|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 03 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH
VĂN
247. “seyyathāpi, bhikkhave,
puriso arugatto pakkagatto
saravanaṃ paviseyya. tassa
kusakaṇṭakā ceva pāde
vijjheyyuṃ, sarapattāni ca
gattāni {sarapattāni
pakkagattāni (syā. kaṃ.),
arupakkāni gattāni (pī.
ka.)} vilekheyyuṃ. evañhi
so, bhikkhave, puriso
bhiyyosomattāya tatonidānaṃ
dukkhaṃ domanassaṃ
paṭisaṃvediyetha. evameva
kho, bhikkhave, idhekacco
bhikkhu gāmagato vā
araññagato vā labhati
vattāraṃ — ‘ayañca so
{ayañca kho (pī. ka.), ayaṃ
so (?)} āyasmā evaṃkārī
evaṃsamācāro
asucigāmakaṇṭako’ti. taṃ
kaṇṭakoti {taṃ
“asucigāmakaṇḍato””ti (ka.)}
iti viditvā saṃvaro ca
asaṃvaro ca veditabbo.
“kathañca, bhikkhave,
asaṃvaro hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhu cakkhunā
rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe
adhimuccati, appiyarūpe rūpe
byāpajjati,
anupaṭṭhitakāyassati ca
viharati parittacetaso.
tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
nappajānāti, yatthassa te
uppannā pāpakā akusalā
dhammā aparisesā
nirujjhanti. sotena saddaṃ
sutvā... ghānena gandhaṃ
ghāyitvā... jivhāya rasaṃ
sāyitvā... kāyena
phoṭṭhabbaṃ phusitvā...
manasā dhammaṃ viññāya
piyarūpe dhamme adhimuccati,
appiyarūpe dhamme
byāpajjati,
anupaṭṭhitakāyassati ca
viharati parittacetaso,
tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
nappajānāti, yatthassa te
uppannā pāpakā akusalā
dhammā aparisesā
nirujjhanti.
“seyyathāpi,
bhikkhave, puriso chappāṇake
gahetvā nānāvisaye
nānāgocare daḷhāya rajjuyā
bandheyya. ahiṃ gahetvā
daḷhāya rajjuyā bandheyya.
susumāraṃ {suṃsumāraṃ (sī.
syā. kaṃ. pī.)} gahetvā
daḷhāya rajjuyā bandheyya.
pakkhiṃ gahetvā daḷhāya
rajjuyā bandheyya. kukkuraṃ
gahetvā daḷhāya rajjuyā
bandheyya. siṅgālaṃ gahetvā
daḷhāya rajjuyā bandheyya.
makkaṭaṃ gahetvā daḷhāya
rajjuyā bandheyya. daḷhāya
rajjuyā bandhitvā majjhe
gaṇṭhiṃ karitvā ossajjeyya.
atha kho, te, bhikkhave,
chappāṇakā nānāvisayā
nānāgocarā sakaṃ sakaṃ
gocaravisayaṃ āviñcheyyuṃ
{āviñjeyyuṃ (sī.)} — ahi
āviñcheyya ‘vammikaṃ
pavekkhāmī’ti, susumāro
āviñcheyya ‘udakaṃ
pavekkhāmī’ti, pakkhī
āviñcheyya ‘ākāsaṃ
ḍessāmī’ti, kukkuro
āviñcheyya ‘gāmaṃ
pavekkhāmī’ti, siṅgālo
āviñcheyya ‘sīvathikaṃ
{sivathikaṃ (ka.)}
pavekkhāmī’ti, makkaṭo
āviñcheyya ‘vanaṃ
pavekkhāmī’ti. yadā kho te,
bhikkhave, chappāṇakā jhattā
assu kilantā, atha kho yo
nesaṃ pāṇakānaṃ balavataro
assa tassa te anuvatteyyuṃ,
anuvidhāyeyyuṃ vasaṃ
gaccheyyuṃ. evameva kho,
bhikkhave, yassa kassaci
bhikkhuno kāyagatāsati
abhāvitā abahulīkatā, taṃ
cakkhu āviñchati manāpiyesu
rūpesu, amanāpiyā rūpā
paṭikūlā honti ... pe ...
mano āviñchati manāpiyesu
dhammesu, amanāpiyā dhammā
paṭikūlā honti. evaṃ kho,
bhikkhave, asaṃvaro hoti.
“kathañca, bhikkhave,
saṃvaro hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhu cakkhunā
rūpaṃ disvā piyarūpe rūpe
nādhimuccati, appiyarūpe
rūpe na byāpajjati,
upaṭṭhitakāyassati ca
viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
pajānāti, yatthassa te
uppannā pāpakā akusalā
dhammā aparisesā nirujjhanti
... pe ... jivhā rasaṃ
sāyitvā ... pe ... manasā
dhammaṃ viññāya piyarūpe
dhamme nādhimuccati,
appiyarūpe dhamme na
byāpajjati,
upaṭṭhitakāyassati ca
viharati appamāṇacetaso,
tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
pajānāti yatthassa te
uppannā pāpakā akusalā
dhammā aparisesā
nirujjhanti.
“seyyathāpi, bhikkhave,
puriso chappāṇake gahetvā
nānāvisaye nānāgocare
daḷhāya rajjuyā bandheyya.
ahiṃ gahetvā daḷhāya rajjuyā
bandheyya. susumāraṃ gahetvā
daḷhāya rajjuyā bandheyya.
pakkhiṃ gahetvā ... pe ...
kukkuraṃ gahetvā... siṅgālaṃ
gahetvā... makkaṭaṃ gahetvā
daḷhāya rajjuyā bandheyya.
daḷhāya rajjuyā bandhitvā
daḷhe khīle vā thambhe vā
upanibandheyya. atha kho te,
bhikkhave, chappāṇakā
nānāvisayā nānāgocarā sakaṃ
sakaṃ gocaravisayaṃ
āviñcheyyuṃ — ahi āviñcheyya
‘vammikaṃ pavekkhāmī’ti,
susumāro āviñcheyya ‘udakaṃ
pavekkhāmī’ti, pakkhī
āviñcheyya ‘ākāsaṃ
ḍessāmī’ti, kukkuro
āviñcheyya ‘gāmaṃ
pavekkhāmī’ti, siṅgālo
āviñcheyya ‘sīvathikaṃ
pavekkhāmī’ti, makkaṭo
āviñcheyya ‘vanaṃ
pavekkhāmī’ti. yadā kho te,
bhikkhave, chappāṇakā jhattā
assu kilantā, atha tameva
khīlaṃ vā thambhaṃ vā
upatiṭṭheyyuṃ,
upanisīdeyyuṃ,
upanipajjeyyuṃ. evameva kho,
bhikkhave, yassa kassaci
bhikkhuno kāyagatāsati
bhāvitā bahulīkatā, taṃ
cakkhu nāviñchati manāpiyesu
rūpesu, amanāpiyā rūpā
nappaṭikūlā honti ... pe ...
jivhā nāviñchati manāpiyesu
rasesu ... pe ... mano
nāviñchati manāpiyesu
dhammesu, amanāpiyā dhammā
nappaṭikūlā honti. evaṃ kho,
bhikkhave, saṃvaro hoti.
“‘daḷhe khīle vā thambhe
vā’ti kho, bhikkhave,
kāyagatāya satiyā etaṃ
adhivacanaṃ. tasmātiha vo,
bhikkhave, evaṃ sikkhitabbaṃ
— ‘kāyagatā no sati bhāvitā
bhavissati bahulīkatā
yānīkatā vatthukatā
anuṭṭhitā paricitā
susamāraddhā’ti. evañhi kho,
bhikkhave, sikkhitabban”ti.
dasamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, giả sử có
một người bị thương ở tay
chân, đầy những vết lở loét,
lại đi vào rừng lau sậy đầy
gai Kusa. Những chiếc gai sẽ
đâm vào chân người ấy, và
những lá sậy sắc bén sẽ cứa
vào thân thể. Như vậy, người
ấy sẽ phải chịu thêm đau đớn
và khó chịu. Cũng vậy, này
chư Tỳ khưu, có một Tỳ khưu
khi đi vào làng hay vào
rừng, gặp người trách mắng
rằng: ‘Vị tôn giả này hành
xử như thế, cư xử như thế,
thật là một cái gai trong
làng.’ Khi đã hiểu mình bị
xem là ‘gai nhọn’, thì vị ấy
phải hiểu rõ thế nào là sự
chế ngự và không chế ngự.
“Và thế nào, này chư Tỳ
khưu, là không chế ngự? Ở
đây, một Tỳ khưu khi thấy
một hình sắc bằng mắt, bị
lôi cuốn bởi sắc khả ái và
ghét bỏ sắc không khả ái. Vị
ấy sống không thiết lập
chánh niệm nơi thân, với tâm
thiển cận, và không hiểu như
nhiên về tâm giải thoát ,
tuệ giải thoát
— nơi mà các pháp bất
thiện, ác bất thiện được
đoạn trừ không dư sót. Nghe
một âm thanh bằng tai … nhận
biết cảnh pháp bằng ý, vị ấy
bị lôi cuốn bởi pháp khả ái
và ghét bỏ pháp không khả
ái. Vị ấy sống không thiết
lập chánh niệm nơi thân, với
tâm thiển cận, và không hiểu
như nhiên về tâm giải thoát
, tuệ giải thoát — nơi mà
các pháp bất thiện, ác bất
thiện được đoạn trừ không dư
sót.
“Này chư Tỳ khưu, ví như có
người bắt sáu con vật – mỗi
con có lãnh vực sinh sống và
nơi kiếm ăn khác nhau – và
trói chúng bằng dây thừng
chắc chắn: một con rắn, một
con cá sấu, một con chim,
một con chó, một con giả
can, và một con khỉ. Anh ta
trói mỗi con bằng một sợi
dây chắc, rồi buộc các sợi
dây ấy lại với nhau ở giữa
và thả chúng ra.
Sáu
con vật ấy sẽ kéo mỗi con
theo hướng riêng của nó: rắn
thì muốn chui vào hang mối,
cá sấu thì muốn xuống nước,
chim thì muốn bay lên trời,
chó thì muốn vào làng, giả
can thì hướng đến bãi tha
ma, khỉ thì muốn chạy vào
rừng.
“Khi sáu con vật này trở nên
mệt mỏi và kiệt sức, chúng
sẽ bị con mạnh nhất kéo
theo, phục tùng nó và bị chi
phối bởi nó. Cũng vậy, này
chư Tỳ khưu, khi một Tỳ khưu
không phát triển và tu tập
chánh niệm hướng đến thân,
thì mắt bị kéo về sắc khả ái
và né tránh sắc không khả
ái; tai bị kéo về âm thanh
khả ái và né tránh âm thanh
không khả ái; mũi bị kéo về
mùi khả ái và né tránh mùi
không khả ái; lưỡi bị kéo về
vị khả ái và né tránh vị
không khả ái; thân bị kéo về
xúc chạm khả ái và né tránh
xúc chạm không khả ái; ý bị
kéo về pháp khả ái và né
tránh pháp không khả ái. Như
vậy là không có sự chế ngự.
“Và thế nào, này chư Tỳ
khưu, là có sự chế ngự? Ở
đây, một Tỳ khưu khi thấy
một hình sắc bằng mắt, không
bị lôi cuốn bởi sắc khả ái,
không ghét bỏ sắc không khả
ái. Vị ấy sống có thiết lập
chánh niệm nơi thân, với tâm
vô lượng, và hiểu như nhiên
về sự giải thoát tâm, giải
thoát bằng trí tuệ — nơi các
pháp bất thiện, ác bất thiện
được đoạn trừ không dư sót.
Nghe một âm thanh bằng tai …
nhận biết một pháp trần bằng
ý, vị ấy không bị lôi cuốn
bởi pháp khả ái, không chán
ghét pháp không khả ái. Vị
ấy sống có thiết lập chánh
niệm nơi thân, với tâm vô
lượng, và như nhiên về tâm
giải thoát , tuệ giải thoát
— nơi mà các pháp bất thiện,
ác bất thiện được đoạn trừ
không dư sót. Như vậy là có
sự chế ngự.
“Này chư Tỳ khưu, ví như có
người bắt sáu con vật – mỗi
con có lãnh vực sinh sống và
nơi kiếm ăn khác nhau – và
trói chúng bằng dây thừng
chắc chắn: một con rắn, một
con cá sấu, một con chim,
một con chó, một con chó
rừng, và một con khỉ. Sau
đó, người ấy buộc cả sáu con
vật vào một cây cột hoặc trụ
vững chắc. Sáu con vật ấy sẽ
kéo mỗi con theo hướng riêng
của nó: rắn thì muốn chui
vào hang mối, cá sấu thì
muốn xuống nước, chim thì
muốn bay lên trời, chó thì
muốn vào làng, giả can thì
hướng đến bãi tha ma, khỉ
thì muốn chạy vào rừng.
“Khi sáu con vật này trở nên
mệt mỏi và kiệt sức, chúng
sẽ đứng gần cây cột ấy, ngồi
xuống, hoặc nằm xuống tại
chỗ. Cũng vậy, này chư Tỳ
khưu, khi một Tỳ khưu đã
phát triển và tu tập chánh
niệm hướng về thân, thì mắt
không bị kéo theo sắc khả
ái, không
né
tránh sắc không khả ái;
tai không bị kéo theo âm
thanh khả ái, không né tránh
âm thanh không khả ái; mũi
không bị kéo theo mùi khả
ái, không né tránh mùi không
khả ái; lưỡi không bị kéo
theo vị khả ái, không né
tránh vị không khả ái; thân
không bị kéo theo xúc chạm
khả ái, không né tránh xúc
chạm không khả ái; ý không
bị kéo theo pháp khả ái,
không né tránh pháp không
khả ái. Như vậy là có sự chế
ngự.
“‘Cây cột hoặc trụ vững
chắc’: này chư Tỳ khưu, đó
là tên gọi cho chánh niệm
hướng đến thân. Do vậy, này
chư Tỳ khưu, các Thầy cần
phải tự rèn luyện như sau:
‘Chúng ta sẽ phát triển và
tu tập chánh niệm hướng đến
thân, làm nó thành phương
tiện, làm nền tảng, làm nơi
nương tựa, thực hành trên đó
và hoàn toàn viên mãn trong
nó.’ Các Thầy nên tự rèn
luyện như vậy.”
Chú Thích
Cụm từ asucigāmakaṇṭako” có
nghĩa là “gai bẩn của làng”
Sớ giải chú thích“bẩn thỉu”
theo nghĩa là ô uế, còn “cái
gai trong làng” theo nghĩa
là gây tổn thương cho dân
làng.Hậu Sớ Giải chú thích
thêm: làm khổ họ bằng cách
nhận sự cúng dường trong khi
bản thân không xứng đáng.
Do các giác quan và cảnh
mang tác động khác nhau nên
tâm ý chúng sanh thường phức
tạp. Thiếu ý thức phòng hộ
thường tạo nên những phiền
luỵ. Đây là nỗi khổ muôn
thuở của kiếp nhân sinh được
ví dụ như người có nhiều vết
thương, vết lở trên thân
không được băng bó mà lại đi
xuyên qua khu rừng nhiều gai
nhọn.
Phật ngôn trong bài khi nêu
rõ giai đoạn đầu của sự tu
tập, hành giả phải vất vả
nhiều với bản thân vì tâm ý
chưa được thuần hoá.
Sớ Giải
247. dasame arugattoti
vaṇasarīro. tesaṃyeva arūnaṃ
pakkattā pakkagatto.
saravananti kaṇḍavanaṃ.
evameva khoti arugatto
puriso viya dussīlapuggalo
veditabbo. tassa
kusakaṇṭakehi viddhassa
sarapattehi ca
asidhārūpamehi
vilikhitagattassa
bhiyyosomattāya
dukkhadomanassaṃ viya tattha
tattha sabrahmacārīhi “ayaṃ
so imesañca imesañca
kammānaṃ kārako”ti
vuccamānassa
uppajjanadukkhaṃ veditabbaṃ.
labhati vattāranti labhati
codakaṃ. evaṃkārīti
evarūpānaṃ
vejjakammadūtakammādīnaṃ
kārako. evaṃsamācāroti
vidhavā gocarādivasena
evarūpagocaro.
asucigāmakaṇṭakoti
asuddhaṭṭhena asuci,
gāmavāsīnaṃ vijjhanaṭṭhena
kaṇṭakoti gāmakaṇṭako.
pakkhinti
hatthisoṇḍasakuṇaṃ.
ossajjeyyāti vissajjeyya.
āviñcheyyunti ākaḍḍheyyuṃ.
pavekkhāmīti pavisissāmi.
ākāsaṃ ḍessāmīti ākāsaṃ
uppatissāmi.
etesu pana ahi “bhogehi
maṇḍalaṃ bandhitvā
supissāmī”ti vammikaṃ
pavisitukāmo hoti. susumāro
“dūre bilaṃ pavisitvā
nipajjissāmī”ti udakaṃ
pavisitukāmo hoti. pakkhī
“ajaṭākāse sukhaṃ
vicarissāmī”ti ākāsaṃ
ḍetukāmo hoti. kukkuro
“uddhanaṭṭhāne chārikaṃ
byūhitvā usumaṃ gaṇhanto
nipajjissāmī”ti gāmaṃ
pavisitukāmo hoti. siṅgālo
“manussamaṃsaṃ khāditvā
piṭṭhiṃ pasāretvā
sayissāmī”ti āmakasusānaṃ
pavisitukāmo hoti. makkaṭo
“ucce rukkhe abhiruhitvā
disādisaṃ pakkhandissāmī”ti
vanaṃ pavisitukāmo hoti.
anuvidhāyeyyunti
anugaccheyyuṃ,
anuvidhiyeyyuntipi pāṭho,
anuvidhānaṃ āpajjeyyunti
attho. yattha so yāti,
tattheva gaccheyyunti vuttaṃ
hoti. evamevāti ettha cha
pāṇakā viya chāyatanāni
daṭṭhabbāni, daḷharajju viya
taṇhā, majjhe gaṇṭhi viya
avijjā. yasmiṃ yasmiṃ dvāre
ārammaṇaṃ balavaṃ hoti, taṃ
taṃ āyatanaṃ tasmiṃ tasmiṃ
ārammaṇe āviñchati.
imaṃ pana upamaṃ bhagavā
sarikkhakena vā āhareyya
āyatanānaṃ vā
nānattadassanavasena. tattha
sarikkhakena tāva visuṃ
appanākiccaṃ natthi,
pāḷiyaṃyeva appitā.
āyatanānaṃ nānattadassanena
pana ayaṃ appanā — ahi
nāmesa bahi sittasammaṭṭhe
ṭhāne nābhiramati,
saṅkāraṭṭhānatiṇapaṇṇagahanavammikāniyeva
pana pavisitvā nipannakāle
abhiramati, ekaggataṃ
āpajjati. evameva
cakkhupetaṃ visamajjhāsayaṃ,
maṭṭhāsu suvaṇṇabhittiādīsu
nābhiramati, oloketumpi na
icchati,
rūpacittapupphalatādivicittesuyeva
pana abhiramati. tādisesu hi
ṭhānesu cakkhumhi appahonte
mukhampi vivaritvā
oloketukāmo hoti.
susumāropi bahi nikkhanto
gahetabbaṃ na passati,
akkhiṃ nimīletvā carati.
yadā pana byāmasatamattaṃ
udakaṃ ogāhitvā bilaṃ
pavisitvā nipanno hoti, tadā
tassa cittaṃ ekaggaṃ hoti,
sukhaṃ supati. evameva
sotampetaṃ bilajjhāsayaṃ
ākāsasannissitaṃ,
kaṇṇacchiddakūpakeyeva
ajjhāsayaṃ karoti,
kaṇṇacchiddākāsoyeva tassa
saddasavane paccayo hoti.
ajaṭākāsopi vaṭṭatiyeva.
antoleṇasmiñhi sajjhāye
kayiramāne na leṇacchadanaṃ
bhinditvā saddo bahi
nikkhamati,
dvāravātapānachiddehi pana
nikkhamitvā dhātuparamparā
ghaṭṭento āgantvā
sotapasādaṃ ghaṭṭeti. atha
tasmiṃ kāle “asukaṃ nāma
sajjhāyatī”ti leṇapiṭṭhe
nisinnā jānanti.
evaṃ sante sampattagocaratā
hoti, kiṃ panetaṃ
sampattagocaranti? āma
sampattagocaraṃ. yadi evaṃ
dūre bheriādīsu vajjamānesu
“dūre saddo”ti jānanaṃ na
bhaveyyāti. no na bhavati.
sotapasādasmiñhi ghaṭṭite
“dūre saddo, āsanne saddo,
paratīre orimatīre”ti tathā
tathā jānanākāro hoti,
dhammatā esāti. kiṃ etāya
dhammatāya? yato yato
chiddaṃ, tato tato savanaṃ
hoti candimasūriyādīnaṃ
dassanaṃ viyāti
asampattagocaramevetaṃ.
pakkhīpi rukkhe vā bhūmiyaṃ
vā na ramati. yadā pana ekaṃ
vā dve vā leḍḍupāte
atikkamma ajaṭākāsaṃ
pakkhando hoti, tadā
ekaggacittataṃ āpajjati.
evameva ghānampi
ākāsajjhāsayaṃ
vātūpanissayagandhagocaraṃ.
tathā hi gāvo navavuṭṭhe
deve bhūmiṃ ghāyitvā
ghāyitvā ākāsābhimukho hutvā
vātaṃ ākaḍḍhanti. aṅgulīhi
gandhapiṇḍaṃ gahetvāpi ca
upasiṅghanakāle vātaṃ
anākaḍḍhanto neva tassa
gandhaṃ jānāti.
kukkuropi bahi caranto
khemaṭṭhānaṃ na passati,
leḍḍudaṇḍādīhi upadduto
hoti. antogāmaṃ pavisitvā
uddhanaṭṭhāne chārikaṃ
byūhitvā nipannassa panassa
phāsu hoti. evameva jivhāpi
gāmajjhāsayā
āposannissitarasārammaṇā.
tathā hi tiyāmarattiṃ
samaṇadhammaṃ katvāpi pātova
pattacīvaramādāya gāmaṃ
pavisitabbaṃ hoti.
sukkhakhādanīyassa ca na
sakkā kheḷena atemitassa
rasaṃ jānituṃ.
siṅgālopi bahi caranto ratiṃ
na vindati, āmakasusāne
manussamaṃsaṃ khāditvā
nipannasseva panassa phāsu
hoti. evameva kāyopi
upādiṇṇakajjhāsayo
pathavīsannissitaphoṭṭhabbārammaṇo.
tathā hi aññaṃ upādiṇṇakaṃ
alabhamānā sattā attanova
hatthatale sīsaṃ katvā
nipajjanti. ajjhattikabāhirā
cassa pathavī
ārammaṇaggahaṇe paccayo
hoti. susanthatassāpi hi
sayanassa heṭṭhāṭhitānampi
vā phalakānaṃ na sakkā
anisīdantena vā
anuppīḷantena vā
thaddhamudubhāvo jānitunti
ajjhattikabāhirā pathavī
etassa phoṭṭhabbajānane
paccayo hoti.
makkaṭopi bhūmiyaṃ vicaranto
nābhiramati,
hatthasatubbedhaṃ panassa
rukkhaṃ āruyha viṭapapiṭṭhe
nisīditvā disāvidisā
olokentasseva phāsuko hoti.
evaṃ manopi nānajjhāsayo
bhavaṅgapaccayo,
diṭṭhapubbepi
nānārammaṇajjhāsayaṃ
karotiyeva mūlabhavaṅgaṃ
panassa paccayo hotīti
ayamettha saṅkhepo,
vitthārena pana āyatanānaṃ
nānattaṃ visuddhimagge
āyatananiddese vuttameva.
taṃ cakkhu
nāviñchatīti taṇhārajjukānaṃ
āyatanapāṇakānaṃ
kāyagatāsatithambhe
baddhānaṃ nibbisevanabhāvaṃ
āpannattā nākaḍḍhatīti
imasmiṃ sutte
pubbabhāgavipassanāva
kathitā.
247. Trong bài kinh thứ
mười:
“arugatto”
nghĩa là “người có thân đầy
vết thương”.
“saravanaṃ”
có nghĩa là rừng lau sậy
(kaṇḍavanaṃ). Cũng vậy, như
người có thân đầy vết thương
ấy, nên hiểu rằng đó là ví
dụ cho người phá giới
(dussīla puggalo). Khi người
ấy bị gai Kusa đâm vào, bị
lá lau sậy – sắc như lưỡi
dao – cứa vào thân thể,
khiến cho đau đớn và phiền
não gia tăng hơn nữa; cũng
như vậy, người phá giới bị
các bạn đồng tu nói đến chỗ
này chỗ kia rằng: “Chính
người này đã làm của việc
ấy, việc kia”. Nỗi khổ phát
sinh từ sự quở trách ấy phải
được hiểu là tương tự.
“labhati vattāraṃ”
nghĩa là: “người ấy bị ai đó
trách mắng”.
“pakkhī”
là con chim lớn (như thiên
nga, công).
Ý nghĩa ẩn dụ của sáu con
vật:
Ở đây:
“anuvidhāyeyyuṃ”
có nghĩa là “chúng sẽ đi
theo sau”, hay “bị dẫn dắt
theo”.
“evameva”:
Cũng giống như vậy – ở đây,
sáu con vật nên được hiểu là
ví dụ cho sáu căn
(chāyatanāni);
Ẩn dụ sâu sắc hơn về tâm lý
và các căn:
Bậc Đạo Sư có thể nêu ví dụ
này để minh họa cho:
1.
Tâm có xu hướng tương tự,
hoặc
2.
Sự đa dạng của các căn và
đối tượng.
Ở đây, theo xu hướng tương
tự:
Khi các căn bị buộc lại nơi
trụ cột của chánh niệm về
thân (kāyagatāsati), thì
chúng không còn bị lôi kéo.
Như vậy, trong kinh này, Đức
Phật chỉ bày phần tu tập
tiên khởi của Minh sát tuệ
(pubbabhāgavipassanā).
206. X. Sáu Sanh Vật (S.iv,198)
1-2) ...
3) -- Ví như, này các
Tỷ-kheo, có người thân bị
thương tích, thân bị lở
loét, đi vào một khu rừng
đầy gai góc. Cỏ và gai đâm
thủng chân người ấy, và cào
rách thân lở loét của người
ấy. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, người ấy do nhân
duyên ấy còn cảm thọ khổ ưu
nhiều hơn nữa. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, ở đây có
Tỷ-kheo đi vào làng hay đi
vào rừng gặp người chỉ trích
Tỷ-kheo ấy, và người chỉ
trích nói rằng: "Tôn giả làm
như vậy, sở hành như vậy là
gai bất tịnh trong làng".
Biết rằng vị ấy là gai, sau
khi biết như vậy, cả hai
(người Tỷ-kheo và người chỉ
trích) cần phải hiểu là
không hộ trì và có hộ trì.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là không hộ trì? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi
mắt thấy sắc, thiên chấp sắc
khả ái, ghét bỏ sắc không
khả ái, sống với thân niệm
không an trú, với tâm nhỏ
hẹp. Vị ấy không như thật
tuệ tri tâm giải thoát, tuệ
giải thoát; chính ở nơi đây,
các ác bất thiện pháp ấy
khởi lên không được đoạn
diệt không có dư tàn... khi
tai nghe tiếng... khi mũi
ngửi hương... khi lưỡi nếm
vị... khi thân cảm xúc...
khi ý nhận biết pháp, thiên
chấp pháp khả ái, ghét bỏ
pháp không khả ái, sống với
thân niệm không an trú, với
tâm nhỏ hẹp. Vị ấy không như
thật tuệ tri tâm giải thoát,
tuệ giải thoát; chính ở nơi
ấy, các ác, bất thiện pháp
ấy khởi lên không được đoạn
diệt không có dư tàn...
5) Ví như, này các Tỷ-kheo,
có người bắt được sáu sinh
vật, giới loại khác nhau,
chỗ tìm món ăn khác nhau, và
cột chúng với một sợi dây
vững chắc. Sau khi bắt được
con rắn, người ấy cột với
sợi dây vững chắc. Sau khi
bắt được con cá sấu, người
ấy cột một sợi dây vững
chắc. Sau khi bắt được con
chim, người ấy cột với sợi
dây vững chắc... Sau khi bắt
được con chó, người ấy cột
với một sợi dây vững chắc.
Sau khi bắt được con giả
can, người ấy cột với một
sợi dây vững chắc. Sau khi
bắt được con khỉ, người ấy
cột với một sợi dây vững
chắc. Sau khi cột chúng với
những sợi dây vững chắc,
người ấy cột một cái gút ở
chính giữa và thả chúng đi.
Này các Tỷ-kheo, sáu con
sinh vật ấy, với giới loại
sai khác, với chỗ tìm món ăn
sai khác, mỗi con sẽ lôi kéo
tùy theo chỗ tìm món ăn và
giới loại sai biệt của mình.
Con rắn lôi kéo, nghĩ rằng:
"Ta sẽ đi vào gò mối". Con
cá sấu lôi kéo, nghĩ rằng:
"Ta sẽ đi vào trong nước".
Con chim lôi kéo, nghĩ rằng:
"Ta sẽ bay lên trời".Con chó
lôi kéo, nghĩ rằng: " Ta sẽ
đi vào làng". Con giả can
lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ
đi vào nghĩa địa". Con khỉ
lôi kéo, nghĩ rằng: "Ta sẽ
đi vào rừng". Này các
Tỷ-kheo, khi nào sáu con
sinh vật ấy trở thành mệt
mỏi, khi ấy, con sinh vật
nào mạnh hơn các sinh vật
còn lại, được chúng đi theo,
chúng tuân theo, chúng phục
tùng. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo thân
niệm không tu tập, không làm
cho sung mãn, con mắt sẽ lôi
cuốn nó đối với các sắc khả
ái và ghét bỏ đối với các
sắc không khả ái... Ý sẽ lôi
cuốn nó đối với các pháp khả
ái và ghét bỏ đối với các
pháp không khả ái.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
không hộ trì.
6) Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là hộ trì?
Ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc,
không thiên chấp các sắc khả
ái, không ghét bỏ các sắc
không khả ái, sống với thân
niệm an trú, với tâm vô
lượng. Vị ấy như thật rõ
biết tâm giải thoát, tuệ
giải thoát; chính ở nơi đây,
các ác bất thiện pháp khởi
lên được đoạn diệt không có
dư tàn... khi tai nghe
tiếng... khi mũi ngửi
hương... khi lưỡi nếm vị...
khi thân cảm xúc... khi ý
biết các pháp, không thiên
chấp các pháp khả ái, không
ghét bỏ các pháp không khả
ái, an trú thân niệm, với
tâm vô lượng. Vị ấy như thật
rõ biết tâm giải thoát, tuệ
giải thoát; chính ở nơi đây
các ác bất thiện pháp ấy
khởi lên được đoạn diệt
không có dư tàn.
7) Ví như, này các Tỷ-kheo,
có người bắt được sáu con
sinh vật, giới loại khác
nhau, chỗ tìm món ăn khác
nhau, và cột chúng với một
sợi dây vững chắc. Sau khi
bắt được con rắn, người ấy
cột với một sợi dây vững
chắc. Sau khi bắt được con
cá sấu... Sau khi bắt được
con chim... Sau khi bắt được
con chó... Sau khi bắt được
con giả can... Sau khi bắt
được con khỉ, người ấy cột
với sợi dây vững chắc. Sau
khi cột chúng với sợi dây
vững chắc, người ấy cột vào
một cái cột hay cái trụ vững
chắc. Rồi, này các Tỷ-kheo,
sáu con sinh vật ấy, với
giới loại sai khác, với chỗ
tìm món ăn sai khác, mỗi con
sẽ lôi kéo, tùy theo chỗ tìm
món ăn và giới loại sai biệt
của mình. Con rắn lôi kéo,
nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào gò
mối". Con cá sấu lôi kéo,
nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào
trong nước". Con chim lôi
kéo nghĩ rằng: "Ta sẽ bay
lên trời". Con chó lôi kéo,
nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào
làng". Con giả can lôi kéo
nghĩ rằng: "Ta sẽ đi đến
nghĩa địa". Con khỉ lôi kéo,
nghĩ rằng: "Ta sẽ đi vào
rừng". Này các Tỷ-kheo, khi
nào sáu con sinh vật ấy trở
thành mệt mỏi, chúng sẽ đứng
gần bên, ngồi gần bên, nằm
gần bên cái cột ấy hay cái
trụ ấy. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo
thân niệm được tu tập, được
làm sung mãn, con mắt không
lôi kéo vị ấy theo các sắc
khả ái, đối với các sắc
không khả ái, không ghét
bỏ... lưỡi không lôi kéo vị
ấy theo các vị khả ái, đối
với vị không khả ái, không
có ghét bỏ... ý không lôi
kéo vị ấy theo các pháp khả
ái, đối với pháp không khả
ái, không có ghét bỏ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
hộ trì.
8) Cái cột hay cái trụ vững
chắc, này các Tỷ-kheo, là
đồng nghĩa với thân niệm. Do
vậy, này các Tỷ-kheo, hãy
học tập như sau: "Chúng ta
sẽ tu tập thân niệm, làm cho
sung mãn, làm cho như thành
cỗ xe, làm cho như thành cơ
sở, an trú, tích tập, khéo
nỗ lực". Như vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông cần phải
học tập. -ooOoo- |