BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 08 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm Với Kệ Ngôn- SN. 35. 252. Bài 452. NỖI ĐAU TRẦM THỐNG - Kinh Vực Thẳm Không Đáy (Pātālasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-452.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngCho dù giữa đại dương mênh mông có những nơi sâu thẵm nhưng vẫn có đáy ở tận cùng. Thế nhưng khi Phật dạy về thân khổ thì nỗi khổ như vô tận không đáy. Cái khổ đó không thể vượt qua bằng sự kêu gào than khóc mà chỉ có thể kham nhẫn và quán chiếu bằng tuệ giác. Những ai đủ sáng suốt để nhận thức cái khổ khôn cùng của thân tứ đại sẽ khởi tâm cầu giác ngộ giải thoát vởi vì đó là con đường thoát khổ đích thực.

 KINH VĂN

252. “assutavā, bhikkhave, puthujjano yaṃ vācaṃ bhāsati — ‘atthi mahāsamudde pātālo’ti. taṃ kho panetaṃ, bhikkhave, assutavā puthujjano asantaṃ avijjamānaṃ evaṃ vācaṃ bhāsati — ‘atthi mahāsamudde pātālo’ti. sārīrikānaṃ kho etaṃ, bhikkhave, dukkhānaṃ vedanānaṃ adhivacanaṃ yadidaṃ ‘pātālo’ti. assutavā, bhikkhave, puthujjano sārīrikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘assutavā puthujjano pātāle na paccuṭṭhāsi, gādhañca nājjhagā’. sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako sārīrikāya dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno neva socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṃ kandati, na sammohaṃ āpajjati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘sutavā ariyasāvako pātāle paccuṭṭhāsi, gādhañca ajjhagā’”ti.

“yo etā nādhivāseti, uppannā vedanā dukhā.
sārīrikā pāṇaharā, yāhi phuṭṭho pavedhati.
“akkandati parodati, dubbalo appathāmako.
na so pātāle paccuṭṭhāsi, atho gādhampi nājjhagā.
“yo cetā adhivāseti, uppannā vedanā dukhā.
sārīrikā pāṇaharā, yāhi phuṭṭho na vedhati.
sa ve pātāle paccuṭṭhāsi, atho gādhampi ajjhagā”ti. catutthaṃ.“sukhaṃ vedayamānassa {vediyamānassa (sī. pī.)}, vedanaṃ appajānato.

so rāgānusayo hoti, anissaraṇadassino.
“dukkhaṃ vedayamānassa, vedanaṃ appajānato.
paṭighānusayo hoti, anissaraṇadassino.
“adukkhamasukhaṃ santaṃ, bhūripaññena desitaṃ.
tañcāpi abhinandati, neva dukkhā pamuccati.
“yato ca bhikkhu ātāpī, sampajaññaṃ na riñcati.
tato so vedanā sabbā, parijānāti paṇḍito.
“so vedanā pariññāya, diṭṭhe dhamme anāsavo.
kāyassa bhedā dhammaṭṭho, saṅkhyaṃ nopeti vedagū”ti. tatiyaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, khi một phàm phu thiếu học hiểu  tuyên bố rằng:
‘Trong đại dương có một vực thẳm không đáy,’ thì người ấy đã nói về một điều không hiện hữu và không thật có. Này các Tỳ khưu, thật ra, điều được gọi là ‘vực thẳm không đáy’ chính là cảm thọ thân khổ – cảm thọ đau đớn về thân thể.

Khi một phàm phu thiếu học hiểu tiếp xúc với cảm thọ thân khổ, người ấy sầu muộn, than khóc, kêu gào, đấm ngực và trở nên rối loạn. Đó gọi là người phàm phu chưa thoát khỏi vực thẳm không đáy, chưa có chỗ đứng vững.

Nhưng, này các Tỳ khưu, khi một vị đệ tử Thánh đã được hướng dẫn tiếp xúc với cảm thọ thân khổ, người ấy không sầu muộn, không than khóc, không đấm ngực, không trở nên rối loạn. Đó gọi là vị đệ tử Thánh đã vượt lên khỏi vực thẳm không đáy, đã đạt được chỗ đứng vững chãi.”

Ai không thể chịu đựng
Những cảm thọ thân khổ,
Cảm thọ tổn sinh mạng,
Tiếp xúc chúng run rẩy,
Kẻ yếu đuối thiếu sức,
Khóc than và kêu gào:
Chưa thoát vực không đáy,
Chưa đạt chỗ đứng vững

Ai có thể kham nhẫn
Những cảm thọ thân khổ
Cảm thọ tổn sinh mạng,
Tiếp xúc không run rẩy,
Vượt thoát vực không đáy,
Đến chỗ đứng vững vàng

Chú Thích

Từ “Pātālo” được chú thích như sau:“patassa alam pariyāto” – nghĩa là: “một mức độ đủ đầy của sự rơi xuống”. Tức là một nơi mà sự rơi xuống không có điểm dừng, tượng trưng cho vô tận, không đáy, không có gì có thể đỡ lại (chỗ không có chỗ dừng – na atthi ettha paṭiha, tức là "không có gì để chạm vào").

Từ “pātāla” ở đây được dùng ẩn dụ cho cảm thọ đau đớn nơi thân thể — trong tiếng Pāli là:“sārīrika dukkha vedanā - cảm thọ khổ về thân”

Như vậy, "vực thẳm không đáy" không phải là một địa điểm vật lý, mà là ẩn dụ cho nỗi khổ sâu sắc của thân, nơi mà người phàm không có chánh kiến sẽ bị chìm đắm, đau khổ, không thoát ra được.“Pātālo” không chỉ mang nghĩa vật lý, mà trong ngữ cảnh Phật giáo, nó biểu trưng cho chiều sâu không đáy của khổ thọ thân xác, nơi mà người không tu tập sẽ chìm vào than khóc và tuyệt vọng, còn bậc hành giả chánh niệm thì vượt qua được, đặt chân lên nền tảng an ổn của tuệ giác

.Sớ Giải

252. catutthe pātāloti pātassa alaṃ pariyatto, natthi ettha patiṭṭhāti pātālo. asantaṃ avijjamānanti asambhūtattaṃ apaññāyamānattaṃ. evaṃ vācaṃ bhāsatīti atthi mahāsamudde pātāloti evaṃ vācaṃ. so hi yaṃ taṃ balavāmukhaṃ mahāsamuddassa udakaṃ vegena pakkhanditvā cakkavāḷaṃ vā sineruṃ vā āhacca yojanadviyojanadasayojanappamāṇampi uggantvā puna mahāsamudde patati, yassa patitaṭṭhāne mahānarakapapāto viya hoti, yaṃ loke balavāmukhanti vuccati. taṃ sandhāya evaṃ vadati.

yasmā pana tattha tathārūpānaṃ macchakacchapadevadānavānaṃ patiṭṭhāpi hoti sukhanivāsopi, tasmā asantaṃ asaṃvijjamānaṃ taṃ taṃ vācaṃ bhāsati nāma. yasmā pana sabbaputhujjanā sārīrikāya dukkhavedanāya patiṭṭhātuṃ na sakkonti, tasmā pātassa alanti atthena ayameva pātāloti dassento sārīrikānaṃ kho etaṃ bhikkhavetiādimāha.

pātāle na paccuṭṭhāsīti pātālasmiṃ na patiṭṭhāsi. gādhanti patiṭṭhaṃ. akkandatīti anibaddhaṃ vippalāpaṃ vilapanto kandati. dubbaloti dubbalañāṇo. appathāmakoti ñāṇathāmassa parittatāya parittathāmako. imasmiṃ sutte ariyasāvakoti sotāpanno. sotāpanno hi ettha dhuraṃ, balavavipassako na tikkhabuddhi uppannaṃ vedanaṃ ananuvattitvā patiṭṭhātuṃ samattho yogāvacaropi vaṭṭati.

252. Trong bài kinh thứ tư:

"Pātālo" (vực thẳm không đáy):
 Là từ ghép: "pātassa alaṃ pariyatto", nghĩa là “một mức độ đủ đầy cho sự rơi xuống”;
 Vì "natthi ettha patiṭṭhā" – “không có nơi để bám víu”, nên được gọi là pātālo – vực thẳm không đáy.

"Asantaṃ avijjamānaṃ" Có nghĩa là không hiện hữu, không tồn tại – tức là nói về một điều không có thật.Từ đó dẫn đến câu: “Evaṃ vācaṃ bhāsati” – người ấy nói lời như thế này:
“Có một vực thẳm không đáy trong đại dương.”

Trong thực tế, người ấy đang nói về hiện tượng như sau:
Ở những cửa sông, vùng nước chảy mạnh, có những dòng xoáy lớn (balavāmukha) trong biển cả. Nước cuốn mạnh đến mức nó bắn tung lên, va vào vách núi Sineru hoặc chu vi dãy núi thế giới (Cakkavāḷa), rồi rơi trở lại vào biển.Chỗ nước rơi lại đó sâu thẳm như miệng đại địa ngục (mahā-naraka), nên người đời gọi đó là vực thẳm không đáy.

Người đời hiểu nhầm hiện tượng tự nhiên này là "vực thẳm không đáy thật sự". Nhưng thực ra, ngay tại đó, vẫn có thể có cá, rùa, chư thiên, long thần... cư trú thoải mái, an ổn.Nơi ấy không phải là không đáy, bởi vì có chúng sinh sống an vui tại đó. Do đó, nói rằng đại dương có vực thẳm không đáy là lời nói không đúng sự thật (asantaṃ, asaṃvijjamānaṃ).

Vì rằng tất cả phàm phu không thể đứng vững trước cảm thọ khổ về thân,
Cho nên Đức Phật mới dạy:"Chính cảm thọ thân khổ này là vực thẳm không đáy"Và Ngài giảng bài kinh bắt đầu bằng câu: “Sārīrikānaṃ kho etaṃ, bhikkhave…” – “Này các Tỳ khưu, cảm thọ thân khổ chính là…”

"Pātāle na paccuṭṭhāsi"
 Có nghĩa là: “Không trỗi dậy khỏi vực thẳm” – không có chỗ để đứng vững (patiṭṭhā).

"Gādha"
Là chỗ đặt chân, là nơi đứng vững vàng.

"Akkandati"
 Là kêu khóc loạn xạ, khóc than trong hoảng loạn.

"Dubballo"
 Là người yếu đuối về trí tuệ, không có khả năng quán sát.

"Appathāmako"
Là người có rất ít sức mạnh trí tuệ , tâm yếu ớt.

Ai là người đứng vững khỏi “vực thẳm không đáy”?

Trong bài kinh này, từ "ariyasāvako" (đệ tử Thánh) nên hiểu là bậc Dự Lưu (Sotāpanna). Vì bậc Dự Lưu là người đứng đầu trong hàng đệ tử, có thể vượt qua cảm thọ khổ nhờ tuệ tri đúng đắn.

Tuy nhiên, một hành giả mạnh mẽ, có tuệ quán sâu sắc (balava-vipassako),
Dù chưa chứng quả, nếu có trí tuệ bén nhọn (tikkhabuddhi) và không bị cảm thọ chi phối’ Thì cũng được xem như đã đứng vững trong cảm thọ, và không rơi vào vực thẳm.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

________________________________________ 

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

4. IV. Vực Thẳm (Pàtàla) (S.iv,206)

1-2) ...

3) -- Kẻ vô văn phàm phu nói như sau: "Ở giữa biển lớn, có vực thẳm". Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với việc không có, không xẩy ra, lại nói: "Ở giữa biển lớn, có vực thẳm".

4) Này các Tỷ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là vực thẳm này.

5) Kẻ vô văn phàm phu, khi cảm giác khổ thọ về thân, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu không đứng lên trên vực thẳm, không đạt tới chỗ chân đứng.

6) Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác khổ thọ về thân, không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng.

1) Ai không chịu đựng nổi,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc khiến run rẩy.
Ai than vãn, khóc lóc,
Suy nhược, thiếu kiên cường,
Không đứng trên vực sâu,
Không đạt chỗ chân đứng.

2) Ai có thể chịu đựng,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc không run rẩy,
Vị ấy vượt vực sâu,
Ðạt tới chỗ chân đứng.

-ooOoo-