūlā honti ... pe ... jivhā nāviñchati manāpiyesu rasesu ... pe ... mano nāviñchati manāpiyesu dhammesu, amanāpiyā dhammā nappaṭikūlā honti. evaṃ kho, bhikkhave, saṃvaro hoti.

“‘daḷhe khīle vā thambhe vā’ti kho, bhikkhave, kāyagatāya satiyā etaṃ adhivacanaṃ. tasmātiha vo, bhikkhave, evaṃ sikkhitabbaṃ — ‘kāyagatā no sati bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti. evañhi kho, bhikkhave, sikkhitabban”ti. dasamaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, giả sử có một người bị thương ở tay chân, đầy những vết lở loét, lại đi vào rừng lau sậy đầy gai Kusa. Những chiếc gai sẽ đâm vào chân người ấy, và những lá sậy sắc bén sẽ cứa vào thân thể. Như vậy, người ấy sẽ phải chịu thêm đau đớn và khó chịu. Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, có một Tỳ khưu khi đi vào làng hay vào rừng, gặp người trách mắng rằng: ‘Vị tôn giả này hành xử như thế, cư xử như thế, thật là một cái gai trong làng.’ Khi đã hiểu mình bị xem là ‘gai nhọn’, thì vị ấy phải hiểu rõ thế nào là sự chế ngự và không chế ngự.

“Và thế nào, này chư Tỳ khưu, là không chế ngự? Ở đây, một Tỳ khưu khi thấy một hình sắc bằng mắt, bị lôi cuốn bởi sắc khả ái và ghét bỏ sắc không khả ái. Vị ấy sống không thiết lập chánh niệm nơi thân, với tâm thiển cận, và không hiểu như nhiên về tâm giải thoát , tuệ giải thoát  — nơi mà các pháp bất thiện, ác bất thiện được đoạn trừ không dư sót. Nghe một âm thanh bằng tai … nhận biết cảnh pháp bằng ý, vị ấy bị lôi cuốn bởi pháp khả ái và ghét bỏ pháp không khả ái. Vị ấy sống không thiết lập chánh niệm nơi thân, với tâm thiển cận, và không hiểu như nhiên về tâm giải thoát , tuệ giải thoát — nơi mà các pháp bất thiện, ác bất thiện được đoạn trừ không dư sót.

“Này chư Tỳ khưu, ví như có người bắt sáu con vật – mỗi con có lãnh vực sinh sống và nơi kiếm ăn khác nhau – và trói chúng bằng dây thừng chắc chắn: một con rắn, một con cá sấu, một con chim, một con chó, một con giả can, và một con khỉ. Anh ta trói mỗi con bằng một sợi dây chắc, rồi buộc các sợi dây ấy lại với nhau ở giữa và thả chúng ra. Sáu con vật ấy sẽ kéo mỗi con theo hướng riêng của nó: rắn thì muốn chui vào hang mối, cá sấu thì muốn xuống nước, chim thì muốn bay lên trời, chó thì muốn vào làng, giả can thì hướng đến bãi tha ma, khỉ thì muốn chạy vào rừng.

“Khi sáu con vật này trở nên mệt mỏi và kiệt sức, chúng sẽ bị con mạnh nhất kéo theo, phục tùng nó và bị chi phối bởi nó. Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, khi một Tỳ khưu không phát triển và tu tập chánh niệm hướng đến thân, thì mắt bị kéo về sắc khả ái và né tránh sắc không khả ái; tai bị kéo về âm thanh khả ái và né tránh âm thanh không khả ái; mũi bị kéo về mùi khả ái và né tránh mùi không khả ái; lưỡi bị kéo về vị khả ái và né tránh vị không khả ái; thân bị kéo về xúc chạm khả ái và né tránh xúc chạm không khả ái; ý bị kéo về pháp khả ái và né tránh pháp không khả ái. Như vậy là không có sự chế ngự.

“Và thế nào, này chư Tỳ khưu, là có sự chế ngự? Ở đây, một Tỳ khưu khi thấy một hình sắc bằng mắt, không bị lôi cuốn bởi sắc khả ái, không ghét bỏ sắc không khả ái. Vị ấy sống có thiết lập chánh niệm nơi thân, với tâm vô lượng, và hiểu như nhiên về sự giải thoát tâm, giải thoát bằng trí tuệ — nơi các pháp bất thiện, ác bất thiện được đoạn trừ không dư sót. Nghe một âm thanh bằng tai … nhận biết một pháp trần bằng ý, vị ấy không bị lôi cuốn bởi pháp khả ái, không chán ghét pháp không khả ái. Vị ấy sống có thiết lập chánh niệm nơi thân, với tâm vô lượng, và như nhiên về tâm giải thoát , tuệ giải thoát — nơi mà các pháp bất thiện, ác bất thiện được đoạn trừ không dư sót. Như vậy là có sự chế ngự.

“Này chư Tỳ khưu, ví như có người bắt sáu con vật – mỗi con có lãnh vực sinh sống và nơi kiếm ăn khác nhau – và trói chúng bằng dây thừng chắc chắn: một con rắn, một con cá sấu, một con chim, một con chó, một con chó rừng, và một con khỉ. Sau đó, người ấy buộc cả sáu con vật vào một cây cột hoặc trụ vững chắc. Sáu con vật ấy sẽ kéo mỗi con theo hướng riêng của nó: rắn thì muốn chui vào hang mối, cá sấu thì muốn xuống nước, chim thì muốn bay lên trời, chó thì muốn vào làng, giả can thì hướng đến bãi tha ma, khỉ thì muốn chạy vào rừng.

“Khi sáu con vật này trở nên mệt mỏi và kiệt sức, chúng sẽ đứng gần cây cột ấy, ngồi xuống, hoặc nằm xuống tại chỗ. Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, khi một Tỳ khưu đã phát triển và tu tập chánh niệm hướng về thân, thì mắt không bị kéo theo sắc khả ái, không né tránh sắc không khả ái; tai không bị kéo theo âm thanh khả ái, không né tránh âm thanh không khả ái; mũi không bị kéo theo mùi khả ái, không né tránh mùi không khả ái; lưỡi không bị kéo theo vị khả ái, không né tránh vị không khả ái; thân không bị kéo theo xúc chạm khả ái, không né tránh xúc chạm không khả ái; ý không bị kéo theo pháp khả ái, không né tránh pháp không khả ái. Như vậy là có sự chế ngự.

“‘Cây cột hoặc trụ vững chắc’: này chư Tỳ khưu, đó là tên gọi cho chánh niệm hướng đến thân. Do vậy, này chư Tỳ khưu, các Thầy cần phải tự rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ phát triển và tu tập chánh niệm hướng đến thân, làm nó thành phương tiện, làm nền tảng, làm nơi nương tựa, thực hành trên đó và hoàn toàn viên mãn trong nó.’ Các Thầy nên tự rèn luyện như vậy.”

Chú Thích

Cụm từ asucigāmakaṇṭako” có nghĩa là “gai bẩn của làng” Sớ giải chú thích“bẩn thỉu” theo nghĩa là ô uế, còn “cái gai trong làng” theo nghĩa là gây tổn thương cho dân làng.Hậu Sớ Giải chú thích thêm: làm khổ họ bằng cách nhận sự cúng dường trong khi bản thân không xứng đáng.

Do các giác quan và cảnh mang tác động khác nhau nên tâm ý chúng sanh thường phức tạp. Thiếu ý thức phòng hộ thường tạo nên những phiền luỵ. Đây là nỗi khổ muôn thuở của kiếp nhân sinh được ví dụ như người có nhiều vết thương, vết lở trên thân không được băng bó mà lại đi xuyên qua khu rừng nhiều gai nhọn.

Phật ngôn trong bài khi nêu rõ giai đoạn đầu của sự tu tập, hành giả phải vất vả nhiều với bản thân vì tâm ý chưa được thuần hoá.

Sớ Giải

247. dasame arugattoti vaṇasarīro. tesaṃyeva arūnaṃ pakkattā pakkagatto. saravananti kaṇḍavanaṃ. evameva khoti arugatto puriso viya dussīlapuggalo veditabbo. tassa kusakaṇṭakehi viddhassa sarapattehi ca asidhārūpamehi vilikhitagattassa bhiyyosomattāya dukkhadomanassaṃ viya tattha tattha sabrahmacārīhi “ayaṃ so imesañca imesañca kammānaṃ kārako”ti vuccamānassa uppajjanadukkhaṃ veditabbaṃ.

labhati vattāranti labhati codakaṃ. evaṃkārīti evarūpānaṃ vejjakammadūtakammādīnaṃ kārako. evaṃsamācāroti vidhavā gocarādivasena evarūpagocaro. asucigāmakaṇṭakoti asuddhaṭṭhena asuci, gāmavāsīnaṃ vijjhanaṭṭhena kaṇṭakoti gāmakaṇṭako.

pakkhinti hatthisoṇḍasakuṇaṃ. ossajjeyyāti vissajjeyya. āviñcheyyunti ākaḍḍheyyuṃ. pavekkhāmīti pavisissāmi. ākāsaṃ ḍessāmīti ākāsaṃ uppatissāmi.

etesu pana ahi “bhogehi maṇḍalaṃ bandhitvā supissāmī”ti vammikaṃ pavisitukāmo hoti. susumāro “dūre bilaṃ pavisitvā nipajjissāmī”ti udakaṃ pavisitukāmo hoti. pakkhī “ajaṭākāse sukhaṃ vicarissāmī”ti ākāsaṃ ḍetukāmo hoti. kukkuro “uddhanaṭṭhāne chārikaṃ byūhitvā usumaṃ gaṇhanto nipajjissāmī”ti gāmaṃ pavisitukāmo hoti. siṅgālo “manussamaṃsaṃ khāditvā piṭṭhiṃ pasāretvā sayissāmī”ti āmakasusānaṃ pavisitukāmo hoti. makkaṭo “ucce rukkhe abhiruhitvā disādisaṃ pakkhandissāmī”ti vanaṃ pavisitukāmo hoti.

anuvidhāyeyyunti anugaccheyyuṃ, anuvidhiyeyyuntipi pāṭho, anuvidhānaṃ āpajjeyyunti attho. yattha so yāti, tattheva gaccheyyunti vuttaṃ hoti. evamevāti ettha cha pāṇakā viya chāyatanāni daṭṭhabbāni, daḷharajju viya taṇhā, majjhe gaṇṭhi viya avijjā. yasmiṃ yasmiṃ dvāre ārammaṇaṃ balavaṃ hoti, taṃ taṃ āyatanaṃ tasmiṃ tasmiṃ ārammaṇe āviñchati.

imaṃ pana upamaṃ bhagavā sarikkhakena vā āhareyya āyatanānaṃ vā nānattadassanavasena. tattha sarikkhakena tāva visuṃ appanākiccaṃ natthi, pāḷiyaṃyeva appitā. āyatanānaṃ nānattadassanena pana ayaṃ appanā — ahi nāmesa bahi sittasammaṭṭhe ṭhāne nābhiramati, saṅkāraṭṭhānatiṇapaṇṇagahanavammikāniyeva pana pavisitvā nipannakāle abhiramati, ekaggataṃ āpajjati. evameva cakkhupetaṃ visamajjhāsayaṃ, maṭṭhāsu suvaṇṇabhittiādīsu nābhiramati, oloketumpi na icchati, rūpacittapupphalatādivicittesuyeva pana abhiramati. tādisesu hi ṭhānesu cakkhumhi appahonte mukhampi vivaritvā oloketukāmo hoti.

susumāropi bahi nikkhanto gahetabbaṃ na passati, akkhiṃ nimīletvā carati. yadā pana byāmasatamattaṃ udakaṃ ogāhitvā bilaṃ pavisitvā nipanno hoti, tadā tassa cittaṃ ekaggaṃ hoti, sukhaṃ supati. evameva sotampetaṃ bilajjhāsayaṃ ākāsasannissitaṃ, kaṇṇacchiddakūpakeyeva ajjhāsayaṃ karoti, kaṇṇacchiddākāsoyeva tassa saddasavane paccayo hoti. ajaṭākāsopi vaṭṭatiyeva. antoleṇasmiñhi sajjhāye kayiramāne na leṇacchadanaṃ bhinditvā saddo bahi nikkhamati, dvāravātapānachiddehi pana nikkhamitvā dhātuparamparā ghaṭṭento āgantvā sotapasādaṃ ghaṭṭeti. atha tasmiṃ kāle “asukaṃ nāma sajjhāyatī”ti leṇapiṭṭhe nisinnā jānanti.

evaṃ sante sampattagocaratā hoti, kiṃ panetaṃ sampattagocaranti? āma sampattagocaraṃ. yadi evaṃ dūre bheriādīsu vajjamānesu “dūre saddo”ti jānanaṃ na bhaveyyāti. no na bhavati. sotapasādasmiñhi ghaṭṭite “dūre saddo, āsanne saddo, paratīre orimatīre”ti tathā tathā jānanākāro hoti, dhammatā esāti. kiṃ etāya dhammatāya? yato yato chiddaṃ, tato tato savanaṃ hoti candimasūriyādīnaṃ dassanaṃ viyāti asampattagocaramevetaṃ.

pakkhīpi rukkhe vā bhūmiyaṃ vā na ramati. yadā pana ekaṃ vā dve vā leḍḍupāte atikkamma ajaṭākāsaṃ pakkhando hoti, tadā ekaggacittataṃ āpajjati. evameva ghānampi ākāsajjhāsayaṃ vātūpanissayagandhagocaraṃ. tathā hi gāvo navavuṭṭhe deve bhūmiṃ ghāyitvā ghāyitvā ākāsābhimukho hutvā vātaṃ ākaḍḍhanti. aṅgulīhi gandhapiṇḍaṃ gahetvāpi ca upasiṅghanakāle vātaṃ anākaḍḍhanto neva tassa gandhaṃ jānāti.

kukkuropi bahi caranto khemaṭṭhānaṃ na passati, leḍḍudaṇḍādīhi upadduto hoti. antogāmaṃ pavisitvā uddhanaṭṭhāne chārikaṃ byūhitvā nipannassa panassa phāsu hoti. evameva jivhāpi gāmajjhāsayā āposannissitarasārammaṇā. tathā hi tiyāmarattiṃ samaṇadhammaṃ katvāpi pātova pattacīvaramādāya gāmaṃ pavisitabbaṃ hoti. sukkhakhādanīyassa ca na sakkā kheḷena atemitassa rasaṃ jānituṃ.

siṅgālopi bahi caranto ratiṃ na vindati, āmakasusāne manussamaṃsaṃ khāditvā nipannasseva panassa phāsu hoti. evameva kāyopi upādiṇṇakajjhāsayo pathavīsannissitaphoṭṭhabbārammaṇo. tathā hi aññaṃ upādiṇṇakaṃ alabhamānā sattā attanova hatthatale sīsaṃ katvā nipajjanti. ajjhattikabāhirā cassa pathavī ārammaṇaggahaṇe paccayo hoti. susanthatassāpi hi sayanassa heṭṭhāṭhitānampi vā phalakānaṃ na sakkā anisīdantena vā anuppīḷantena vā thaddhamudubhāvo jānitunti ajjhattikabāhirā pathavī etassa phoṭṭhabbajānane paccayo hoti.

makkaṭopi bhūmiyaṃ vicaranto nābhiramati, hatthasatubbedhaṃ panassa rukkhaṃ āruyha viṭapapiṭṭhe nisīditvā disāvidisā olokentasseva phāsuko hoti. evaṃ manopi nānajjhāsayo bhavaṅgapaccayo, diṭṭhapubbepi nānārammaṇajjhāsayaṃ karotiyeva mūlabhavaṅgaṃ panassa paccayo hotīti ayamettha saṅkhepo, vitthārena pana āyatanānaṃ nānattaṃ visuddhimagge āyatananiddese vuttameva.

 taṃ cakkhu nāviñchatīti taṇhārajjukānaṃ āyatanapāṇakānaṃ kāyagatāsatithambhe baddhānaṃ nibbisevanabhāvaṃ āpannattā nākaḍḍhatīti imasmiṃ sutte pubbabhāgavipassanāva kathitā.

247. Trong bài kinh thứ mười:

“arugatto” nghĩa là “người có thân đầy vết thương”.
Người ấy mang thân thể bị lở loét vì các vết thương ấy đã chín muồi, do đó được gọi là "người có thân bị thương".

“saravanaṃ” có nghĩa là rừng lau sậy (kaṇḍavanaṃ). Cũng vậy, như người có thân đầy vết thương ấy, nên hiểu rằng đó là ví dụ cho người phá giới (dussīla puggalo). Khi người ấy bị gai Kusa đâm vào, bị lá lau sậy – sắc như lưỡi dao – cứa vào thân thể, khiến cho đau đớn và phiền não gia tăng hơn nữa; cũng như vậy, người phá giới bị các bạn đồng tu nói đến chỗ này chỗ kia rằng: “Chính người này đã làm của việc ấy, việc kia”. Nỗi khổ phát sinh từ sự quở trách ấy phải được hiểu là tương tự.

“labhati vattāraṃ” nghĩa là: “người ấy bị ai đó trách mắng”.
“evaṃkārī” là người làm những việc như làm thầy thuốc, đưa tin... (những hành vi không thích hợp với hạnh xuất gia).
“evaṃsamācāro” là người có hạnh kiểm như vậy, do các thói quen lang thang, tiếp xúc sai lầm mà trở thành như thế.
“asucigāmakaṇṭako” có nghĩa là “gai bẩn của làng” – tức là, người ô uế do hạnh kiểm bất tịnh, và là gai nhọn gây tổn hại đến người cư sĩ.

“pakkhī” là con chim lớn (như thiên nga, công).
“ossajjeyyā”: nó sẽ được thả ra.
“āviñcheyyuṃ”: chúng sẽ kéo mạnh theo hướng của mình.
“pavekkhāmi”: “tôi sẽ đi vào (chỗ nọ)”.
“ākāsaṃ ḍessāmi”: “tôi sẽ bay lên không trung”.

Ý nghĩa ẩn dụ của sáu con vật:

Ở đây:

  • Con rắn (ahi) muốn vào gò mối (vammika) để ngủ sau khi cuộn mình lại.
  • Con cá sấu (susumāro) muốn lặn sâu xuống nước, tìm hang và nằm yên nghỉ.
  • Con chim (pakkhī) muốn tung cánh bay vào không trung để thoải mái dạo chơi.
  • Con chó (kukkuro) muốn vào làng, nằm gần lò bếp để sưởi ấm.
  • Con giả can (siṅgālo) muốn vào bãi tha ma, ăn thịt người rồi nằm nghỉ duỗi lưng.
  • Con khỉ (makkaṭo) muốn leo lên cây cao, nhảy nhót khắp bốn phương trong rừng.

“anuvidhāyeyyuṃ” có nghĩa là “chúng sẽ đi theo sau”, hay “bị dẫn dắt theo”.
Ý rằng: chúng sẽ đi theo hướng nào mà con mạnh nhất kéo đi.

“evameva”: Cũng giống như vậy – ở đây, sáu con vật nên được hiểu là ví dụ cho sáu căn (chāyatanāni);
dây thừng chắc chắn ví như tham ái (taṇhā);
nút thắt ở giữa tượng trưng cho vô minh (avijjā).
Ở bất kỳ cửa căn nào, khi cảnh trần trở nên mạnh mẽ, thì chính căn ấy sẽ kéo toàn bộ tâm trí về phía nó.

Ẩn dụ sâu sắc hơn về tâm lý và các căn:

Bậc Đạo Sư có thể nêu ví dụ này để minh họa cho:

1.    Tâm có xu hướng tương tự, hoặc

2.    Sự đa dạng của các căn và đối tượng.

Ở đây, theo xu hướng tương tự:

  • Rắn không thích nằm ở nơi khô thoáng, mà thích bò vào những nơi như bãi rác, bụi rậm, hay tổ mối. Ở đó nó cảm thấy dễ chịu và đạt được sự tập trung.
     Cũng như vậy, mắt (cakkhu) có xu hướng thích hình ảnh phức tạp, không thích những hình ảnh đơn giản hay sạch sẽ như tường vàng, mà thích các đối tượng rực rỡ như hoa văn, màu sắc, v.v.
  • Cá sấu, khi ra khỏi nước, không thấy được con mồi, nó di chuyển mắt nhắm lại. Nhưng khi đã lặn sâu vào hang dưới nước, thì tâm nó an tịnh và dễ ngủ.
    Cũng vậy, tai (sota) có xu hướng thích âm thanh vang trong khoảng không nhỏ như lỗ tai, và phản ứng đặc biệt với những âm thanh đi qua khe cửa, lỗ thông gió…
  • Chim không thích ở dưới đất hay trên cây thấp. Khi nó bay lên không trung, vượt khỏi vài sải tay, thì mới đạt được tâm định.Tương tự, mũi (ghāna) cũng có xu hướng phụ thuộc vào gió để nhận biết mùi. Khi không có gió, dù có cầm chất thơm trong tay, cũng khó ngửi được.
  • Chó, khi đi lang thang bên ngoài, không tìm được chỗ nghỉ yên, bị đánh đuổi. Nhưng khi vào làng, nằm gần bếp, thì được ấm áp và dễ chịu.
    Cũng vậy, lưỡi (jivhā) thích vị nương vào nước bọt và thức ăn lỏng. Thức ăn khô nếu không có nước miếng thì không cảm nhận được vị rõ ràng.
  • Giả can, đi ngoài đồng không thấy vui. Khi vào bãi tha ma, ăn thịt người rồi nằm xuống, mới thấy thoải mái. Tương tự, thân căn (kāya) dựa vào xúc chạm với mặt đất. Khi không có ai khác để dựa vào, người ta cũng sẽ tự lấy tay mình làm gối đầu để nằm. Các bề mặt tiếp xúc – dù bên trong hay bên ngoài – đều là điều kiện để cảm nhận xúc chạm.
  • Khỉ, không vui khi đi trên mặt đất. Nhưng khi leo lên ngọn cây cao, ngồi trên cành cây và nhìn quanh bốn phía, nó mới thấy thoải mái. Cũng vậy, ý căn (mano) là căn lang thang, luôn bị kéo bởi cảnh pháp. Nó không đứng yên, kể cả với những gì đã từng trải nghiệm.

Khi các căn bị buộc lại nơi trụ cột của chánh niệm về thân (kāyagatāsati), thì chúng không còn bị lôi kéo. Như vậy, trong kinh này, Đức Phật chỉ bày phần tu tập tiên khởi của Minh sát tuệ (pubbabhāgavipassanā).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

206. X. Sáu Sanh Vật (S.iv,198)

1-2) ...

3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, có người thân bị thương tích, thân bị lở loét, đi vào một khu rừng đầy gai góc. Cỏ và gai đâm thủng chân người ấy, và cào rách thân lở loét của người ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy do nhân duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo đi vào làng hay đi vào rừng gặp người chỉ trích Tỷ-kheo ấy, và người chỉ trích nói rằng: "Tôn giả làm như vậy, sở hành như vậy là gai bất tịnh trong làng". Biết rằng vị ấy là gai, sau khi biết như vậy, cả hai (người Tỷ-kheo và người chỉ trích) cần phải hiểu là không hộ trì và có hộ trì.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, thiên chấp sắc khả ái, ghét bỏ sắc không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn... khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận biết pháp, thiên chấp pháp khả ái, ghét bỏ pháp không khả ái, sống với thân niệm không an trú, với tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi ấy, các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên không được đoạn diệt không có dư tàn...

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu, người ấy cột một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con chim, người ấy cột với sợi dây vững chắc... Sau khi bắt được con chó, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con giả can, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với những sợi dây vững chắc, người ấy cột một cái gút ở chính giữa và thả chúng đi. Này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào gò mối". Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào trong nước". Con chim lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ bay lên trời".Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: " Ta sẽ đi vào làng". Con giả can lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào nghĩa địa". Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào rừng". Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, khi ấy, con sinh vật nào mạnh hơn các sinh vật còn lại, được chúng đi theo, chúng tuân theo, chúng phục tùng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân niệm không tu tập, không làm cho sung mãn, con mắt sẽ lôi cuốn nó đối với các sắc khả ái và ghét bỏ đối với các sắc không khả ái... Ý sẽ lôi cuốn nó đối với các pháp khả ái và ghét bỏ đối với các pháp không khả ái.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hộ trì.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hộ trì?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không thiên chấp các sắc khả ái, không ghét bỏ các sắc không khả ái, sống với thân niệm an trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây, các ác bất thiện pháp khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn... khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý biết các pháp, không thiên chấp các pháp khả ái, không ghét bỏ các pháp không khả ái, an trú thân niệm, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát; chính ở nơi đây các ác bất thiện pháp ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn.

7) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bắt được sáu con sinh vật, giới loại khác nhau, chỗ tìm món ăn khác nhau, và cột chúng với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con rắn, người ấy cột với một sợi dây vững chắc. Sau khi bắt được con cá sấu... Sau khi bắt được con chim... Sau khi bắt được con chó... Sau khi bắt được con giả can... Sau khi bắt được con khỉ, người ấy cột với sợi dây vững chắc. Sau khi cột chúng với sợi dây vững chắc, người ấy cột vào một cái cột hay cái trụ vững chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo, sáu con sinh vật ấy, với giới loại sai khác, với chỗ tìm món ăn sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm món ăn và giới loại sai biệt của mình. Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào gò mối". Con cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào trong nước". Con chim lôi kéo nghĩ rằng: "Ta sẽ bay lên trời". Con chó lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào làng". Con giả can lôi kéo nghĩ rằng: "Ta sẽ đi đến nghĩa địa". Con khỉ lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào rừng". Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu con sinh vật ấy trở thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng gần bên, ngồi gần bên, nằm gần bên cái cột ấy hay cái trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo thân niệm được tu tập, được làm sung mãn, con mắt không lôi kéo vị ấy theo các sắc khả ái, đối với các sắc không khả ái, không ghét bỏ... lưỡi không lôi kéo vị ấy theo các vị khả ái, đối với vị không khả ái, không có ghét bỏ... ý không lôi kéo vị ấy theo các pháp khả ái, đối với pháp không khả ái, không có ghét bỏ.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hộ trì.

8) Cái cột hay cái trụ vững chắc, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân niệm. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: "Chúng ta sẽ tu tập thân niệm, làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành cơ sở, an trú, tích tập, khéo nỗ lực". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

-ooOoo-