BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 05 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Rắn Độc- SN 35.248. Bài 450. VỌNG NIỆM VÀ TẠP NIỆM - Kinh Bó Lúa Mạch (Yavakalāpisuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-450.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Xáo trộn tâm lý thường tạo nên bởi cái nhìn sai lầm. Cái nhìn đó liên quan tới ái chấp, mạn chấp, kiến chấp. Là phàm nhân không ai không có chấp sai do ngã tính. Phải thấy được những hệ luỵ của ngã chấp mới thật sự đi vào cảnh giới của giác ngộ giải thoát thật sự. Ngã chấp không phải chỉ là một thứ bản năn khó thay đổi mà còn là ung nhọt tạo ra bao nhiêu nhức nhối giữa cuộc phù sinh.

 KINH VĂN

 248. “seyyathāpi, bhikkhave, yavakalāpī cātumahāpathe nikkhittā assa. atha cha purisā āgaccheyyuṃ byābhaṅgihatthā. te yavakalāpiṃ chahi byābhaṅgīhi haneyyuṃ. evañhi sā, bhikkhave, yavakalāpī suhatā assa chahi byābhaṅgīhi haññamānā. atha sattamo puriso āgaccheyya byābhaṅgihattho. so taṃ yavakalāpiṃ sattamāya byābhaṅgiyā haneyya. evañhi sā bhikkhave, yavakalāpī suhatatarā assa, sattamāya byābhaṅgiyā haññamānā. evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano cakkhusmiṃ haññati manāpāmanāpehi rūpehi ... pe ... jivhāya haññati manāpāmanāpehi rasehi ... pe ... manasmiṃ haññati manāpāmanāpehi dhammehi. sace so, bhikkhave, assutavā puthujjano āyatiṃ punabbhavāya ceteti, evañhi so, bhikkhave, moghapuriso suhatataro hoti, seyyathāpi sā yavakalāpī sattamāya byābhaṅgiyā haññamānā.

“bhūtapubbaṃ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho {samupabbūḷho (sī. pī.)} ahosi. atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo asure āmantesi — ‘sace, mārisā, devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe asurā jineyyuṃ devā parājineyyuṃ, yena naṃ sakkaṃ devānamindaṃ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha asurapuran’ti. sakkopi kho, bhikkhave, devānamindo deve tāvatiṃse āmantesi — ‘sace, mārisā, devāsurasaṅgāme samupabyūḷhe devā jineyyuṃ asurā parājineyyuṃ, yena naṃ vepacittiṃ asurindaṃ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha sudhammaṃ devasabhan’ti. tasmiṃ kho pana, bhikkhave, saṅgāme devā jiniṃsu, asurā parājiniṃsu. atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṃsā vepacittiṃ asurindaṃ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā sakkassa devānamindassa santike ānesuṃ sudhammaṃ devasabhaṃ. tatra sudaṃ, bhikkhave, vepacitti asurindo kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho {bandho (sī. syā. kaṃ. ka.)} hoti. yadā kho, bhikkhave, vepacittissa asurindassa evaṃ hoti — ‘dhammikā kho devā, adhammikā asurā, idheva dānāhaṃ devapuraṃ gacchāmī’ti. atha kaṇṭhapañcamehi bandhanehi muttaṃ attānaṃ samanupassati, dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti. yadā ca kho, bhikkhave, vepacittissa asurindassa evaṃ hoti — ‘dhammikā kho asurā, adhammikā devā, tattheva dānāhaṃ asurapuraṃ gamissāmī’ti, atha kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddhaṃ attānaṃ samanupassati. dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi parihāyati. evaṃ sukhumaṃ kho, bhikkhave, vepacittibandhanaṃ. tato sukhumataraṃ mārabandhanaṃ. maññamāno kho, bhikkhave, baddho mārassa, amaññamāno mutto pāpimato.

“‘asmī’ti, bhikkhave, maññitametaṃ, ‘ayamahamasmī’ti maññitametaṃ, ‘bhavissan’ti maññitametaṃ, ‘na bhavissan’ti maññitametaṃ, ‘rūpī bhavissan’ti maññitametaṃ, ‘arūpī bhavissan’ti maññitametaṃ, ‘saññī bhavissan’ti maññitametaṃ, ‘asaññī bhavissan’ti maññitametaṃ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti maññitametaṃ. maññitaṃ, bhikkhave, rogo, maññitaṃ gaṇḍo, maññitaṃ sallaṃ. tasmātiha, bhikkhave, ‘amaññamānena {amaññitamānena (pī. ka.)} cetasā viharissāmā’ti — evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṃ.

“‘asmī’ti, bhikkhave, iñjitametaṃ, ‘ayamahamasmī’ti iñjitametaṃ, ‘bhavissan’ti iñjitametaṃ, ‘na bhavissan’ti iñjitametaṃ, ‘rūpī bhavissan’ti iñjitametaṃ, ‘arūpī bhavissan’ti iñjitametaṃ, ‘saññī bhavissan’ti iñjitametaṃ, ‘asaññī bhavissan’ti iñjitametaṃ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti iñjitametaṃ. iñjitaṃ, bhikkhave, rogo, iñjitaṃ gaṇḍo, iñjitaṃ sallaṃ. tasmātiha, bhikkhave, ‘aniñjamānena {aniñjiyamānena (syā. kaṃ. ka.)} cetasā viharissāmā’ti — evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṃ.

“‘asmī’ti, bhikkhave, phanditametaṃ, ‘ayamahamasmī’ti phanditametaṃ, ‘bhavissan’ti ... pe ... ‘na bhavissan’ti... ‘rūpī bhavissan’ti... ‘arūpī bhavissan’ti... ‘saññī bhavissan’ti... ‘asaññī bhavissan’ti... ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti phanditametaṃ. phanditaṃ, bhikkhave, rogo, phanditaṃ gaṇḍo, phanditaṃ sallaṃ. tasmātiha, bhikkhave, ‘aphandamānena {aphandiyamānena (syā. kaṃ. ka.)} cetasā viharissāmā’ti — evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṃ.

“‘asmī’ti, bhikkhave, papañcitametaṃ, ‘ayamahamasmī’ti papañcitametaṃ, ‘bhavissan’ti ... pe ... ‘na bhavissan’ti... ‘rūpī bhavissan’ti... ‘arūpī bhavissan’ti... ‘saññī bhavissan’ti... ‘asaññī bhavissan’ti... ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti papañcitametaṃ. papañcitaṃ, bhikkhave, rogo, papañcitaṃ gaṇḍo, papañcitaṃ sallaṃ. tasmātiha, bhikkhave, ‘nippapañcena cetasā viharissāmā’ti — evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṃ.

“‘asmī’ti, bhikkhave, mānagatametaṃ, ‘ayamahamasmī’ti mānagatametaṃ, ‘bhavissan’ti mānagatametaṃ, ‘na bhavissan’ti mānagatametaṃ, ‘rūpī bhavissan’ti mānagatametaṃ, ‘arūpī bhavissan’ti mānagatametaṃ, ‘saññī bhavissan’ti mānagatametaṃ, ‘asaññī bhavissan’ti mānagatametaṃ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti mānagatametaṃ. mānagataṃ, bhikkhave, rogo, mānagataṃ gaṇḍo, mānagataṃ sallaṃ. tasmātiha, bhikkhave, ‘nihatamānena cetasā viharissāmā’ti — evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti. ekādasamaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, ví như có một bó lúa mạch được đặt xuống tại ngã tư đường. Rồi có sáu người cầm gậy đập lúa đến và đập vào bó lúa ấy bằng sáu cây gậy. Do đó, bó lúa mạch ấy bị đập rất kỹ. Sau đó, một người thứ bảy đến, cũng cầm một cây gậy đập lúa, và người này lại tiếp tục đập vào bó lúa ấy. Nhờ vậy, bó lúa ấy bị đập kỹ càng hơn nữa.

Cũng vậy, chư Tỳ khưu, phàm phu chưa được hướng dẫn bị đập vào mắt bởi các sắc khả ái và không khả ái; bị đập vào tai bởi các tiếng khả ái và không khả ái; bị đập vào mũi bởi các mùi khả ái và không khả ái; bị đập vào lưỡi bởi các vị khả ái và không khả ái; bị đập vào thân bởi các xúc khả ái và không khả ái; bị đập vào ý bởi các pháp khả ái và không khả ái. Nếu phàm phu ấy khởi tâm ước muốn tái sinh trong tương lai, thì người si mê ấy còn bị đập dữ dội hơn nữa – cũng như bó lúa bị đập bởi cây gậy thứ bảy vậy.

“Thuở xưa, chư Tỳ khưu, chư Thiên và A-tu-la dàn trận chuẩn bị chiến đấu. Khi ấy, Vepacitti – vua của A-tu-la – bảo các A-tu-la rằng: ‘Này các chiến binh, nếu trong trận chiến này, A-tu-la thắng và chư Thiên bại, thì hãy trói Sakka – vua chư Thiên – bằng bốn chi và cổ, rồi dẫn đến trước ta tại thành A-tu-la.’

Về phần Sakka, vua của chư Thiên, ngài cũng nói với các chư Thiên ở cõi Tāvatiṁsa:
‘Này chiến hữu, nếu trong trận chiến này, chư Thiên thắng và A-tu-la bại, thì hãy trói Vepacitti – vua A-tu-la – bằng bốn chi và cổ, rồi dẫn đến trước ta tại Sudhamma, hội trường của chư Thiên.’

Trong trận chiến ấy, chư Thiên đã thắng, và A-tu-la thất bại. Rồi các chư Thiên Tāvatiṁsa đã trói Vepacitti bằng bốn chi và cổ, rồi dẫn đến hội trường Sudhamma để trình diện trước Sakka, vua chư Thiên. Tại đó, Vepacitti bị trói cả bốn chi và cổ.

Khi trong tâm Vepacitti khởi lên suy nghĩ: ‘Chư Thiên là chân chánh, A-tu-la là tà ác; nay ta đang ở tại thành của chư Thiên,’thì ngay lúc ấy ông ta thấy mình được cởi trói và được hưởng đầy đủ năm dục lạc thiên giới.

Nhưng khi ông nghĩ ngược lại: ‘A-tu-la là chân chánh, chư Thiên là tà ác; giờ ta sẽ trở về thành A-tu-la,’ thì ngay tức thì ông thấy mình bị trói lại cả bốn chi và cổ, và mất hết năm dục lạc thiên giới.

“Chư Tỳ khưu, xiềng xích của Vepacitti quả thật vi tế như vậy; nhưng xiềng xích của Ma vương  còn vi tế hơn thế nữa. Khi khởi tâm chấp thủ, người ấy bị trói bởi Ma vương; khi không còn chấp thủ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.

“Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là một hình thức vọng niệm; ‘Ta là cái này’ là chấp thủ; ‘Ta sẽ là’, ‘Ta sẽ không là’, ‘Ta sẽ có sắc thân’, ‘Ta sẽ vô sắc’, ‘Ta sẽ có cảm giác’, ‘Ta sẽ vô cảm giác’, ‘Ta sẽ chẳng cảm giác cũng chẳng vô cảm giác’ – tất cả đều là các hình thức vọng niệm.

Vọng niệm là bệnh tật, là u nhọt, là mũi tên độc. Do đó, chư Tỳ khưu, các Thầy nên tự rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ sống với tâm không còn vọng niệm.’

“Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là sự dao động; ‘Ta là cái này’ là dao động… cho đến ‘Ta sẽ chẳng cảm giác cũng chẳng vô cảm giác’ – đều là các dạng dao động.

Dao động là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên độc. Vì vậy, chư Tỳ khưu, các Thầy nên tự rèn luyện: ‘Chúng ta sẽ sống với tâm không dao động.’

 “Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là sự loạn động; ‘Ta là cái này’ là loạn động… cho đến ‘Ta sẽ chẳng cảm giác cũng chẳng vô cảm giác’ – đều là các dạng loạn động.

Loạn động là bệnh, là u nhọt, là mũi tên độc.Vì vậy, chư Tỳ khưu, các Thầy nên tự rèn luyện: ‘Chúng tôi sẽ sống với tâm không loạn động.’

“Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là sự khuếch tán; ‘Ta là cái này’ là khuếch tán… cho đến ‘Ta sẽ chẳng cảm giác cũng chẳng vô cảm giác’ – đều là các dạng khuếch tán.

Khuếch tán là bệnh, là u nhọt, là mũi tên độc.Vì vậy, chư Tỳ khưu, các Thầy nên tự rèn luyện: ‘Chúng tôi sẽ sống với tâm không khuếch tán.’

“Chư Tỳ khưu, ‘Ta là’ là tâm vướng mắc bởi ngã mạn; ‘Ta là cái này’, ‘Ta sẽ là’… cho đến ‘Ta sẽ chẳng cảm giác cũng chẳng vô cảm giác’ – đều là tâm có ngã mạn chi phối.

Ngã mạn là bệnh, là u nhọt, là mũi tên độc. Vì vậy, chư Tỳ khưu, các Thầy nên tự rèn luyện: ‘Chúng tôi sẽ sống với tâm đã đoạn tận ngã mạn.’. Các Thầy cần phải tu tập như vậy.

Chú Thích

Sớ giải chú thích thích Byābhaṅgihatthā là kājahatthā, Hậu Sớ giải chú thích là daṇḍahatthā – tức là “cầm gậy đập lúa”.

Āyatiṃ punabbhavāya ceteti: Sớ giải chú thích : Như vậy, chúng sinh — bị phiền não đập nát hoàn toàn do tham ái trong sự khao khát tái sinh, thì sẽ trải nghiệm khổ đau phát sinh từ sự hiện hữu (bhava), được gọi là khổ do gốc hiện hữu (bhavamūlaka-dukkha).

Về mối tranh chấp giữa chư thiên và A-tu-la, xem các bài kinh 11:1–6. Đoạn kinh tiếp theo tương tự bài 11:4 (Tập I, tr. 221, dòng 3–17).

Sớ giải chú thích “Vọng niệm đối với các uẩn là thông qua tham ái, ngã mạn và tà kiến”.

Sớ giải chú thích Maññita:

“Ta là” (asmi): là ái chấp (taṇhā)

“Ta là cái này” (ayam aham asmi): là kiến chấp (diṭṭhi)

“Ta sẽ là”: là thường kiến (sassatadiṭṭhi)

“Ta sẽ không là”: là  đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi)

Các câu như “ta sẽ có sắc, vô sắc, có cảm thọ, không cảm thọ, vừa cảm thọ vừa không cảm thọ” là biến thể của  thường kiến

Lưu ý: Sự kết nối giữa "Ta là" (asmi) và tham ái ở đây là hiếm thấy, vì theo truyền thống, "asmi" thường được gán cho ngã mạn (māna). Tuy nhiên, Kinh 22:89 (Tập I, dòng 130,31) có câu "asmīti chando" — “ái là ý nghĩ ‘ta là’”, có thể đây là ý mà Sớ giải muốn nói.

“Ta là cái này” là hình thái căn bản của thân kiến (sakkāya-diṭṭhi) — trong đó một người xác lập bản ngã bằng cách đồng hóa một trong năm uẩn là tự ngã.

Chín hình thức chấp thủ này được nêu ở Kinh 22:47 và cũng có trong MN I 246,11–17.

Ba thuật ngữ trong ba đoạn tiếp theo là:

iñjita: dao động

phandita: loạn động

papañcita: khuếch tán (Hoà thượng Thích Minh Châu dịch là “hý luận”)  thường được chú giải là: pamādakara-dhamma – “những pháp gây ra sự lan mang, suy diễn quá độ”

Mānagata: là sự ngã mạn (māna)  Trong đoạn này: “Ta là” là biểu hiện của ngã mạn đi kèm với tham ái“Ta là cái này” là do tà kiến

 

Mặc dù ngã mạn và tà kiến không khởi cùng một sát-na tâm (theo Vi diệu pháp – Abhidhamma), nhưng  đoạn này được hiểu là tà kiến khởi lên trên nền tảng của ngã chấp.

Sớ Giải

248. ekādasame yavakalāpīti lāyitvā ṭhapitayavapuñjo. byābhaṅgihatthāti kājahatthā. chahi byābhaṅgīhi haneyyunti chahi puthulakājadaṇḍakehi potheyyuṃ. sattamoti tesu chasu janesu yave pothetvā pasibbake pūretvā ādāya gatesu añño sattamo āgaccheyya. suhatatarā assāti yaṃ tattha avasiṭṭhaṃ atthi bhusapalāpamattampi, tassa gahaṇatthaṃ suṭṭhutaraṃ hatā.

evameva khoti ettha catumahāpatho viya cha āyatanāni daṭṭhabbāni, catumahāpathe nikkhittayavakalāpī viya satto, cha byābhaṅgiyo viya iṭṭhāniṭṭhamajjhattavasena aṭṭhārasa ārammaṇāni, sattamā byābhaṅgī viya bhavapatthanā kilesā. yathā catumahāpathe ṭhapitā yavakalāpī chahi byābhaṅgīhi haññati, evamime sattā aṭṭhārasahi ārammaṇadaṇḍakehi chasu āyatanesu haññanti. yathā sattamena suhatatarā honti, evaṃ sattā bhavapatthanakilesehi suhatatarā honti bhavemūlakaṃ dukkhaṃ anubhavamānā.

idāni nesaṃ taṃ bhavapatthanakilesaṃ dassetuṃ bhūtapubbaṃ, bhikkhavetiādimāha. tatrāti sudhammāyaṃ bhummaṃ, sudhammāya devasabhāya dvāreti attho. dhammikā kho devāti dhammikā ete devā nāma, yehi mādisaṃ asurādhipatiṃ gahetvā mayhaṃ bhedanamattampi na katanti sandhāya vadati. adhammikā devāti adhammikā ete devā nāma, ye mādisaṃ asurādhipatiṃ navagūthasūkaraṃ viya kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā nisīdāpenti. evaṃ sukhumaṃ kho, bhikkhave, vepacittibandhananti taṃ kira padumanāḷasuttaṃ viya makkaṭajālasuttaṃ viya ca sukhumaṃ hoti, chettuṃ pana neva vāsiyā na pharasunā sakkā. yasmā pana citteneva bajjhati, cittena muccati, tasmā “vepacittibandhanan”ti vuttaṃ.

tato sukhumataraṃ mārabandhananti kilesabandhanaṃ panesaṃ tatopi sukhumataraṃ, neva cakkhussa āpāthaṃ gacchati, na iriyāpathaṃ nivāreti. tena hi baddhā sattā pathavitalepi ākāsepi yojanasatampi yojanasahassampi gacchantipi āgacchantipi. chijjamānaṃ panetaṃ ñāṇeneva chijjati, na aññenāti “ñāṇamokkhaṃ bandhanan”tipi vuccati.

taṇhādiṭṭhimānānaṃ vasena khandhe maññanto. baddho mārassāti mārabandhanena baddho. karaṇatthe vā etaṃ sāmivacanaṃ, kilesamārena baddhoti attho. mutto pāpimatoti mārassa bandhanena mutto. karaṇattheyeva vā idaṃ sāmivacanaṃ, pāpimatā kilesabandhanena muttoti attho.

asmīti padena taṇhāmaññitaṃ vuttaṃ. ayamahasmīti diṭṭhimaññitaṃ. bhavissanti sassatavasena diṭṭhimaññitameva. na bhavissanti ucchedavasena. rūpītiādīni sassatasseva pabhedadīpanāni. tasmāti yasmā maññitaṃ ābādhaṃ antodosanikantanavasena rogo ceva gaṇḍo ca sallañca, tasmā. iñjitantiādīni yasmā imehi kilesehi sattā iñjanti ceva phandanti ca papañcitā ca honti pamattākārapattā, tasmā tesaṃ ākāradassanatthaṃ vuttāni.

mānagatavāre pana mānassa gataṃ mānagataṃ, mānapavattīti attho. mānoyeva mānagataṃ gūthagataṃ muttagataṃ viya. tattha asmīti idaṃ taṇhāya sampayuttamānavasena vuttaṃ. ayamahamasmīti diṭṭhivasena. nanu ca diṭṭhisampayutto nāma māno natthīti? āma natthi, mānassa pana appahīnattā diṭṭhi nāma hoti. mānamūlakaṃ diṭṭhiṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

248. Bó Lúa Mạch – Giải thích từ bản Sớ giải (Aṭṭhakathā)

"Yavakalāpī" nghĩa là một bó lúa mạch đã được tuốt và đặt sang một bên.
"Byābhaṅgihatthā" có nghĩa là “cầm gậy đập lúa trong tay.”
"Chahi byābhaṅgīhi haneyyuṃ" nghĩa là “đập bằng sáu cây gậy lớn và dày.”

"Sattamo" (người thứ bảy) là sau khi sáu người trước đã đập bó lúa và mang phần thóc đã tuốt đi, thì một người thứ bảy đến.
"Suhatatarā assa" (bị đập kỹ hơn): để thu lấy cả những gì còn sót lại như vỏ trấu hay mảnh vụn, người này đập kỹ thêm.


Giải thích ví dụ:

Cũng vậy, ở đây:

  • Ngã tư đường tượng trưng cho sáu căn (lục xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)
  • Bó lúa mạch tượng trưng cho chúng sinh
  • Sáu cây gậy đập tượng trưng cho 18 đối tượng nhận thức (cảnh khả ái, bất khả ái, trung tính)
  • Người thứ bảy và gậy thứ bảy tượng trưng cho khuynh hướng tái sinh (bhava-patthanā), tức là các lậu hoặc thúc đẩy luân hồi.

Giống như bó lúa bị sáu người đập, chúng sinh bị "đánh" bởi 18 đối tượng ở sáu căn. Và cũng như bó lúa bị đập thêm bởi người thứ bảy để lấy sạch cả trấu, chúng sinh còn bị "đập nặng hơn" bởi tham ái đối với tái sinh, khiến họ trải nghiệm khổ đau bắt nguồn từ sự hiện hữu (bhava).

Chuyện Vepacitti – Trói buộc bằng tâm:

Sau đó, để giải thích về các lậu hoặc của khuynh hướng tái sinh, Đức Phật kể câu chuyện:

  • “Thuở xưa, vua A-tu-la Vepacitti và vua chư Thiên Sakka chuẩn bị giao chiến.
  • Cả hai bên đều ra lệnh: nếu thắng, hãy trói đối phương bằng bốn chi và cổ và đem về cho mình.
  • Chư Thiên thắng. Vepacitti bị trói và dẫn đến hội trường Sudhamma.

Nếu lúc đó Vepacitti nghĩ: ‘Chư Thiên là chân chánh, A-tu-la là tà ác,’
khiến ông thấy mình được cởi trói và được hưởng năm dục lạc thiên giới.

Nhưng nếu ông nghĩ ngược lại: ‘A-tu-la là chân chánh, chư Thiên là tà ác,’ khiến ông thấy mình bị trói và mất hết các dục lạc.

Sự trói buộc ấy là bằng tâm, vi tế như sợi tơ sen hay lưới khỉ, không dao kéo nào cắt được – chỉ có trí tuệ (ñāṇa) mới giải thoát được.

Trói buộc vi tế hơn nữa là của Ma vương:

Tuy vậy, sự trói buộc của Ma vương (Māra) còn vi tế hơn cả dây trói của Vepacitti:

  • Nó không thể thấy bằng mắt, không ngăn cản thân hành động.
  • Người bị trói bởi Ma vương vẫn đi đứng, bay trên không, thậm chí đi hàng ngàn do-tuần.
  • Nhưng chỉ có trí tuệ mới chặt đứt xiềng xích đó  gọi là “giải thoát bằng trí”.

Các hình thức trói buộc bởi tâm:

“Ta là” (asmīti) là sự chấp thủ bởi ái (taṇhā)
“Ta là cái này” (ayamahamasmīti) là chấp thủ bởi tà kiến (diṭṭhi)
“Ta sẽ là” là chấp thường (sassatavāda)
“Ta sẽ không là” là chấp đoạn (ucchedavāda)
“Ta có sắc/vô sắc/cảm thọ/không cảm thọ/phi cảm phi phi cảm” là những biến thể của thường kiến

Tất cả đều là bệnh, ung nhọt, mũi tên độc, là nguyên nhân của luân hồi và khổ đau.

Các hình thức chấp thủ như “Ta là...”, “Ta sẽ là...” không chỉ là tà kiến mà còn là biểu hiện của:

  • Dao động (iñjita)
  • Loạn động (phandita)
  • Khuếch tán, suy diễn quá độ (papañcita)
  • Ngã mạn (mānagata)

Do đó, chư Tỳ khưu được khuyên nên sống với tâm:

  • Không dao động
  • Không loạn động
  • Không suy diễn quá độ
  • Không ngã mạn
  • Không chấp thủ “Ta là”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

207. XI. Bó Lúa (S.iv,201)

1-2) ...

3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một bó lúa quăng tại ngã tư đường, rồi sáu người đến, tay cầm cái đập và họ đập bó lúa ấy với sáu cái đập (vyàkggì)

Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy được khéo đập với sáu cái đập ấy. Rồi một người thứ bảy đến, tay cầm cái đập, và người ấy đập bó lúa ấy với cái đập thứ bảy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại càng được khéo đập với cái đập thứ bảy.

4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu bị đập trong con mắt bởi những sắc khả ái và không khả ái... bị đập trong lưỡi bởi những vị khả ái và không khả ái... bị đập trong ý bởi những pháp khả ái và không khả ái. Này các Tỷ-kheo, nếu kẻ vô văn phàm phu ấy lại nghĩ đến tái sanh trong tương lai, như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si ấy lại càng bị khéo đập hơn nữa. Ví như, này các Tỷ-kheo, bó lúa ấy lại được đập với cái đập thứ bảy nữa.

5) Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, cuộc chiến xảy ra giữa chư Thiên và các A-tu-la rất là khốc liệt.

Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua A-tu-la gọi các A-tu-la: "Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư Thiên và loài A-tu-la rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại, hãy trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la". Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba: "Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài A-tu-la, trận chiến rất là khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại, hãy trói vua A-tu-la Vepacitti, hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)".

6) Nhưng trận chiến ấy, chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại. Rồi, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba trói vua A-tu-la Vepacitti, trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka trong giảng đường Sudhamma.

7) Tại đây, này các Tỷ-kheo, vua A-tu-la Vepacitti bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ. Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua A-tu-la Vepacitti suy nghĩ như sau: "Chư Thiên theo Chánh pháp, còn A-tu-la theo phi pháp. Nay ta đi đến thành của chư Thiên", thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình được cởi trói hai chân, hai tay và thứ năm là cổ, và được hưởng thọ, được thưởng thức đầy đủ năm dục công đức cõi trời. Và này các Tỷ-kheo, khi vua A-tu-la suy nghĩ như sau: "Các A-tu-la theo Chánh pháp, chư Thiên theo phi pháp. Ở đây, ta sẽ đi đến thành của các A-tu-la", thời khi ấy vua A-tu-la tự thấy mình bị trói hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và bị tước bỏ năm dục công đức cõi trời.

8) Như vậy, này các Tỷ-kheo, thật tế nhị là sự trói buộc của Vepacitti, và còn tế nhị hơn là sự trói buộc của Màra. Ai có tư tưởng (Mannamàna), người ấy bị Màra trói buộc. Ai không có tư tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. "Cái này là tôi", này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. "Tôi sẽ là", này các Tỷ-kheo, là một tư tưởng. "Tôi sẽ không là", là một tư tưởng. "Tôi sẽ có sắc", là một tư tưởng. "Tôi sẽ không có sắc", là một tư tưởng. "Tôi sẽ có tưởng", là một tư tưởng. "Tôi sẽ không có tưởng", là một tư tưởng. "Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng", là một tư tưởng. Có tư tưởng, này các Tỷ-kheo, là tham. Có tư tưởng là mụt nhọt. Có tư tưởng là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: "Tôi sẽ sống với tâm không có tư tưởng".

9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một động chuyển (injitam). "Cái này là tôi", là một động chuyển. "Tôi sẽ là", là một động chuyển. "Tôi sẽ không là", là một động chuyển. "Tôi sẽ có sắc", là một động chuyển. "Tôi sẽ có tưởng", là một động chuyển. "Tôi sẽ không có tưởng", là một động chuyển. "Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng", là một động chuyển. Ðộng chuyển, này các Tỷ-kheo, là tham. Ðộng chuyển là mụt nhọt. Ðộng chuyển là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: "Tôi sẽ sống với tâm không có động chuyển".

10) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một chấn động (phanditam). "Cái này là tôi", là một chấn động. "Tôi sẽ là", là một chấn động. "Tôi sẽ không là", là một chấn động. "Tôi sẽ có sắc", là một chấn động. "Tôi sẽ không có sắc", là một chấn động. "Tôi sẽ có tưởng", là một chấn động. "Tôi sẽ không có tưởng", là một chấn động. "Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng", là một chấn động. Chấn động, này các Tỷ-kheo, là tham. Chấn động là mụt nhọt. Chấn động là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: "Tôi sẽ sống với tâm không chấn động".

11) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một hý luận (papancitam). "Cái này là tôi", là một hý luận. "Tôi sẽ là", là một hý luận. "Tôi sẽ không là", là một hý luận. "Tôi sẽ có sắc", là một hý luận. "Tôi sẽ không có sắc", là một hý luận. "Tôi sẽ có tưởng", là một hý luận. "Tôi sẽ không có tưởng", là một hý luận. "Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng", là một hý luận. Hý luận, này các Tỷ-kheo, là tham. Hý luận là mụt nhọt. Hý luận là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: "Tôi sẽ sống với tâm không có hý luận".

12) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải hiểu: "Tôi là", này các Tỷ-kheo, là một ngã mạn. "Cái này là tôi", là một ngã mạn. "Tôi sẽ là", là một ngã mạn. "Tôi sẽ không là", là một ngã mạn. "Tôi sẽ có sắc", là một ngã mạn. "Tôi sẽ không có sắc", là một ngã mạn. "Tôi sẽ có tưởng", là một ngã mạn. "Tôi sẽ không có tưởng", là một ngã mạn. "Tôi sẽ không có tưởng và không không có tưởng", là một ngã mạn. Ngã mạn, này các Tỷ-kheo, là tham. Ngã mạn là mụt nhọt. Ngã mạn là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: "Tôi sẽ sống với tâm trừ bỏ ngã mạn". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

-ooOoo-