|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 05 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH
VĂN
248. “seyyathāpi,
bhikkhave, yavakalāpī
cātumahāpathe nikkhittā
assa. atha cha purisā
āgaccheyyuṃ byābhaṅgihatthā.
te yavakalāpiṃ chahi
byābhaṅgīhi haneyyuṃ. evañhi
sā, bhikkhave, yavakalāpī
suhatā assa chahi
byābhaṅgīhi haññamānā. atha
sattamo puriso āgaccheyya
byābhaṅgihattho. so taṃ
yavakalāpiṃ sattamāya
byābhaṅgiyā haneyya. evañhi
sā bhikkhave, yavakalāpī
suhatatarā assa, sattamāya
byābhaṅgiyā haññamānā.
evameva kho, bhikkhave,
assutavā puthujjano
cakkhusmiṃ haññati
manāpāmanāpehi rūpehi ... pe
... jivhāya haññati
manāpāmanāpehi rasehi ... pe
... manasmiṃ haññati
manāpāmanāpehi dhammehi.
sace so, bhikkhave, assutavā
puthujjano āyatiṃ
punabbhavāya ceteti, evañhi
so, bhikkhave, moghapuriso
suhatataro hoti, seyyathāpi
sā yavakalāpī sattamāya
byābhaṅgiyā haññamānā.
“bhūtapubbaṃ, bhikkhave,
devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho
{samupabbūḷho (sī. pī.)}
ahosi. atha kho, bhikkhave,
vepacitti asurindo asure
āmantesi — ‘sace, mārisā,
devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe
asurā jineyyuṃ devā
parājineyyuṃ, yena naṃ
sakkaṃ devānamindaṃ
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi
bandhitvā mama santike
āneyyātha asurapuran’ti.
sakkopi kho, bhikkhave,
devānamindo deve tāvatiṃse
āmantesi — ‘sace, mārisā,
devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe
devā jineyyuṃ asurā
parājineyyuṃ, yena naṃ
vepacittiṃ asurindaṃ
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi
bandhitvā mama santike
āneyyātha sudhammaṃ
devasabhan’ti. tasmiṃ kho
pana, bhikkhave, saṅgāme
devā jiniṃsu, asurā
parājiniṃsu. atha kho,
bhikkhave, devā tāvatiṃsā
vepacittiṃ asurindaṃ
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi
bandhitvā sakkassa
devānamindassa santike
ānesuṃ sudhammaṃ devasabhaṃ.
tatra sudaṃ, bhikkhave,
vepacitti asurindo
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi
baddho {bandho (sī. syā.
kaṃ. ka.)} hoti. yadā kho,
bhikkhave, vepacittissa
asurindassa evaṃ hoti —
‘dhammikā kho devā,
adhammikā asurā, idheva
dānāhaṃ devapuraṃ
gacchāmī’ti. atha
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi
muttaṃ attānaṃ
samanupassati, dibbehi ca
pañcahi kāmaguṇehi samappito
samaṅgībhūto paricāreti.
yadā ca kho, bhikkhave,
vepacittissa asurindassa
evaṃ hoti — ‘dhammikā kho
asurā, adhammikā devā,
tattheva dānāhaṃ asurapuraṃ
gamissāmī’ti, atha
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi
baddhaṃ attānaṃ
samanupassati. dibbehi ca
pañcahi kāmaguṇehi
parihāyati. evaṃ sukhumaṃ
kho, bhikkhave,
vepacittibandhanaṃ. tato
sukhumataraṃ mārabandhanaṃ.
maññamāno kho, bhikkhave,
baddho mārassa, amaññamāno
mutto pāpimato.
“‘asmī’ti, bhikkhave,
maññitametaṃ,
‘ayamahamasmī’ti
maññitametaṃ, ‘bhavissan’ti
maññitametaṃ, ‘na
bhavissan’ti maññitametaṃ,
‘rūpī bhavissan’ti
maññitametaṃ, ‘arūpī
bhavissan’ti maññitametaṃ,
‘saññī bhavissan’ti
maññitametaṃ, ‘asaññī
bhavissan’ti maññitametaṃ,
‘nevasaññīnāsaññī
bhavissan’ti maññitametaṃ.
maññitaṃ, bhikkhave, rogo,
maññitaṃ gaṇḍo, maññitaṃ
sallaṃ. tasmātiha,
bhikkhave, ‘amaññamānena
{amaññitamānena (pī. ka.)}
cetasā viharissāmā’ti —
evañhi vo, bhikkhave,
sikkhitabbaṃ.
“‘asmī’ti, bhikkhave,
iñjitametaṃ,
‘ayamahamasmī’ti
iñjitametaṃ, ‘bhavissan’ti
iñjitametaṃ, ‘na
bhavissan’ti iñjitametaṃ,
‘rūpī bhavissan’ti
iñjitametaṃ, ‘arūpī
bhavissan’ti iñjitametaṃ,
‘saññī bhavissan’ti
iñjitametaṃ, ‘asaññī
bhavissan’ti iñjitametaṃ,
‘nevasaññīnāsaññī
bhavissan’ti iñjitametaṃ.
iñjitaṃ, bhikkhave, rogo,
iñjitaṃ gaṇḍo, iñjitaṃ
sallaṃ. tasmātiha,
bhikkhave, ‘aniñjamānena
{aniñjiyamānena (syā. kaṃ.
ka.)} cetasā viharissāmā’ti
— evañhi vo, bhikkhave,
sikkhitabbaṃ.
“‘asmī’ti, bhikkhave,
phanditametaṃ,
‘ayamahamasmī’ti
phanditametaṃ, ‘bhavissan’ti
... pe ... ‘na
bhavissan’ti... ‘rūpī
bhavissan’ti... ‘arūpī
bhavissan’ti... ‘saññī
bhavissan’ti... ‘asaññī
bhavissan’ti...
‘nevasaññīnāsaññī
bhavissan’ti phanditametaṃ.
phanditaṃ, bhikkhave, rogo,
phanditaṃ gaṇḍo, phanditaṃ
sallaṃ. tasmātiha,
bhikkhave, ‘aphandamānena
{aphandiyamānena (syā. kaṃ.
ka.)} cetasā viharissāmā’ti
— evañhi vo, bhikkhave,
sikkhitabbaṃ.
“‘asmī’ti, bhikkhave,
papañcitametaṃ,
‘ayamahamasmī’ti
papañcitametaṃ,
‘bhavissan’ti ... pe ... ‘na
bhavissan’ti... ‘rūpī
bhavissan’ti... ‘arūpī
bhavissan’ti... ‘saññī
bhavissan’ti... ‘asaññī
bhavissan’ti...
‘nevasaññīnāsaññī
bhavissan’ti papañcitametaṃ.
papañcitaṃ, bhikkhave, rogo,
papañcitaṃ gaṇḍo, papañcitaṃ
sallaṃ. tasmātiha,
bhikkhave, ‘nippapañcena
cetasā viharissāmā’ti —
evañhi vo, bhikkhave,
sikkhitabbaṃ.
“‘asmī’ti, bhikkhave,
mānagatametaṃ,
‘ayamahamasmī’ti
mānagatametaṃ, ‘bhavissan’ti
mānagatametaṃ, ‘na
bhavissan’ti mānagatametaṃ,
‘rūpī bhavissan’ti
mānagatametaṃ, ‘arūpī
bhavissan’ti mānagatametaṃ,
‘saññī bhavissan’ti
mānagatametaṃ, ‘asaññī
bhavissan’ti mānagatametaṃ,
‘nevasaññīnāsaññī
bhavissan’ti mānagatametaṃ.
mānagataṃ, bhikkhave, rogo,
mānagataṃ gaṇḍo, mānagataṃ
sallaṃ. tasmātiha,
bhikkhave, ‘nihatamānena
cetasā viharissāmā’ti —
evañhi vo, bhikkhave,
sikkhitabban”ti. ekādasamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, ví như có
một bó lúa mạch được đặt
xuống tại ngã tư đường. Rồi
có sáu người cầm gậy đập lúa
đến và đập vào bó lúa ấy
bằng sáu cây gậy. Do đó, bó
lúa mạch ấy bị đập rất kỹ.
Sau đó, một người thứ bảy
đến, cũng cầm một cây gậy
đập lúa, và người này lại
tiếp tục đập vào bó lúa ấy.
Nhờ vậy, bó lúa ấy bị đập kỹ
càng hơn nữa.
Cũng vậy, chư Tỳ khưu, phàm
phu chưa được hướng dẫn bị
đập vào mắt bởi các sắc khả
ái và không khả ái; bị đập
vào tai bởi các tiếng khả ái
và không khả ái; bị đập vào
mũi bởi các mùi khả ái và
không khả ái; bị đập vào
lưỡi bởi các vị khả ái và
không khả ái; bị đập vào
thân bởi các xúc khả ái và
không khả ái; bị đập vào ý
bởi các pháp khả ái và không
khả ái. Nếu phàm phu ấy khởi
tâm ước muốn tái sinh trong
tương lai, thì người si mê
ấy còn bị đập dữ dội hơn nữa
– cũng như bó lúa bị đập bởi
cây gậy thứ bảy vậy.
“Thuở xưa, chư Tỳ khưu, chư
Thiên và A-tu-la dàn trận
chuẩn bị chiến đấu. Khi ấy,
Vepacitti – vua của A-tu-la
– bảo các A-tu-la rằng: ‘Này
các chiến binh, nếu trong
trận chiến này, A-tu-la
thắng và chư Thiên bại, thì
hãy trói Sakka – vua chư
Thiên – bằng bốn chi và cổ,
rồi dẫn đến trước ta tại
thành A-tu-la.’
Về phần Sakka, vua của chư
Thiên, ngài cũng nói với các
chư Thiên ở cõi Tāvatiṁsa:
Trong trận chiến ấy, chư
Thiên đã thắng, và A-tu-la
thất bại. Rồi các chư Thiên
Tāvatiṁsa đã trói Vepacitti
bằng bốn chi và cổ, rồi dẫn
đến hội trường Sudhamma để
trình diện trước Sakka, vua
chư Thiên. Tại đó, Vepacitti
bị trói cả bốn chi và cổ.
Khi trong tâm Vepacitti khởi
lên suy nghĩ: ‘Chư Thiên là
chân chánh, A-tu-la là tà
ác; nay ta đang ở tại thành
của chư Thiên,’thì ngay lúc
ấy ông ta thấy mình được cởi
trói và được hưởng đầy đủ
năm dục lạc thiên giới.
Nhưng khi ông nghĩ ngược
lại: ‘A-tu-la là chân chánh,
chư Thiên là tà ác; giờ ta
sẽ trở về thành A-tu-la,’
thì ngay tức thì ông thấy
mình bị trói lại cả bốn chi
và cổ, và mất hết năm dục
lạc thiên giới.
“Chư Tỳ khưu, xiềng xích của
Vepacitti quả thật vi tế như
vậy; nhưng xiềng xích của Ma
vương
còn vi tế hơn thế
nữa. Khi khởi tâm chấp thủ,
người ấy bị trói bởi Ma
vương; khi không còn chấp
thủ, người ấy được giải
thoát khỏi Ác ma.
“Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là một
hình thức vọng niệm; ‘Ta là
cái này’ là chấp thủ; ‘Ta sẽ
là’, ‘Ta sẽ không là’, ‘Ta
sẽ có sắc thân’, ‘Ta sẽ vô
sắc’, ‘Ta sẽ có cảm giác’,
‘Ta sẽ vô cảm giác’, ‘Ta sẽ
chẳng cảm giác cũng chẳng vô
cảm giác’ – tất cả đều là
các hình thức vọng niệm.
Vọng niệm là bệnh tật, là u
nhọt, là mũi tên độc. Do đó,
chư Tỳ khưu, các Thầy nên tự
rèn luyện như sau: ‘Chúng ta
sẽ sống với tâm không còn
vọng niệm.’
“Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là sự
dao động; ‘Ta là cái này’ là
dao động… cho đến ‘Ta sẽ
chẳng cảm giác cũng chẳng vô
cảm giác’ – đều là các dạng
dao động.
Dao động là bệnh, là ung
nhọt, là mũi tên độc. Vì
vậy, chư Tỳ khưu, các Thầy
nên tự rèn luyện: ‘Chúng ta
sẽ sống với tâm không dao
động.’
“Chư Tỳ khưu, ‘Ta
là’ là sự
loạn
động; ‘Ta là cái này’ là
loạn động… cho đến ‘Ta sẽ
chẳng cảm giác cũng chẳng vô
cảm giác’ – đều là các dạng
loạn động.
Loạn động là bệnh, là u
nhọt, là mũi tên độc.Vì vậy,
chư Tỳ khưu, các Thầy nên tự
rèn luyện: ‘Chúng tôi sẽ
sống với tâm không loạn
động.’
“Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là sự
khuếch tán; ‘Ta là cái này’
là khuếch tán… cho đến ‘Ta
sẽ chẳng cảm giác cũng chẳng
vô cảm giác’ – đều là các
dạng khuếch tán.
Khuếch tán là bệnh, là u
nhọt, là mũi tên độc.Vì vậy,
chư Tỳ khưu, các Thầy nên tự
rèn luyện: ‘Chúng tôi sẽ
sống với tâm không khuếch
tán.’
“Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là tâm
vướng mắc bởi ngã mạn; ‘Ta
là cái này’, ‘Ta sẽ là’… cho
đến ‘Ta sẽ chẳng cảm giác
cũng chẳng vô cảm giác’ –
đều là tâm có ngã mạn chi
phối.
Ngã mạn là bệnh, là u nhọt,
là mũi tên độc. Vì vậy, chư
Tỳ khưu, các Thầy nên tự rèn
luyện: ‘Chúng tôi sẽ sống
với tâm đã đoạn tận ngã
mạn.’. Các Thầy cần phải tu
tập như vậy.
Chú Thích
Sớ giải chú thích thích
Byābhaṅgihatthā là
kājahatthā, Hậu Sớ giải chú
thích là daṇḍahatthā – tức
là “cầm gậy đập lúa”.
Āyatiṃ punabbhavāya ceteti:
Sớ giải chú thích : Như vậy,
chúng sinh — bị phiền não
đập nát hoàn toàn do tham ái
trong sự khao khát tái sinh,
thì sẽ trải nghiệm khổ đau
phát sinh từ sự hiện hữu
(bhava), được gọi là khổ do
gốc hiện hữu
(bhavamūlaka-dukkha).
Về mối tranh chấp giữa chư
thiên và A-tu-la, xem các
bài kinh 11:1–6. Đoạn kinh
tiếp theo tương tự bài 11:4
(Tập I, tr. 221, dòng 3–17).
Sớ giải chú thích
“Vọng niệm đối với các uẩn
là thông qua tham ái, ngã
mạn và tà kiến”.
Sớ giải chú thích Maññita:
“Ta là” (asmi): là ái chấp
(taṇhā)
“Ta là cái này” (ayam aham
asmi): là kiến chấp (diṭṭhi)
“Ta sẽ là”: là thường kiến
(sassatadiṭṭhi)
“Ta sẽ không là”: là
đoạn kiến
(ucchedadiṭṭhi)
Các câu như “ta sẽ có sắc,
vô sắc, có cảm thọ, không
cảm thọ, vừa cảm thọ vừa
không cảm thọ” là biến thể
của
thường kiến
Lưu ý: Sự kết nối giữa "Ta
là" (asmi) và tham ái ở đây
là hiếm thấy, vì theo truyền
thống, "asmi" thường được
gán cho ngã mạn (māna). Tuy
nhiên, Kinh 22:89 (Tập I,
dòng 130,31) có câu "asmīti
chando" — “ái là ý nghĩ ‘ta
là’”, có thể đây là ý mà Sớ
giải muốn nói.
“Ta là cái này” là hình thái
căn bản của thân kiến
(sakkāya-diṭṭhi) — trong đó
một người xác lập bản ngã
bằng cách đồng hóa một trong
năm uẩn là tự ngã.
Chín hình thức chấp thủ này
được nêu ở Kinh 22:47 và
cũng có trong MN I
246,11–17.
Ba thuật ngữ trong ba đoạn
tiếp theo là:
iñjita: dao động
phandita: loạn động
papañcita: khuếch tán (Hoà
thượng Thích Minh Châu dịch
là “hý luận”)
thường được chú giải
là: pamādakara-dhamma –
“những pháp gây ra sự lan
mang, suy diễn quá độ”
Mānagata: là sự ngã mạn
(māna)
Trong đoạn này: “Ta
là” là biểu hiện của ngã mạn
đi kèm với tham ái“Ta là cái
này” là do tà kiến
Mặc dù ngã mạn và tà kiến
không khởi cùng một sát-na
tâm (theo Vi diệu pháp –
Abhidhamma), nhưng
đoạn này được hiểu là
tà kiến khởi lên trên nền
tảng của ngã chấp.
Sớ Giải
248. ekādasame yavakalāpīti
lāyitvā ṭhapitayavapuñjo.
byābhaṅgihatthāti
kājahatthā. chahi
byābhaṅgīhi haneyyunti chahi
puthulakājadaṇḍakehi
potheyyuṃ. sattamoti tesu
chasu janesu yave pothetvā
pasibbake pūretvā ādāya
gatesu añño sattamo
āgaccheyya. suhatatarā
assāti yaṃ tattha avasiṭṭhaṃ
atthi bhusapalāpamattampi,
tassa gahaṇatthaṃ
suṭṭhutaraṃ hatā.
evameva khoti ettha
catumahāpatho viya cha
āyatanāni daṭṭhabbāni,
catumahāpathe
nikkhittayavakalāpī viya
satto, cha byābhaṅgiyo viya
iṭṭhāniṭṭhamajjhattavasena
aṭṭhārasa ārammaṇāni,
sattamā byābhaṅgī viya
bhavapatthanā kilesā. yathā
catumahāpathe ṭhapitā
yavakalāpī chahi byābhaṅgīhi
haññati, evamime sattā
aṭṭhārasahi
ārammaṇadaṇḍakehi chasu
āyatanesu haññanti. yathā
sattamena suhatatarā honti,
evaṃ sattā
bhavapatthanakilesehi
suhatatarā honti
bhavemūlakaṃ dukkhaṃ
anubhavamānā.
idāni nesaṃ taṃ
bhavapatthanakilesaṃ
dassetuṃ bhūtapubbaṃ,
bhikkhavetiādimāha. tatrāti
sudhammāyaṃ bhummaṃ,
sudhammāya devasabhāya
dvāreti attho. dhammikā kho
devāti dhammikā ete devā
nāma, yehi mādisaṃ
asurādhipatiṃ gahetvā mayhaṃ
bhedanamattampi na katanti
sandhāya vadati. adhammikā
devāti adhammikā ete devā
nāma, ye mādisaṃ
asurādhipatiṃ
navagūthasūkaraṃ viya
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi
bandhitvā nisīdāpenti. evaṃ
sukhumaṃ kho, bhikkhave,
vepacittibandhananti taṃ
kira padumanāḷasuttaṃ viya
makkaṭajālasuttaṃ viya ca
sukhumaṃ hoti, chettuṃ pana
neva vāsiyā na pharasunā
sakkā. yasmā pana citteneva
bajjhati, cittena muccati,
tasmā “vepacittibandhanan”ti
vuttaṃ.
tato sukhumataraṃ
mārabandhananti
kilesabandhanaṃ panesaṃ
tatopi sukhumataraṃ, neva
cakkhussa āpāthaṃ gacchati,
na iriyāpathaṃ nivāreti.
tena hi baddhā sattā
pathavitalepi ākāsepi
yojanasatampi
yojanasahassampi gacchantipi
āgacchantipi. chijjamānaṃ
panetaṃ ñāṇeneva chijjati,
na aññenāti “ñāṇamokkhaṃ
bandhanan”tipi vuccati.
taṇhādiṭṭhimānānaṃ vasena
khandhe maññanto. baddho
mārassāti mārabandhanena
baddho. karaṇatthe vā etaṃ
sāmivacanaṃ, kilesamārena
baddhoti attho. mutto
pāpimatoti mārassa
bandhanena mutto.
karaṇattheyeva vā idaṃ
sāmivacanaṃ, pāpimatā
kilesabandhanena muttoti
attho.
asmīti padena taṇhāmaññitaṃ
vuttaṃ. ayamahasmīti
diṭṭhimaññitaṃ. bhavissanti
sassatavasena
diṭṭhimaññitameva. na
bhavissanti ucchedavasena.
rūpītiādīni sassatasseva
pabhedadīpanāni. tasmāti
yasmā maññitaṃ ābādhaṃ
antodosanikantanavasena rogo
ceva gaṇḍo ca sallañca,
tasmā. iñjitantiādīni yasmā
imehi kilesehi sattā iñjanti
ceva phandanti ca papañcitā
ca honti pamattākārapattā,
tasmā tesaṃ
ākāradassanatthaṃ vuttāni.
mānagatavāre pana mānassa
gataṃ mānagataṃ,
mānapavattīti attho.
mānoyeva mānagataṃ
gūthagataṃ muttagataṃ viya.
tattha asmīti idaṃ taṇhāya
sampayuttamānavasena vuttaṃ.
ayamahamasmīti diṭṭhivasena.
nanu ca diṭṭhisampayutto
nāma māno natthīti? āma
natthi, mānassa pana
appahīnattā diṭṭhi nāma
hoti. mānamūlakaṃ diṭṭhiṃ
sandhāyetaṃ vuttaṃ. sesaṃ
sabbattha uttānamevāti.
248. Bó Lúa Mạch – Giải
thích từ bản Sớ giải
(Aṭṭhakathā)
"Yavakalāpī"
nghĩa là một bó lúa mạch đã
được tuốt và đặt sang một
bên.
"Sattamo"
(người thứ bảy) là sau khi
sáu người trước đã đập bó
lúa và mang phần thóc đã
tuốt đi, thì một người thứ
bảy đến.
Giải thích ví dụ:
Cũng vậy, ở đây:
Giống như bó lúa bị sáu
người đập, chúng sinh bị
"đánh" bởi 18 đối tượng ở
sáu căn. Và cũng như bó lúa
bị đập thêm bởi người thứ
bảy để lấy sạch cả trấu,
chúng sinh còn bị "đập nặng
hơn" bởi tham ái đối với tái
sinh, khiến họ trải nghiệm
khổ đau bắt nguồn từ sự hiện
hữu (bhava).
Chuyện Vepacitti – Trói buộc
bằng tâm:
Sau đó, để giải thích về các
lậu hoặc của khuynh hướng
tái sinh, Đức Phật kể câu
chuyện:
Nếu lúc đó Vepacitti nghĩ:
‘Chư Thiên là chân chánh,
A-tu-la là tà ác,’
Nhưng nếu ông nghĩ ngược
lại: ‘A-tu-la là chân chánh,
chư Thiên là tà ác,’ khiến
ông thấy mình bị trói và mất
hết các dục lạc.
Sự trói buộc ấy là bằng tâm,
vi tế như sợi tơ sen hay
lưới khỉ, không dao kéo nào
cắt được – chỉ có trí tuệ
(ñāṇa) mới giải thoát được.
Trói buộc vi tế hơn nữa là
của Ma vương:
Tuy vậy, sự trói buộc của Ma
vương (Māra) còn vi tế hơn
cả dây trói của Vepacitti:
Các hình thức trói buộc bởi
tâm:
“Ta là” (asmīti) là sự chấp
thủ bởi ái (taṇhā)
Tất cả đều là bệnh, ung
nhọt, mũi tên độc, là nguyên
nhân của luân hồi và khổ
đau.
Các hình thức chấp thủ như
“Ta là...”, “Ta sẽ là...”
không chỉ là tà kiến mà còn
là biểu hiện của:
Do đó, chư Tỳ khưu được
khuyên nên sống với tâm:
207. XI. Bó Lúa (S.iv,201)
1-2) ...
3) -- Ví như, này các
Tỷ-kheo, một bó lúa quăng
tại ngã tư đường, rồi sáu
người đến, tay cầm cái đập
và họ đập bó lúa ấy với sáu
cái đập (vyàkggì)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó
lúa ấy được khéo đập với sáu
cái đập ấy. Rồi một người
thứ bảy đến, tay cầm cái
đập, và người ấy đập bó lúa
ấy với cái đập thứ bảy. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa
ấy lại càng được khéo đập
với cái đập thứ bảy.
4) Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
bị đập trong con mắt bởi
những sắc khả ái và không
khả ái... bị đập trong lưỡi
bởi những vị khả ái và không
khả ái... bị đập trong ý bởi
những pháp khả ái và không
khả ái. Này các Tỷ-kheo, nếu
kẻ vô văn phàm phu ấy lại
nghĩ đến tái sanh trong
tương lai, như vậy, này các
Tỷ-kheo, kẻ ngu si ấy lại
càng bị khéo đập hơn nữa. Ví
như, này các Tỷ-kheo, bó lúa
ấy lại được đập với cái đập
thứ bảy nữa.
5) Này các Tỷ-kheo, thuở
xưa, cuộc chiến xảy ra giữa
chư Thiên và các A-tu-la rất
là khốc liệt.
Này các Tỷ-kheo, Vepacitti,
vua A-tu-la gọi các A-tu-la:
"Này Thân hữu, trong cuộc
chiến đang khởi lên giữa chư
Thiên và loài A-tu-la rất là
khốc liệt, nếu các A-tu-la
thắng và chư Thiên bại, hãy
trói Thiên chủ Sakka hai
tay, hai chân và thứ năm là
cổ, và dắt vua ấy đến trước
mặt ta, trong thành của các
A-tu-la". Còn Thiên chủ
Sakka gọi chư Thiên ở cõi
trời Ba mươi ba: "Này Thân
hữu, trong trận chiến giữa
chư Thiên và các loài
A-tu-la, trận chiến rất là
khốc liệt, nếu chư Thiên
thắng và các loài A-tu-la
bại, hãy trói vua A-tu-la
Vepacitti, hai tay, hai chân
và thứ năm là cổ, và dắt vua
ấy đến trước mặt ta, trong
giảng đường Sudhamma (Thiện
Pháp)".
6) Nhưng trận chiến ấy, chư
Thiên thắng và các loài
A-tu-la bại. Rồi, này các
Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi
trời Ba mươi ba trói vua
A-tu-la Vepacitti, trói hai
tay, hai chân và thứ năm là
cổ, rồi dẫn đến trước mặt
Thiên chủ Sakka trong giảng
đường Sudhamma.
7) Tại đây, này các Tỷ-kheo,
vua A-tu-la Vepacitti bị
trói hai tay, hai chân và
thứ năm là cổ. Này các
Tỷ-kheo, khi ấy vua A-tu-la
Vepacitti suy nghĩ như sau:
"Chư Thiên theo Chánh pháp,
còn A-tu-la theo phi pháp.
Nay ta đi đến thành của chư
Thiên", thời khi ấy vua
A-tu-la tự thấy mình được
cởi trói hai chân, hai tay
và thứ năm là cổ, và được
hưởng thọ, được thưởng thức
đầy đủ năm dục công đức cõi
trời. Và này các Tỷ-kheo,
khi vua A-tu-la suy nghĩ như
sau: "Các A-tu-la theo Chánh
pháp, chư Thiên theo phi
pháp. Ở đây, ta sẽ đi đến
thành của các A-tu-la", thời
khi ấy vua A-tu-la tự thấy
mình bị trói hai tay, hai
chân và thứ năm là cổ, và bị
tước bỏ năm dục công đức cõi
trời.
8) Như vậy, này các Tỷ-kheo,
thật tế nhị là sự trói buộc
của Vepacitti, và còn tế nhị
hơn là sự trói buộc của
Màra. Ai có tư tưởng
(Mannamàna), người ấy bị
Màra trói buộc. Ai không có
tư tưởng, người ấy được giải
thoát khỏi Ác ma. "Tôi là",
này các Tỷ-kheo, là một tư
tưởng. "Cái này là tôi", này
các Tỷ-kheo, là một tư
tưởng. "Tôi sẽ là", này các
Tỷ-kheo, là một tư tưởng.
"Tôi sẽ không là", là một tư
tưởng. "Tôi sẽ có sắc", là
một tư tưởng. "Tôi sẽ không
có sắc", là một tư tưởng.
"Tôi sẽ có tưởng", là một tư
tưởng. "Tôi sẽ không có
tưởng", là một tư tưởng.
"Tôi sẽ không có tưởng và
không không có tưởng", là
một tư tưởng. Có tư tưởng,
này các Tỷ-kheo, là tham. Có
tư tưởng là mụt nhọt. Có tư
tưởng là mũi tên. Do vậy,
này các Tỷ-kheo, các Ông cần
phải học tập: "Tôi sẽ sống
với tâm không có tư tưởng".
9) Như vậy, này các Tỷ-kheo,
các Ông cần phải hiểu: "Tôi
là", này các Tỷ-kheo, là một
động chuyển (injitam). "Cái
này là tôi", là một động
chuyển. "Tôi sẽ là", là một
động chuyển. "Tôi sẽ không
là", là một động chuyển.
"Tôi sẽ có sắc", là một động
chuyển. "Tôi sẽ có tưởng",
là một động chuyển. "Tôi sẽ
không có tưởng", là một động
chuyển. "Tôi sẽ không có
tưởng và không không có
tưởng", là một động chuyển.
Ðộng chuyển, này các
Tỷ-kheo, là tham. Ðộng
chuyển là mụt nhọt. Ðộng
chuyển là mũi tên. Do vậy,
này các Tỷ-kheo, các Ông cần
phải học tập: "Tôi sẽ sống
với tâm không có động
chuyển".
10) Như vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông cần phải
hiểu: "Tôi là", này các
Tỷ-kheo, là một chấn động
(phanditam). "Cái này là
tôi", là một chấn động. "Tôi
sẽ là", là một chấn động.
"Tôi sẽ không là", là một
chấn động. "Tôi sẽ có sắc",
là một chấn động. "Tôi sẽ
không có sắc", là một chấn
động. "Tôi sẽ có tưởng", là
một chấn động. "Tôi sẽ không
có tưởng", là một chấn động.
"Tôi sẽ không có tưởng và
không không có tưởng", là
một chấn động. Chấn động,
này các Tỷ-kheo, là tham.
Chấn động là mụt nhọt. Chấn
động là mũi tên. Do vậy, này
các Tỷ-kheo, các Ông cần
phải học tập: "Tôi sẽ sống
với tâm không chấn động".
11) Như vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông cần phải
hiểu: "Tôi là", này các
Tỷ-kheo, là một hý luận
(papancitam). "Cái này là
tôi", là một hý luận. "Tôi
sẽ là", là một hý luận. "Tôi
sẽ không là", là một hý
luận. "Tôi sẽ có sắc", là
một hý luận. "Tôi sẽ không
có sắc", là một hý luận.
"Tôi sẽ có tưởng", là một hý
luận. "Tôi sẽ không có
tưởng", là một hý luận. "Tôi
sẽ không có tưởng và không
không có tưởng", là một hý
luận. Hý luận, này các
Tỷ-kheo, là tham. Hý luận là
mụt nhọt. Hý luận là mũi
tên. Do vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông cần phải
học tập: "Tôi sẽ sống với
tâm không có hý luận".
12) Như vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông cần phải
hiểu: "Tôi là", này các
Tỷ-kheo, là một ngã mạn.
"Cái này là tôi", là một ngã
mạn. "Tôi sẽ là", là một ngã
mạn. "Tôi sẽ không là", là
một ngã mạn. "Tôi sẽ có
sắc", là một ngã mạn. "Tôi
sẽ không có sắc", là một ngã
mạn. "Tôi sẽ có tưởng", là
một ngã mạn. "Tôi sẽ không
có tưởng", là một ngã mạn.
"Tôi sẽ không có tưởng và
không không có tưởng", là
một ngã mạn. Ngã mạn, này
các Tỷ-kheo, là tham. Ngã
mạn là mụt nhọt. Ngã mạn là
mũi tên. Do vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông cần phải
học tập: "Tôi sẽ sống với
tâm trừ bỏ ngã mạn". Như
vậy, này các Tỷ-kheo, các
Ông cần phải học tập. -ooOoo- |