|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 10 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH VĂN
253. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā
vedanā, dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā.
sukhā, bhikkhave, vedanā
dukkhato daṭṭhabbā, dukkhā
vedanā sallato daṭṭhabbā,
adukkhamasukhā vedanā
aniccato daṭṭhabbā. yato
kho, bhikkhave, bhikkhuno
sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā
hoti, dukkhā vedanā sallato
diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā
vedanā aniccato diṭṭhā hoti
— ayaṃ vuccati, bhikkhave,
‘bhikkhu sammaddaso
acchecchi taṇhaṃ, vivattayi
saṃyojanaṃ, sammā
mānābhisamayā antamakāsi
dukkhassā’”ti.
“yo sukhaṃ dukkhato adda, dukkhamaddakkhi sallato.
“Này chư Tỳ khưu, phàm nhân không học hiểu cảm
thọ lạc thọ, khổ thọ, và xả
thọ. Vị thánh đệ tử có học
hiểu cũng cảm thọ lạc thọ,
khổ thọ, và xả thọ. Vậy, này
các Tỳ khưu, thế nào là sự
khác biệt, sự phân biệt, sự
tách biệt giữa
phàm nhân không học
hiều và vị thánh đệ tử có
học hiểu?”
“Bạch Thế Tôn, giáo pháp khởi nguồn từ Đức Thế Tôn, được dẫn dắt bởi Đức
Thế Tôn, nương tựa nơi Ngài.
Mong Đức Thế Tôn từ bi giảng
giải ý nghĩa lời dạy này.
Sau khi nghe từ Ngài, chúng
con sẽ ghi nhớ.”
“Vậy thì hãy lắng nghe kỹ, này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng.”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu trả lời. Rồi Đức Thế Tôn dạy:
“Này các Tỳ khưu, khi một phàm nhân không học hiểu tiếp xúc với cảm thọ
khổ, người ấy buồn rầu, than
khóc, kêu gào, đấm ngực và
rối loạn. Người ấy cảm thọ
hai loại cảm thọ: một thuộc
thân và một thuộc tâm.
Ví như có người bị bắn một mũi tên, rồi bị bắn ngay sau đó một mũi tên thứ
hai, Người ấy sẽ cảm nhận
đau khổ từ hai mũi tên.Cũng
vậy, khi phàm phu tiếp xúc
với cảm thọ khổ,Người ấy cảm
thọ cả khổ thân và khổ tâm.
Khi tiếp xúc với cảm thọ khổ ấy, Người ấy sanh tâm sân hận đối với cảm thọ
đó.
Do tìm khoái lạc trong dục, khuynh hướng tham ái với lạc thọ phát
sinh.Người ấy không hiểu rõ
như thật về nguồn gốc, sự
hoại diệt, lạc thú, nguy
hiểm, và sự xuất ly trong
các cảm thọ này.
Khi người ấy cảm thọ lạc thọ, người ấy chấp thủ. Khi cảm thọ khổ thọ,
người ấy chấp thủ. Khi cảm
thọ xả thọ, người ấy cũng
chấp thủ. Đây, này các Tỳ
khưu, được gọi là phàm phu
bám chấp vào sinh, già,
chết; sầu, bi, khổ, ưu, não
– tức là bám chấp vào khổ,
Ta nói vậy.
Nhưng, này các Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu , khi tiếp xúc với cảm
thọ khổ, người ấy không buồn
rầu, không than khóc, không
đấm ngực, không rối loạn.
Người ấy
chỉ
cảm thọ khổ thân, không cảm
thọ khổ tâm.
Ví như có người bị bắn một mũi tên, nhưng không bị bắn mũi tên thứ hai,
Người ấy chỉ cảm thọ đau đớn
từ một mũi tên. Cũng vậy, vị
đệ tử Thánh khi tiếp xúc với
khổ thọ, chỉ
cảm thọ khổ thân,
không cảm thọ khổ tâm.
Khi tiếp xúc với cảm thọ khổ, người ấy không khởi tâm sân hận, Vì thế
không nuôi dưỡng sân tiềm
miên đối với khổ thọ. Người
ấy không tìm kiếm dục lạc để
thoát khổ, vì sao? Vì người
ấy biết có con đường thoát
khỏi khổ thọ khác ngoài dục
lạc. Do không tìm cầu dục
lạc, nên không nuôi dưỡng
tham tiềm miên với lạc thọ.
Người ấy thấu hiểu như thật
nguồn gốc, sự hoại diệt, lạc
thú, nguy hiểm và xuất ly
đối với các cảm thọ. Do hiểu
biết đúng như thật, không
nuôi dưỡng vô minh tiềm miên
đối với xả thọ.
Khi người ấy cảm thọ lạc thọ, người ấy không chấp thủ. Khi cảm thọ khổ
thọ, người ấy không chấp
thủ. Khi cảm thọ xả thọ,
người ấy cũng không chấp
thủ. Đây, này các Tỳ khưu,
được gọi là thánh đệ tử
không
bám chấp vào sinh,
già, chết; sầu, bi, khổ, ưu,
não – tức là không bám chấp
vào khổ, Ta nói vậy.
“Này các Tỳ khưu, đó là sự khác biệt, sự phân biệt, sự tách biệt giữa
phàm nhân không học
hiều và vị thánh đệ tử có
học hiểu.”
Bậc trí,
người học hiểu,
Bậc trí
thấy rõ Pháp,
Ưa, ghét
không
tồn tại,
Chú Thích
Theo Sớ giải, trong số các bậc
Thánh đệ tử (ariyasāvaka),
đoạn này chủ yếu nhấn mạnh
đến vị A-la-hán, mặc dù bậc
Bất Lai (Anāgāmī) cũng có
thể phù hợp. Cả hai bậc này
đều đã đoạn tận sân hận
(paṭigha hay dosa), do đó
không còn bị chi phối bởi ưu
não (domanassa), tức là cảm
thọ tâm khổ (cetasika dukkha
vedanā).
Tuy nhiên, bất kỳ ai còn mang thân xác, kể cả chư Phật toàn giác, đều vẫn
còn chịu cảm thọ khổ về thân
(kāyika dukkha vedanā).
Sớ Giải
254. chaṭṭhe tatrāti tesu dvīsu janesu. anuvedhaṃ
vijjheyyāti tasseva
vaṇamukhassa aṅgulantare vā
dvaṅgulantare vā
āsannapadese anugatavedhaṃ.
evaṃ viddhassa hi sā
anuvedhā vedanā
paṭhamavedanāya balavatarā
hoti, pacchā uppajjamānā
domanassavedanāpi evameva
purimavedanāya balavatarā
hoti. dukkhāya vedanāya
nissaraṇanti dukkhāya
vedanāya hi
samādhimaggaphalāni
nissaraṇaṃ, taṃ so na
jānāti, kāmasukhameva
nissaraṇanti jānāti. tāsaṃ
vedanānanti tāsaṃ
sukhadukkhavedanānaṃ.
saññutto naṃ vedayatīti
kilesehi sampayuttova hutvā
taṃ vedanaṃ vedayati, na
vippayutto. saññutto
dukkhasmāti karaṇatthe
nissakkaṃ, dukkhena
sampayuttoti attho.
saṅkhātadhammassāti
viditadhammassa
tulitadhammassa.
bahussutassāti
pariyattibahussutassa
paṭivedhabahussutassa ca.
sammā pajānāti bhavassa
pāragūti bhavassa pāraṃ
nibbānaṃ gato, tadeva
nibbānaṃ sammā pajānāti.
imasmimpi sutte
ārammaṇānusayova kathito.
ariyasāvakesu ca khīṇāsavo
ettha dhuraṃ, anāgāmīpi
vaṭṭatīti vadanti.
254. Sớ giải kinh thứ 6 – “Mũi Tên”
Trong kinh này, khuynh hướng bám chấp vào cảnh trần (ārammaṇānusaya) là
chủ đề chính được đề cập.
Trong các bậc Thánh đệ tử,
bậc A-la-hán (khīṇāsava) là
tiêu biểu cho người đạt trọn
vẹn, tuy nhiên bậc Bất Lai
(Anāgāmī) cũng có thể áp
dụng trong ý nghĩa này – như
chư vị luận sư đã nói.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác
lạc thọ, cảm thọ cảm giác
khổ thọ, cảm thọ cảm giác
bất khổ bất lạc thọ.
4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm
giác lạc thọ, cảm thọ cảm
giác khổ thọ, cảm thọ cảm
giác bất khổ bất lạc thọ.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là
thù thắng, thế nào là sai
biệt giữa bậc Ða văn Thánh
đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
6) -- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...
7) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ
thọ, sầu muộn, than vãn,
khóc lóc, đấm ngực, đi đến
bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai
cảm thọ, cảm thọ về thân và
cảm thọ về tâm.
8) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi
tên, rồi họ bắn người ấy với
mũi tên thứ hai. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, người ấy
cảm giác cảm thọ cả hai mũi
tên. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
khi cảm xúc khổ thọ; thời
sầu muộn, than vãn, khóc
lóc, đấm ngực, đi đến bất
tỉnh. Người ấy cảm giác hai
cảm thọ, cảm thọ về thân và
cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi
khổ thọ ấy, người ấy cảm
thấy sân hận (patigha). Do
cảm thấy sân hận đối với khổ
thọ ấy, sân tùy miên đối với
khổ thọ được tồn chỉ tùy
miên (anuseti). Cảm xúc bởi
khổ thọ, người ấy hoan hỷ
dục lạc. Vì sao? Vì rằng,
này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn
phàm phu không tìm thấy một
sự xuất ly khổ thọ nào khác,
ngoài dục lạc. Do hoan hỷ
dục lạc ấy, tham tùy miên
đối với lạc thọ tồn tại.
Người ấy không như thật rõ
biết sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm
và sự xuất ly của các cảm
thọ ấy. Do người ấy không
như thật rõ biết sự tập
khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt,
sự nguy hiểm và sự xuất ly
của các cảm thọ ấy, nên vô
minh tùy miên đối với bất
khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu
người ấy cảm thọ cảm giác
lạc thọ, người ấy cảm thọ
cảm giác như người bị trói
buộc (sannutto). Nếu người
ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ,
người ấy cảm thọ cảm giác
như người bị trói buộc. Nếu
người ấy cảm thọ cảm giác
bất khổ bất lạc thọ, người
ấy cảm thọ cảm giác như
người bị trói buộc. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô
văn phàm phu bị trói buộc
bởi sanh, già, chết, sầu,
bi, khổ, ưu, não. Ta nói
rằng người ấy bị trói buộc
bởi đau khổ.
9) Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc
khổ thọ thời không có sầu
muộn, không có than vãn,
không có khóc lóc, không có
đấm ngực, không có đi đến
bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ
cảm giác một cảm thọ, tức là
cảm thọ về thân, không phải
cảm thọ về tâm.
10) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một
mũi tên. Họ không bắn tiếp
người ấy với mũi tên thứ
hai. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, người ấy cảm giác
cảm thọ của một mũi tên.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
bậc Ða văn Thánh đệ tử khi
cảm xúc khổ thọ; vị ấy không
sầu muộn, không than vãn,
không khóc lóc, không đấm
ngực, không đi đến bất tỉnh.
Vị ấy cảm giác chỉ một cảm
thọ, cảm thọ về thân, không
phải cảm thọ về tâm. Vị ấy
không cảm thấy sân hận đối
với khổ thọ ấy. Do không cảm
thấy sân hận đối với khổ thọ
ấy, sân tùy miên đối với khổ
thọ không có tồn tại. Cảm
xúc bởi khổ thọ, vị ấy không
hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì
bậc Ða văn Thánh đệ tử có
tuệ tri một sự xuất ly khác
đối với khổ thọ, ngoài dục
lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ
dục lạc, tham tùy miên đối
với dục lạc không có tồn
tại. Vị ấy như thật tuệ tri
sự tập khởi, sự đoạn diệt,
vị ngọt, sự nguy hiểm và sự
xuất ly của những cảm thọ
ấy. Vì rằng, vị ấy như thật
tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm
và sự xuất ly của các cảm
thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như
thật tuệ tri sự tập khởi, sự
đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của các
cảm thọ ấy, đối với bất khổ
bất lạc thọ, vô minh tùy
miên không có tồn tại. Nếu
vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy
cảm thọ lạc thọ như người
không bị trói buộc. Nếu vị
ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ,
vị ấy cảm thọ cảm giác như
người không bị trói buộc.
Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác
bất khổ bất lạc thọ, vị ấy
cảm thọ cảm giác như người
không bị trói buộc. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo
không bị trói buộc bởi sanh,
già, chết, sầu, bi, khổ, ưu,
ão. Ta nói rằng vị ấy không
bị trói buộc bởi đau khổ.
11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là thù thắng,
đây là sự sai biệt giữa bậc
Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô
văn phàm phu.
1) Bậc Trí tuệ Ða văn,
2) Bậc Ða văn, Tầm pháp,
3) Tùy thuận hay đối nghịch,
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
5. V. Cần Phải Quán Kiến (S.iv,207)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất
lạc thọ. Lạc thọ, này các
Tỷ-kheo, cần phải thấy là
khổ. Khổ thọ cần phải thấy
là mũi tên. Bất khổ bất lạc
thọ cần phải thấy là vô
thường.
4) Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy được lạc thọ là
khổ, thấy được khổ thọ là
mũi tên, thấy được bất khổ
bất lạc thọ là vô thường;
thời này các Tỷ-kheo, đây
gọi là Tỷ-kheo có chánh
kiến, ái được đoạn tận, kiết
sử được hủy hoại. Với minh
kiến chơn chánh đối với ngã
mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
1) Ai thấy lạc là khổ,
2) Vị ấy liễu tri thọ, -ooOoo- |