|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 07 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH VĂN
1. Kinh Tam Muội
Định
249. “tisso imā, bhikkhave,
vedanā. katamā tisso? sukhā
vedanā, dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā — imā
kho, bhikkhave, tisso
vedanāti.
“samāhito sampajāno, sato
buddhassa sāvako.vedanā ca
pajānāti, vedanānañca
sambhavaṃ.“yattha cetā
nirujjhanti, maggañca
khayagāminaṃ.vedanānaṃ khayā
bhikkhu, nicchāto
parinibbuto”ti. paṭhamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, có ba cảm thọ này. Ba cảm thọ gồm những gì? Cảm thọ lạc,
cảm thọ khổ, cảm thọ không
khổ không lạc. Đó là ba cảm
thọ.”
Đệ tử Phật chánh niệm,
2. Kinh An Lạc
250. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā
vedanā, dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā — imā
kho, bhikkhave, tisso
vedanāti.
“sukhaṃ vā yadi vā dukkhaṃ, adukkhamasukhaṃ saha.
“Này chư Tỳ khưu, có ba cảm thọ này. Ba cảm thọ gồm những gì? Cảm thọ lạc,
cảm thọ khổ, cảm thọ không
khổ không lạc. Đó là ba cảm
thọ.”
Dù là lạc hay khổ,
3. Kinh Buông Xả
251. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā
vedanā, dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā.
sukhāya, bhikkhave, vedanāya
rāgānusayo pahātabbo,
dukkhāya vedanāya
paṭighānusayo pahātabbo,
adukkhamasukhāya vedanāya
avijjānusayo pahātabbo. yato
kho, bhikkhave, bhikkhuno
sukhāya vedanāya rāgānusayo
pahīno hoti, dukkhāya
vedanāya paṭighānusayo
pahīno hoti,
adukkhamasukhāya vedanāya
avijjānusayo pahīno hoti,
ayaṃ vuccati, bhikkhave,
‘bhikkhu niranusayo
sammaddaso acchecchi
{acchejji (bahūsu)} taṇhaṃ,
vivattayi {vāvattayi (sī.)}
saṃyojanaṃ, sammā
mānābhisamayā antamakāsi
dukkhassā’”ti.
“sukhaṃ vedayamānassa {vediyamānassa (sī. pī.)}, vedanaṃ
appajānato.
so rāgānusayo hoti, anissaraṇadassino.
“Này chư Tỳ khưu, có ba cảm thọ này. Ba cảm thọ gồm những gì? Cảm thọ lạc,
cảm thọ khổ, cảm thọ không
khổ không lạc. Khuynh hướng
tiềm ẩn về tham ái nên được
đoạn trừ đối với cảm thọ
lạc. Khuynh hướng tiềm ẩn về
sân hận nên được đoạn trừ
đối với cảm thọ khổ. Khuynh
hướng tiềm ẩn về si mê nên
được đoạn trừ đối với cảm
thọ không khổ không lạc.
“Khi, này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu đã đoạn trừ khuynh hướng tham ái đối
với cảm thọ lạc, đoạn trừ
khuynh hướng sân hận đối với
cảm thọ khổ, và đoạn trừ
khuynh hướng si mê đối với
cảm thọ không khổ không lạc,
thì vị ấy được gọi là Tỳ
khưu không còn khuynh hướng
tiềm ẩn, người có chánh
kiến. Vị ấy đã đoạn tận ái
dục, cắt đứt mọi xiềng xích,
và bằng cách phá vỡ hoàn
toàn ngã mạn, đã chấm dứt
khổ đau.”
Người trải nghiệm lạc thọ,
Người trải nghiệm khổ thọ,
Bậc Đại Trí đã dạy rằng,
Một hành giả tinh cần
Với bậc liễu tri thọ,
Chú Thích
Ba bài kinh ngắn nầy có nội dung riêng biệt nhưng đều nói về ba thọ nên
gom chung thành một bài.
Ba thọ được nói nhiều đối với người tu tập khi trải nghiệm cảm thọ vừa ý,
nghịch ý, hay trung tính.
Khi phân biệt cảm thọ thân
và tâm thì trở thành năm thọ
(khổ, lạc, ưu, hỷ, xả)
Ba khuynh hướng tiềm ẩn hay tiềm miên (anusaya): Tham tiểm miên
(Rāgānusaya), sân tiềm miên
(Paṭighānusaya), vô minh
tiềm miên (Avijjānusaya) đặc
biệt liên hệ mật thiết đến
cảm thọ (vedanā), và được
xem là phần chính yếu trong
sự quán chiếu cảm thọ để
đoạn trừ phiền não.
So sánh thêm trong Tương Ưng Bộ Kinh 45:175, nơi liệt kê bảy loại anusaya
toàn diện, và cũng có liên
hệ tại Trung Bộ Kinh (MN) I,
trang 303, dòng 6–11, mô tả
rõ ràng mối quan hệ giữa cảm
thọ và các anusaya này.
Sớ giải chú thích thuật ngữ “niranusayo”: có nghĩa là vị đã đoạn tận các
khuynh hướng tiềm ẩn, không
còn một “tàn dư” nào của
tham, sân, si trong tâm.
Sớ giải chú thích “Việc vượt qua
ngã mạn (māna) thông qua
bằng sự thấy rõ thực tướng
của ngã mạn với trí tuệ
(Dassanābhisamaya) và đoạn
trừ nó hoàn toàn
(Pahānābhisamaya)
Mặc dù ngã mạn và tà kiến không khởi cùng một sát-na tâm (theo Thắng Pháp
Abhidhamma), nhưng
đoạn này được hiểu là
tà kiến khởi lên trên nền
tảng của ngã chấp.
Sớ Giải
249. vedanāsaṃyutte sagāthāvaggassa paṭhame samāhitoti
upacārena vā appanāya vā
samāhito. vedanā ca
pajānātīti vedanā
dukkhasaccavasena pajānāti.
vedanānañca sambhavanti
tāsaṃyeva sambhavaṃ
samudayasaccavasena
pajānāti. yattha cetāti
yatthetā vedanā nirujjhanti,
taṃ nibbānaṃ
nirodhasaccavasena pajānāti.
khayagāminanti tāsaṃyeva
vedanānaṃ khayagāminaṃ
maggaṃ maggasaccavasena
pajānāti. nicchāto
parinibbutoti nittaṇho hutvā
kilesaparinibbānena
parinibbuto. evamettha sutte
sammasanacāravedanā kathitā.
gāthāsu dvīhi padehi
samathavipassanā kathitā,
sesehi catusaccaṃ kathitaṃ.
evamettha sabbasaṅgāhiko
catubhūmakadhammaparicchedo
vutto.
249. Trong bài kinh đầu tiên của chương Có Kệ thuộc Tương Ưng Cảm Thọ, từ
"samāhito" (định tâm) được
hiểu là định tâm trong hai
nghĩa: hoặc trong cận định
(upacāra samādhi), hoặc
trong an chỉ định (appanā
samādhi).
"Vedanā ca pajānāti" (vị ấy hiểu rõ cảm thọ):
"Vedanānañca sambhavaṃ" (và sự sinh khởi của các cảm thọ):
"Yattha ca te nirujjhanti" (nơi mà các cảm thọ ấy đoạn diệt):
"Khayagāminaṃ" (con đường đưa đến đoạn diệt):
"Nicchāto parinibbuto" (không còn khao khát, đã Niết-bàn):
Như vậy, trong bài kinh này, cảm thọ được nói đến với góc nhìn của sự quán
sát (sammasana-cāra-vedanā).
Trong các câu kệ:
Như vậy, đoạn kinh này là một sự bao quát tổng hợp (sabba-saṅgāhika),
250. dutiye adukkhamasukhaṃ sahāti adukkhamasukhañca
sukhadukkhehi saha.
ajjhattañca bahiddhā cāti
attano ca parassa ca.
mosadhammanti
nassanasabhāvaṃ. palokinanti
palujjanakaṃ
bhijjanasabhāvaṃ. phussa
phussa vayaṃ passanti ñāṇena
phusitvā phusitvā vayaṃ
passanto. evaṃ tattha
virajjatīti evaṃ tāsu
vedanāsu virajjati. idhāpi
sutte sammasanacāravedanā
kathitā, gāthāsu
ñāṇaphusanaṃ.
250. Trong bài kinh thứ hai:
“Adukkhamasukhaṃ sahā”
“Ajjhattañca bahiddhā ca”
“Mosadhammanti”
“Palokinaṃ”
“Phussa phussa vayaṃ passanti”
“Evaṃ tattha virajjati”
“Idhāpi sutte sammasanacāravedanā kathitā”
“Gāthāsu ñāṇaphusanaṃ”
251. tatiye acchecchi taṇhanti sabbampi taṇhaṃ chindi
samucchindi. vivattayi
saṃyojananti dasavidhampi
saṃyojanaṃ parivattayi
nimmūlakamakāsi. sammāti
hetunā kāraṇena.
mānābhisamayāti mānassa
dassanābhisamayā,
pahānābhisamayā ca.
arahattamaggo hi kiccavasena
mānaṃ sampassati, ayamassa
dassanābhisamayo. tena
diṭṭho pana so tāvadeva
pahīyati, diṭṭhavisena
diṭṭhasattānaṃ jīvitaṃ viya.
ayamassa pahānābhisamayo. ♦
antamakāsi dukkhassāti evaṃ
arahattamaggena mānassa
diṭṭhattā ca pahīnattā ca ye
ime “kāyabandhanassa anto
jīrati (cūḷava. 278)
haritantaṃ vā”ti (ma. ni.
1.304) evaṃ
vuttāntimamariyādanto ca,
“antamidaṃ, bhikkhave,
jīvikānan”ti (itivu. 91;
saṃ. ni. 3.80) evaṃ
vuttalāmakanto ca, “sakkāyo
eko anto”ti (a. ni. 6.61;
cūḷani.
tissametteyyamāṇavapucchāniddesa
11) evaṃ vuttakoṭṭhāsanto
ca, “esevanto dukkhassa
sabbapaccayasaṅkhayā”ti (saṃ
ni. 2.51; 2.4.71; udā. 71)
evaṃ vuttakoṭanto cāti
cattāro antā, tesu
sabbasseva vaṭṭadukkhassa
aduṃ catutthakoṭisaṅkhātaṃ
antamakāsi, paricchedaṃ
parivaṭumaṃ akāsi,
antimasamussayamattāvasesaṃ
dukkhamakāsīti vuttaṃ hoti.
♦ sampajaññaṃ na riñcatīti
sampajaññaṃ na jahati.
saṅkhyaṃ nopetīti ratto
duṭṭho mūḷhoti paññattiṃ na
upeti, taṃ paññattiṃ pahāya
khīṇāsavo nāma hotīti attho.
imasmiṃ sutte ārammaṇānusayo
kathito.
251. Trong bài kinh thứ ba:
“Acchecchi taṇhaṃ”
“Vivattayi saṃyojanaṃ”
“Sammā”
“Mānābhisamaya” nghĩa là:
Vì đạo quả A-la-hán (arahattamagga) đúng với bản chất công năng của nó,
thấy rõ ngã mạn (tức là sự
chấp ngã, cao ngạo), đây gọi
là dassanābhisamaya (thấy
rõ).
“Antamakāsi dukkhassa” – Vị ấy đã làm đoạn tận khổ đau:
Với đạo quả A-la-hán, nhờ thấy rõ và đoạn trừ ngã mạn, Ngài đã:
1.
Đạt đến giới hạn của vòng luân hồi,
giống như đoạn trong kinh:
“Giới hạn của thân xác này chấm dứt”
(Cūḷavagga 278)
2.
Chấm dứt “bờ mé của sự sống thấp hèn”
(Itivuttaka 91; Saṃyutta
Nikāya 3.80)
3.
Dứt thân kiến (sakkāya) – như trong
kinh nói:
“Thân kiến là một đầu mối” (Aṅguttara
Nikāya 6.61; Tissametteyya
Sutta)
4.
Đạt đến điểm cuối của khổ đau, như được
dạy:
“Đây là đoạn tận của khổ, là sự diệt
tận của tất cả các duyên và
hành” (Saṃyutta Nikāya 2.51;
Udāna 71)
Bốn khía cạnh “giới hạn (anta)” được mô tả ở đây. Trong đó, A-la-hán đã
đạt đến giới hạn thứ tư, tức
là đoạn tận hoàn toàn khổ
đau do vòng luân hồi mang
lại (vaṭṭa-dukkha). Ngài đã
cắt đứt, vượt qua, và làm
cho không còn bất kỳ phần dư
sót nào của khổ đau.
“Sampajaññaṃ na riñcati”
“Saṅkhyaṃ nopeti”
Vị ấy vượt qua các định danh, được gọi là bậc lậu tận (khíṇāsava)
____________________________________________________
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
1. I. Thiền Ðịnh (S.iv,204)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất
lạc thọ. Ðây, này các
Tỷ-kheo, là ba thọ.
1) Vị đệ tử đức Phật,
2) Chỗ này, chúng đoạn diệt,
2. II. An Lạc (S.iv,204)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất
lạc thọ. Ðây, này các
Tỷ-kheo, là ba thọ.
1) Lạc thọ hay khổ thọ,
2) Biết được: "Ðây là khổ",
3. III. Ðoạn Tận (S.iv,205)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất
lạc thọ.
4) Này các Tỷ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải
đoạn tận. Sân tùy miên đối
với khổ thọ cần phải đoạn
tận. Vô minh tùy miên đối
với bất khổ bất lạc thọ cần
phải đoạn tận.
5) Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận tham tùy miên
đối với lạc thọ, đoạn tận
sân tùy miên đối với khổ
thọ, đoạn tận vô minh tùy
miên đối với bất khổ bất lạc
thọ; thời này các Tỷ-kheo,
sự từ bỏ tham tùy miên của
Tỷ-kheo được gọi là chánh
kiến, ái được đoạn tận, kiết
sử được hủy hoại. Với minh
kiến chơn chánh đối với ngã
mạn (sammà mànabhisamayà),
vị ấy đoạn tận khổ đau.
1) Nếu cảm giác lạc thọ,
2) Nếu cảm giác khổ thọ,
3) Với bất khổ bất lạc,
4) Vị Tỷ-kheo nhiệt tình,
5) Vị ấy liễu tri thọ, _ _______________________________________
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
200. IV. Khúc Gỗ (1) (S.iv,179)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.
2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông
Hằng, thấy vậy liền gọi các
Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang
trôi theo dòng nước sông
Hằng không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
3) -- Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này,
không đâm vào bờ bên kia,
không chìm giữa dòng, không
mắc cạn trên miếng đất nổi,
không bị loài Người nhặt
lấy, không bị phi nhân nhặt
lấy, không bị mắc vào xoáy
nước, không bị mục bên
trong; như vậy, này các
Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng
về biển, sẽ xuôi theo biển,
sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì
sao? Vì rằng, này các
Tỷ-kheo, dòng sông Hằng
hướng về biển, xuôi theo
biển, nghiêng trôi về biển.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
nếu các Ông không đâm vào bờ
bên này, không đâm vào bờ
bên kia, không chìm giữa
dòng, không mắc cạn trên
miếng đất nổi, không bị loài
Người nhặt lấy, không bị phi
nhân nhặt lấy, không bị mắc
vào xoáy nước, không bị mục
bên trong; như vậy, này các
Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về
Niết-bàn, sẽ xuôi theo
Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập
vào Niết-bàn. Vì sao? Vì
rằng, này các Tỷ-kheo, chánh
kiến hướng về Niết-bàn, xuôi
theo Niết-bàn, nghiêng nhập
vào Niết-bàn.
4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào
là chìm giữa dòng? Thế nào
là mắc cạn trên miếng đất
nổi? Thế nào là bị loài
Người nhặt lấy? Thế nào là
bị phi nhân nhặt lấy? Thế
nào là bị mắc vào xoáy nước?
Thế nào là bị mục nát bên
trong?
5) -- Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ
này.
6) Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.
7) Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ
tham.
8) Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa
với ngã mạn.
9) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây,
Tỷ-kheo sống quá liên hệ với
cư sĩ, chung vui, chung
buồn, an lạc khi họ an lạc,
đau khổ khi họ bị đau khổ,
tự trói buộc mình trong các
công việc phải làm được khởi
lên của họ. Ðây gọi là
Tỷ-kheo bị loài Người nhặt
lấy.
10) Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây,
Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với
ước nguyện được sanh cộng
trú với một hạng chư Thiên:
"Mong rằng với giới luật
này, với cấm giới này, với
khổ hạnh này, với Phạm hạnh
này, ta sẽ trở thành Thiên
nhân hay một loài chư
Thiên!" Ðây, này Tỷ-kheo,
được gọi là bị phi nhân nhặt
lấy.
11) Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm
dục công đức.
12) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây,
này Tỷ-kheo, có người thọ tà
giới, theo ác pháp, bất
tịnh, có những hành vi đáng
nghi ngờ, có những hành động
che đậy, không phải Sa-môn
nhưng hiện tướng Sa-môn,
không phải Phạm hạnh nhưng
hiện tướng Phạm hạnh, nội
tâm bị hủ bại, đầy dục vọng,
là một đống rác bẩn. Ðây,
này Tỷ-kheo, được gọi là bị
mục nát bên trong.
11) Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn
bao nhiêu.
12) Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm
vào bờ bên kia, con không bị
chìm giữa dòng, con không bị
mắc cạn trên miếng đất nổi,
con không bị loài Người nhặt
lấy, con không bị phi nhân
nhặt lấy, con không bị mắc
vào xoáy nước, con không bị
mục nát bên trong. Bạch Thế
Tôn, mong Thế Tôn cho con
được xuất gia với Thế Tôn,
được thọ đại giới.
13) -- Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.
-- Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông
mong gặp lại các con bê của
chúng.
-- Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những
người chủ.
14) Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho
những người chủ, đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, bạch Thế
Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người
chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy
cho con được xuất gia với
Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại
giới.
15) Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ
đại giới. Sau khi thọ đại
giới không bao lâu, Tôn giả
Nanda sống một mình, an
tịnh...
16) Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa. 201. V. Khúc Gỗ (2) (S.iv,181)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Kimbilà, trên bờ sông Hằng.
2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ trôi theo dòng nước sông Hằng,
thấy vậy, liền gọi các
Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ lớn này bị trôi
theo dòng nước sông Hằng?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
3) (Như kinh trước cho đến: Nghiêng nhập vào Niết-bàn).
4) Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Kimbilà bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì?... (như trên) ...
12) -- Và này Kimbilà, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở
đây, này Kimbilà, Tỷ-kheo
phạm một giới tội (àpatti),
một giới tội không thể giải
trừ. Này Kimbilà, đây gọi là
mục nát bên trong. -ooOoo- |