|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 08 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH VĂN
252. “assutavā, bhikkhave, puthujjano yaṃ vācaṃ bhāsati —
‘atthi mahāsamudde
pātālo’ti. taṃ kho panetaṃ,
bhikkhave, assutavā
puthujjano asantaṃ
avijjamānaṃ evaṃ vācaṃ
bhāsati — ‘atthi mahāsamudde
pātālo’ti. sārīrikānaṃ kho
etaṃ, bhikkhave, dukkhānaṃ
vedanānaṃ adhivacanaṃ
yadidaṃ ‘pātālo’ti.
assutavā, bhikkhave,
puthujjano sārīrikāya
dukkhāya vedanāya phuṭṭho
samāno socati kilamati
paridevati urattāḷiṃ kandati
sammohaṃ āpajjati. ayaṃ
vuccati, bhikkhave,
‘assutavā puthujjano pātāle
na paccuṭṭhāsi, gādhañca
nājjhagā’. sutavā ca kho,
bhikkhave, ariyasāvako
sārīrikāya dukkhāya vedanāya
phuṭṭho samāno neva socati,
na kilamati, na paridevati,
na urattāḷiṃ kandati, na
sammohaṃ āpajjati. ayaṃ
vuccati, bhikkhave, ‘sutavā
ariyasāvako pātāle
paccuṭṭhāsi, gādhañca
ajjhagā’”ti.
“yo etā nādhivāseti, uppannā vedanā dukhā. “dukkhaṃ vedayamānassa, vedanaṃ appajānato. paṭighānusayo hoti, anissaraṇadassino. “adukkhamasukhaṃ santaṃ, bhūripaññena desitaṃ. tañcāpi abhinandati, neva dukkhā pamuccati. “yato ca bhikkhu ātāpī, sampajaññaṃ na riñcati. tato so vedanā sabbā, parijānāti paṇḍito. “so vedanā pariññāya, diṭṭhe dhamme anāsavo. kāyassa bhedā dhammaṭṭho, saṅkhyaṃ nopeti vedagū”ti. tatiyaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, khi một
phàm phu thiếu học hiểu
tuyên bố rằng:
Khi một phàm phu thiếu học hiểu tiếp
xúc với cảm thọ thân khổ,
người ấy sầu muộn, than
khóc, kêu gào, đấm ngực và
trở nên rối loạn. Đó gọi là
người phàm phu chưa thoát
khỏi vực thẳm không đáy,
chưa có chỗ đứng vững.
Nhưng, này các Tỳ khưu, khi một vị đệ
tử Thánh đã được hướng dẫn
tiếp xúc với cảm thọ thân
khổ, người ấy không sầu
muộn, không than khóc, không
đấm ngực, không trở nên rối
loạn. Đó gọi là vị đệ tử
Thánh đã vượt lên khỏi vực
thẳm không đáy, đã đạt được
chỗ đứng vững chãi.”
Ai không thể chịu đựng
Ai có thể kham nhẫn
Chú Thích
Từ “Pātālo” được chú thích như sau:“patassa alam pariyāto” – nghĩa là:
“một mức độ đủ đầy của sự
rơi xuống”. Tức là một nơi
mà sự rơi xuống không có
điểm dừng, tượng trưng cho
vô tận, không đáy, không có
gì có thể đỡ lại (chỗ không
có chỗ dừng – na atthi ettha
paṭiha, tức là "không có gì
để chạm vào").
Từ “pātāla” ở đây được dùng ẩn dụ cho cảm thọ đau đớn nơi thân thể — trong
tiếng Pāli là:“sārīrika
dukkha vedanā - cảm thọ khổ
về thân”
Như vậy, "vực thẳm không đáy" không phải là một địa điểm vật lý, mà là ẩn
dụ cho nỗi khổ sâu sắc của
thân, nơi mà người phàm
không có chánh kiến sẽ bị
chìm đắm, đau khổ, không
thoát ra được.“Pātālo” không
chỉ mang nghĩa vật lý, mà
trong ngữ cảnh Phật giáo, nó
biểu trưng cho chiều sâu
không đáy của khổ thọ thân
xác, nơi mà người không tu
tập sẽ chìm vào than khóc và
tuyệt vọng, còn bậc hành giả
chánh niệm thì vượt qua
được, đặt chân lên nền tảng
an ổn của tuệ giác
.Sớ Giải
252. catutthe pātāloti pātassa alaṃ pariyatto, natthi ettha
patiṭṭhāti pātālo. asantaṃ
avijjamānanti asambhūtattaṃ
apaññāyamānattaṃ. evaṃ vācaṃ
bhāsatīti atthi mahāsamudde
pātāloti evaṃ vācaṃ. so hi
yaṃ taṃ balavāmukhaṃ
mahāsamuddassa udakaṃ vegena
pakkhanditvā cakkavāḷaṃ vā
sineruṃ vā āhacca
yojanadviyojanadasayojanappamāṇampi
uggantvā puna mahāsamudde
patati, yassa patitaṭṭhāne
mahānarakapapāto viya hoti,
yaṃ loke balavāmukhanti
vuccati. taṃ sandhāya evaṃ
vadati.
yasmā pana tattha tathārūpānaṃ macchakacchapadevadānavānaṃ
patiṭṭhāpi hoti
sukhanivāsopi, tasmā asantaṃ
asaṃvijjamānaṃ taṃ taṃ vācaṃ
bhāsati nāma. yasmā pana
sabbaputhujjanā sārīrikāya
dukkhavedanāya patiṭṭhātuṃ
na sakkonti, tasmā pātassa
alanti atthena ayameva
pātāloti dassento
sārīrikānaṃ kho etaṃ
bhikkhavetiādimāha.
pātāle na paccuṭṭhāsīti pātālasmiṃ na patiṭṭhāsi. gādhanti
patiṭṭhaṃ. akkandatīti
anibaddhaṃ vippalāpaṃ
vilapanto kandati. dubbaloti
dubbalañāṇo. appathāmakoti
ñāṇathāmassa parittatāya
parittathāmako. imasmiṃ
sutte ariyasāvakoti
sotāpanno. sotāpanno hi
ettha dhuraṃ,
balavavipassako na
tikkhabuddhi uppannaṃ
vedanaṃ ananuvattitvā
patiṭṭhātuṃ samattho
yogāvacaropi vaṭṭati.
252. Trong bài kinh thứ tư:
"Pātālo" (vực thẳm không đáy):
"Asantaṃ avijjamānaṃ" Có nghĩa
là không hiện hữu, không tồn
tại – tức là nói về một điều
không có thật.Từ đó dẫn đến
câu: “Evaṃ vācaṃ bhāsati” –
người ấy nói lời như thế
này:
Trong thực tế, người ấy đang nói về hiện tượng như sau:
Người đời hiểu nhầm hiện tượng tự nhiên này là "vực thẳm không đáy thật
sự". Nhưng thực ra, ngay tại
đó, vẫn có thể có cá, rùa,
chư thiên, long thần... cư
trú thoải mái, an ổn.Nơi ấy
không phải là không đáy, bởi
vì có chúng sinh sống an vui
tại đó. Do đó, nói rằng đại
dương có vực thẳm không đáy
là lời nói không đúng sự
thật (asantaṃ,
asaṃvijjamānaṃ).
Vì rằng tất cả phàm phu không thể đứng vững trước cảm thọ khổ về thân,
"Pātāle na paccuṭṭhāsi"
"Gādha"
"Akkandati"
"Dubballo"
"Appathāmako"
Ai là người đứng vững khỏi “vực thẳm không đáy”?
Trong bài kinh này, từ "ariyasāvako" (đệ tử Thánh) nên hiểu là bậc Dự Lưu
(Sotāpanna). Vì bậc Dự Lưu
là người đứng đầu trong hàng
đệ tử, có thể vượt qua cảm
thọ khổ nhờ tuệ tri đúng
đắn.
Tuy nhiên, một hành giả mạnh mẽ, có tuệ quán sâu sắc (balava-vipassako),
________________________________________
Bản dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
4. IV. Vực Thẳm (Pàtàla) (S.iv,206)
1-2) ...
3) -- Kẻ vô văn phàm phu nói như sau: "Ở giữa biển lớn, có
vực thẳm". Nhưng ở đây, này
các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm
phu đối với việc không có,
không xẩy ra, lại nói: "Ở
giữa biển lớn, có vực thẳm".
4) Này các Tỷ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là
vực thẳm này.
5) Kẻ vô văn phàm phu, khi cảm giác khổ thọ về thân, thời
sầu muộn, than vãn, khóc
lóc, đấm ngực, đi đến bất
tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là kẻ vô văn phàm phu
không đứng lên trên vực
thẳm, không đạt tới chỗ chân
đứng.
6) Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác
khổ thọ về thân, không sầu
muộn, không than vãn, không
khóc lóc, không đấm ngực,
không đi đến bất tỉnh. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là bậc
Ða văn Thánh đệ tử đã đứng
lên trên vực thẳm, đã đạt
tới chỗ chân đứng.
1) Ai không chịu đựng nổi,
2) Ai có thể chịu đựng, -ooOoo- |