BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 07 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm Với Kệ Ngôn- SN 35.249, SN 35. 250, SN. 35. 251. Bài 451. HẠNH PHÚC VƯỢT KHỎI CẢM THỌ - Kinh Tam Muội Định (samādhisuttaṃ), Kinh An Lạc (sukhasuttaṃ), Kinh Buông Xả (pahānasuttaṃ) .
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-451.jpg














http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Cuộc sống thường được đong đo bởi khổ đau và hạnh phúc. Hạnh phúc và khổ đau thường được nhận dạng qua cảm thọ vừa ý hay nghịch ý. Vấn đề nằm ở đây. Cảm thọ lạc thường tạo ra tâm tham luyến; cảm thọ khổ thường tạo ra tâm bực bội; cảm thọ trung tính thường tạo ra tâm muội lược si ám. Phải hiểu rõ cảm thọ và tác động xa gần của cảm thọ thì mới không bị cảm thọ dẫn dắt vào phiền não chướng.

 KINH VĂN

1. Kinh Tam Muội Định

249. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā — imā kho, bhikkhave, tisso vedanāti.

“samāhito sampajāno, sato buddhassa sāvako.vedanā ca pajānāti, vedanānañca sambhavaṃ.“yattha cetā nirujjhanti, maggañca khayagāminaṃ.vedanānaṃ khayā bhikkhu, nicchāto parinibbuto”ti. paṭhamaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, có ba cảm thọ này. Ba cảm thọ gồm những gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc. Đó là ba cảm thọ.”

Đệ tử Phật chánh niệm,
Tịnh chỉ và tuệ tri,
Hiểu rõ được cảm thọ,
Nguồn gốc của cảm thọ,
Nơi mà chúng chấm dứt,
Đường dẫn đến thọ diệt.
Với tịch tịnh cảm thọ,
Hành giả diệt khát ái

2. Kinh An Lạc

250. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā — imā kho, bhikkhave, tisso vedanāti.

“sukhaṃ vā yadi vā dukkhaṃ, adukkhamasukhaṃ saha.
ajjhattañca bahiddhā ca, yaṃ kiñci atthi veditaṃ.
“etaṃ dukkhanti ñatvāna, mosadhammaṃ palokinaṃ.
phussa phussa vayaṃ passaṃ, evaṃ tattha virajjatī”ti. dutiyaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, có ba cảm thọ này. Ba cảm thọ gồm những gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc. Đó là ba cảm thọ.”

Dù là lạc hay khổ,
Hay không khổ không lạc,
Cả nội tâm, ngoại giới
Bất kỳ cảm thọ nào
Biết rõ, “Đây là khổ,
Biến đổi và hoại diệt”
Khi tiếp xúc, bị tiếp xúc,
Thấy rõ sự hoại diệt,
Người ấy đoạn tham cầu

3. Kinh Buông Xả

251. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. sukhāya, bhikkhave, vedanāya rāgānusayo pahātabbo, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo. yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhāya vedanāya rāgānusayo pahīno hoti, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahīno hoti, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahīno hoti, ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu niranusayo sammaddaso acchecchi {acchejji (bahūsu)} taṇhaṃ, vivattayi {vāvattayi (sī.)} saṃyojanaṃ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’”ti.

“sukhaṃ vedayamānassa {vediyamānassa (sī. pī.)}, vedanaṃ appajānato.

so rāgānusayo hoti, anissaraṇadassino.
“dukkhaṃ vedayamānassa, vedanaṃ appajānato.
paṭighānusayo hoti, anissaraṇadassino.
“adukkhamasukhaṃ santaṃ, bhūripaññena desitaṃ.
tañcāpi abhinandati, neva dukkhā pamuccati.
“yato ca bhikkhu ātāpī, sampajaññaṃ na riñcati.
tato so vedanā sabbā, parijānāti paṇḍito.
“so vedanā pariññāya, diṭṭhe dhamme anāsavo.
kāyassa bhedā dhammaṭṭho, saṅkhyaṃ nopeti vedagū”ti. tatiyaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, có ba cảm thọ này. Ba cảm thọ gồm những gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc. Khuynh hướng tiềm ẩn về tham ái nên được đoạn trừ đối với cảm thọ lạc. Khuynh hướng tiềm ẩn về sân hận nên được đoạn trừ đối với cảm thọ khổ. Khuynh hướng tiềm ẩn về si mê nên được đoạn trừ đối với cảm thọ không khổ không lạc.

“Khi, này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu đã đoạn trừ khuynh hướng tham ái đối với cảm thọ lạc, đoạn trừ khuynh hướng sân hận đối với cảm thọ khổ, và đoạn trừ khuynh hướng si mê đối với cảm thọ không khổ không lạc, thì vị ấy được gọi là Tỳ khưu không còn khuynh hướng tiềm ẩn, người có chánh kiến. Vị ấy đã đoạn tận ái dục, cắt đứt mọi xiềng xích, và bằng cách phá vỡ hoàn toàn ngã mạn, đã chấm dứt khổ đau.”

Người trải nghiệm lạc thọ,
Nếu không hiểu cảm thọ,
Tham tuỳ miên sanh khởi
Không thấy được lối thoát.

Người trải nghiệm khổ thọ,
Nếu không hiểu cảm thọ,
Sân tuỳ miên sanh khởi
Không thấy được lối thoát.

Bậc Đại Trí đã dạy rằng,
Với cảm thọ bình yên,
Không khổ và không lạc:
Nếu tìm vui trong đó,
Vẫn là chưa thoát khổ.

Một hành giả tinh cần
Tỉnh thức, không giải đãi
Đối với mọi cảm thọ
Với hiểu biết trọn vẹn zz

Với bậc liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Thân hoại, vững trú Pháp
Trí giả nan tư nghì

Chú Thích

Ba bài kinh ngắn nầy có nội dung riêng biệt nhưng đều nói về ba thọ nên gom chung thành một bài.

Ba thọ được nói nhiều đối với người tu tập khi trải nghiệm cảm thọ vừa ý, nghịch ý, hay trung tính. Khi phân biệt cảm thọ thân và tâm thì trở thành năm thọ (khổ, lạc, ưu, hỷ, xả)

Ba khuynh hướng tiềm ẩn hay tiềm miên (anusaya): Tham tiểm miên (Rāgānusaya), sân tiềm miên (Paṭighānusaya), vô minh tiềm miên (Avijjānusaya) đặc biệt liên hệ mật thiết đến cảm thọ (vedanā), và được xem là phần chính yếu trong sự quán chiếu cảm thọ để đoạn trừ phiền não.

So sánh thêm trong Tương Ưng Bộ Kinh 45:175, nơi liệt kê bảy loại anusaya toàn diện, và cũng có liên hệ tại Trung Bộ Kinh (MN) I, trang 303, dòng 6–11, mô tả rõ ràng mối quan hệ giữa cảm thọ và các anusaya này.

Sớ giải chú thích thuật ngữ “niranusayo”: có nghĩa là vị đã đoạn tận các khuynh hướng tiềm ẩn, không còn một “tàn dư” nào của tham, sân, si trong tâm.

Sớ giải chú thích  “Việc vượt qua ngã mạn (māna) thông qua bằng sự thấy rõ thực tướng của ngã mạn với trí tuệ (Dassanābhisamaya) và đoạn trừ nó hoàn toàn (Pahānābhisamaya)

Mặc dù ngã mạn và tà kiến không khởi cùng một sát-na tâm (theo Thắng Pháp Abhidhamma), nhưng  đoạn này được hiểu là tà kiến khởi lên trên nền tảng của ngã chấp.

Sớ Giải

249. vedanāsaṃyutte sagāthāvaggassa paṭhame samāhitoti upacārena vā appanāya vā samāhito. vedanā ca pajānātīti vedanā dukkhasaccavasena pajānāti. vedanānañca sambhavanti tāsaṃyeva sambhavaṃ samudayasaccavasena pajānāti. yattha cetāti yatthetā vedanā nirujjhanti, taṃ nibbānaṃ nirodhasaccavasena pajānāti. khayagāminanti tāsaṃyeva vedanānaṃ khayagāminaṃ maggaṃ maggasaccavasena pajānāti. nicchāto parinibbutoti nittaṇho hutvā kilesaparinibbānena parinibbuto. evamettha sutte sammasanacāravedanā kathitā. gāthāsu dvīhi padehi samathavipassanā kathitā, sesehi catusaccaṃ kathitaṃ. evamettha sabbasaṅgāhiko catubhūmakadhammaparicchedo vutto.

249. Trong bài kinh đầu tiên của chương Có Kệ thuộc Tương Ưng Cảm Thọ, từ "samāhito" (định tâm) được hiểu là định tâm trong hai nghĩa: hoặc trong cận định (upacāra samādhi), hoặc trong an chỉ định (appanā samādhi).

"Vedanā ca pajānāti" (vị ấy hiểu rõ cảm thọ):
Nghĩa là vị ấy hiểu cảm thọ như là khổ đế (dukkhasacca).

"Vedanānañca sambhavaṃ" (và sự sinh khởi của các cảm thọ):
Tức là vị ấy hiểu rõ sự sinh khởi của cảm thọ như là tập đế (samudayasacca).

"Yattha ca te nirujjhanti" (nơi mà các cảm thọ ấy đoạn diệt):
Tức là hiểu rõ Nibbāna – nơi các cảm thọ đoạn diệt – như là diệt đế (nirodhasacca).

"Khayagāminaṃ" (con đường đưa đến đoạn diệt):
Tức là hiểu rõ con đường dẫn đến sự đoạn tận của các cảm thọ, chính là đạo đế (magga­sacca).

"Nicchāto parinibbuto" (không còn khao khát, đã Niết-bàn):
Tức là vị ấy đã dứt trừ ái dục, và đạt đến sự Niết-bàn qua sự tịch diệt các lậu hoặc (kilesa-parinibbāna).

Như vậy, trong bài kinh này, cảm thọ được nói đến với góc nhìn của sự quán sát (sammasana-cāra-vedanā).

Trong các câu kệ:
– Hai câu đầu trình bày về thiền chỉ và thiền quán (samatha–vipassanā),
– Các phần còn lại trình bày về Tứ Thánh Đế (bốn chân lý).

Như vậy, đoạn kinh này là một sự bao quát tổng hợp (sabba-saṅgāhika),
trình bày sự phân loại các pháp trong bốn tầng bậc (catubhūmaka-dhamma-pariccheda), tức là trong khuôn khổ của Tứ Thánh Đế.

250. dutiye adukkhamasukhaṃ sahāti adukkhamasukhañca sukhadukkhehi saha. ajjhattañca bahiddhā cāti attano ca parassa ca. mosadhammanti nassanasabhāvaṃ. palokinanti palujjanakaṃ bhijjanasabhāvaṃ. phussa phussa vayaṃ passanti ñāṇena phusitvā phusitvā vayaṃ passanto. evaṃ tattha virajjatīti evaṃ tāsu vedanāsu virajjati. idhāpi sutte sammasanacāravedanā kathitā, gāthāsu ñāṇaphusanaṃ.

250. Trong bài kinh thứ hai:

“Adukkhamasukhaṃ sahā”
=> Nghĩa là: cảm thọ không khổ không lạc đi kèm với cảm thọ lạc và khổ (tức là ba loại cảm thọ cùng hiện diện).

“Ajjhattañca bahiddhā ca”
=> Nghĩa là: cảm thọ phát sinh nội tại (trong thân tâm của chính mình) và ngoại tại (liên quan đến người khác hoặc ngoại cảnh).

“Mosadhammanti”
Nghĩa là: có bản chất hoại diệt (tánh chất bị mất đi, tiêu tan).

“Palokinaṃ”
Nghĩa là: có tính chất phân rã, tan vỡ, bị hủy hoại (bản chất dễ vỡ).

“Phussa phussa vayaṃ passanti”
Nghĩa là: (bậc trí) tiếp xúc cảm thọ một cách liên tục, rồi quán sát sự hoại diệt của chúng bằng trí tuệ.

“Evaṃ tattha virajjati”
 Nghĩa là: do thấy rõ như vậy, vị ấy chán lìa các cảm thọ ấy (không còn tham đắm).

“Idhāpi sutte sammasanacāravedanā kathitā”
Nghĩa là: trong bài kinh này cũng vậy, cảm thọ được trình bày dưới góc nhìn của sự quán sát (sammasana-cāra).

“Gāthāsu ñāṇaphusanaṃ”
Nghĩa là: trong phần kệ, sự tiếp xúc bằng trí tuệ (ñāṇa-phusana) được nhấn mạnh.

251. tatiye acchecchi taṇhanti sabbampi taṇhaṃ chindi samucchindi. vivattayi saṃyojananti dasavidhampi saṃyojanaṃ parivattayi nimmūlakamakāsi. sammāti hetunā kāraṇena. mānābhisamayāti mānassa dassanābhisamayā, pahānābhisamayā ca. arahattamaggo hi kiccavasena mānaṃ sampassati, ayamassa dassanābhisamayo. tena diṭṭho pana so tāvadeva pahīyati, diṭṭhavisena diṭṭhasattānaṃ jīvitaṃ viya. ayamassa pahānābhisamayo. ♦ antamakāsi dukkhassāti evaṃ arahattamaggena mānassa diṭṭhattā ca pahīnattā ca ye ime “kāyabandhanassa anto jīrati (cūḷava. 278) haritantaṃ vā”ti (ma. ni. 1.304) evaṃ vuttāntimamariyādanto ca, “antamidaṃ, bhikkhave, jīvikānan”ti (itivu. 91; saṃ. ni. 3.80) evaṃ vuttalāmakanto ca, “sakkāyo eko anto”ti (a. ni. 6.61; cūḷani. tissametteyyamāṇavapucchāniddesa 11) evaṃ vuttakoṭṭhāsanto ca, “esevanto dukkhassa sabbapaccayasaṅkhayā”ti (saṃ ni. 2.51; 2.4.71; udā. 71) evaṃ vuttakoṭanto cāti cattāro antā, tesu sabbasseva vaṭṭadukkhassa aduṃ catutthakoṭisaṅkhātaṃ antamakāsi, paricchedaṃ parivaṭumaṃ akāsi, antimasamussayamattāvasesaṃ dukkhamakāsīti vuttaṃ hoti. ♦ sampajaññaṃ na riñcatīti sampajaññaṃ na jahati. saṅkhyaṃ nopetīti ratto duṭṭho mūḷhoti paññattiṃ na upeti, taṃ paññattiṃ pahāya khīṇāsavo nāma hotīti attho. imasmiṃ sutte ārammaṇānusayo kathito.

251. Trong bài kinh thứ ba:

“Acchecchi taṇhaṃ”
Có nghĩa là: Vị ấy đã chặt đứt hoàn toàn tham ái, đã tiêu diệt tận gốc mọi loại ái dục.

“Vivattayi saṃyojanaṃ”
Tức là: Vị ấy đã đoạn trừ mười kiết sử (mười loại trói buộc trong vòng luân hồi), đã làm cho chúng biến mất tận gốc (nimmūlaka).

“Sammā”
Nghĩa là: do bởi nguyên nhân đúng đắn, tức nhân duyên chân chánh.

“Mānābhisamaya” nghĩa là:
Sự chứng ngộ liên quan đến ngã mạn (māna), bao gồm:
– Chứng ngộ bằng tuệ tri thấy rõ (dassanābhisamaya)
– Và chứng ngộ qua sự đoạn trừ (pahānābhisamaya).

Vì đạo quả A-la-hán (arahattamagga) đúng với bản chất công năng của nó, thấy rõ ngã mạn (tức là sự chấp ngã, cao ngạo), đây gọi là dassanābhisamaya (thấy rõ).
Khi đã thấy rồi, ngã mạn được đoạn trừ ngay lúc đó, giống như khi bị rắn độc cắn thì cái chết đến ngay – đây gọi là pahānābhisamaya (chứng ngộ qua sự từ bỏ).

“Antamakāsi dukkhassa” – Vị ấy đã làm đoạn tận khổ đau:

Với đạo quả A-la-hán, nhờ thấy rõ và đoạn trừ ngã mạn, Ngài đã:

1.    Đạt đến giới hạn của vòng luân hồi, giống như đoạn trong kinh:

“Giới hạn của thân xác này chấm dứt” (Cūḷavagga 278)

2.    Chấm dứt “bờ mé của sự sống thấp hèn” (Itivuttaka 91; Saṃyutta Nikāya 3.80)

3.    Dứt thân kiến (sakkāya) – như trong kinh nói:

“Thân kiến là một đầu mối” (Aṅguttara Nikāya 6.61; Tissametteyya Sutta)

4.    Đạt đến điểm cuối của khổ đau, như được dạy:

“Đây là đoạn tận của khổ, là sự diệt tận của tất cả các duyên và hành” (Saṃyutta Nikāya 2.51; Udāna 71)

Bốn khía cạnh “giới hạn (anta)” được mô tả ở đây. Trong đó, A-la-hán đã đạt đến giới hạn thứ tư, tức là đoạn tận hoàn toàn khổ đau do vòng luân hồi mang lại (vaṭṭa-dukkha). Ngài đã cắt đứt, vượt qua, và làm cho không còn bất kỳ phần dư sót nào của khổ đau.

“Sampajaññaṃ na riñcati”
Nghĩa là vị ấy không từ bỏ chánh niệm tỉnh giác (luôn duy trì sự tỉnh thức).

“Saṅkhyaṃ nopeti”
Nghĩa là không còn rơi vào các khái niệm như tham, sân, si, không còn bị nhận dạng như người phàm bị ô nhiễm (ratto, duṭṭho, mūḷho).

Vị ấy vượt qua các định danh, được gọi là bậc lậu tận (khíṇāsava)

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

____________________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

1. I. Thiền Ðịnh (S.iv,204)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỷ-kheo, là ba thọ.

1) Vị đệ tử đức Phật,
Ðịnh, tỉnh giác, chánh niệm,
Hiểu rõ ràng các thọ,
Và xuất ly các thọ.

2) Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỷ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.

2. II. An Lạc (S.iv,204)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỷ-kheo, là ba thọ.

1) Lạc thọ hay khổ thọ,
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.

2) Biết được: "Ðây là khổ",
Hư ngụy và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây, sống ly tham.

3. III. Ðoạn Tận (S.iv,205)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.

4) Này các Tỷ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận.

5) Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, đoạn tận sân tùy miên đối với khổ thọ, đoạn tận vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ; thời này các Tỷ-kheo, sự từ bỏ tham tùy miên của Tỷ-kheo được gọi là chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn (sammà mànabhisamayà), vị ấy đoạn tận khổ đau.

1) Nếu cảm giác lạc thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi tham tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.

2) Nếu cảm giác khổ thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi sân tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.

3) Với bất khổ bất lạc,
Bậc Ðại trí thuyết giảng,
Nếu hoan hỷ thọ ấy,
Không thoát được khổ đau.

4) Vị Tỷ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.

5) Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Thân hoại, bậc Pháp trú
Ðại trí vượt ước lường.

 

________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

200. IV. Khúc Gỗ (1) (S.iv,179)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.

2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

3) -- Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.

4) Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?

5) -- Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ này.

6) Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.

7) Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với hỷ tham.

8) Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.

9) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỷ-kheo bị loài Người nhặt lấy.

10) Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: "Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!" Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy.

11) Bị mắc vào xoáy nước, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức.

12) Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.

11) Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu.

12) Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.

13) -- Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.

-- Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.

-- Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những người chủ.

14) Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.

15) Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Nanda sống một mình, an tịnh...

16) Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa.

201. V. Khúc Gỗ (2) (S.iv,181)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Kimbilà, trên bờ sông Hằng.

2) Thế Tôn thấy một khúc gỗ trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy, liền gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy khúc gỗ lớn này bị trôi theo dòng nước sông Hằng?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

3) (Như kinh trước cho đến: Nghiêng nhập vào Niết-bàn).

4) Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Kimbilà bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì?... (như trên) ...

12) -- Và này Kimbilà, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Kimbilà, Tỷ-kheo phạm một giới tội (àpatti), một giới tội không thể giải trừ. Này Kimbilà, đây gọi là mục nát bên trong.

 

-ooOoo-