BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 10 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm Với Kệ Ngôn- SN. 35. 254. Bài 454. HOẠ VÔ ĐƠN CHÍ - Kinh Mũi Tên (Sallasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-454.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngPhần lớn những đau khổ đến từ hai thứ: một là cái khổ tự nhiên, hai là phản ứng nông nổi để khổ càng thêm khổ. Rất ít người trong đời có thái độ phản ứng trước những trái ý nghịch lòng đủ sáng suốt để không tạo thêm tâm lý phiền não. Phải hiểu, và hiểu rất rõ, về bản chất tác động phiền não của cả ba thứ lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ mới có thể đối cảnh mà không “thêm dầu vào lửa”.

 KINH VĂN

253. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. sukhā, bhikkhave, vedanā dukkhato daṭṭhabbā, dukkhā vedanā sallato daṭṭhabbā, adukkhamasukhā vedanā aniccato daṭṭhabbā. yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā hoti, dukkhā vedanā sallato diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā vedanā aniccato diṭṭhā hoti — ayaṃ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu sammaddaso acchecchi taṇhaṃ, vivattayi saṃyojanaṃ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’”ti.

“yo sukhaṃ dukkhato adda, dukkhamaddakkhi sallato.
adukkhamasukhaṃ santaṃ, addakkhi naṃ aniccato.
“sa ve sammaddaso bhikkhu, parijānāti vedanā.
so vedanā pariññāya, diṭṭhe dhamme anāsavo.
kāyassa bhedā dhammaṭṭho, saṅkhyaṃ nopeti vedagū”ti. pañcamaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, phàm nhân không học hiểu cảm thọ lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ. Vị thánh đệ tử có học hiểu cũng cảm thọ lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ. Vậy, này các Tỳ khưu, thế nào là sự khác biệt, sự phân biệt, sự tách biệt giữa  phàm nhân không học hiều và vị thánh đệ tử có học hiểu?”

“Bạch Thế Tôn, giáo pháp khởi nguồn từ Đức Thế Tôn, được dẫn dắt bởi Đức Thế Tôn, nương tựa nơi Ngài. Mong Đức Thế Tôn từ bi giảng giải ý nghĩa lời dạy này. Sau khi nghe từ Ngài, chúng con sẽ ghi nhớ.”

“Vậy thì hãy lắng nghe kỹ, này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu trả lời. Rồi Đức Thế Tôn dạy:

“Này các Tỳ khưu, khi một phàm nhân không học hiểu tiếp xúc với cảm thọ khổ, người ấy buồn rầu, than khóc, kêu gào, đấm ngực và rối loạn. Người ấy cảm thọ hai loại cảm thọ: một thuộc thân và một thuộc tâm.

Ví như có người bị bắn một mũi tên, rồi bị bắn ngay sau đó một mũi tên thứ hai, Người ấy sẽ cảm nhận đau khổ từ hai mũi tên.Cũng vậy, khi phàm phu tiếp xúc với cảm thọ khổ,Người ấy cảm thọ cả khổ thân và khổ tâm.

Khi tiếp xúc với cảm thọ khổ ấy, Người ấy sanh tâm sân hận đối với cảm thọ đó.
Và từ đó, sân tuỳ miên đối với khổ thọ được nuôi dưỡng. Người ấy lại tìm kiếm khoái lạc dục lạc để thoát khổ. Tại sao? Vì người phàm phu không biết có con đường thoát khỏi khổ nào khác ngoài dục lạc.

Do tìm khoái lạc trong dục, khuynh hướng tham ái với lạc thọ phát sinh.Người ấy không hiểu rõ như thật về nguồn gốc, sự hoại diệt, lạc thú, nguy hiểm, và sự xuất ly trong các cảm thọ này.
Vì không hiểu, nên vô minh tuỳ miên với xả thọ cũng phát sinh.

Khi người ấy cảm thọ lạc thọ, người ấy chấp thủ. Khi cảm thọ khổ thọ, người ấy chấp thủ. Khi cảm thọ xả thọ, người ấy cũng chấp thủ. Đây, này các Tỳ khưu, được gọi là phàm phu bám chấp vào sinh, già, chết; sầu, bi, khổ, ưu, não – tức là bám chấp vào khổ, Ta nói vậy.

Nhưng, này các Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu , khi tiếp xúc với cảm thọ khổ, người ấy không buồn rầu, không than khóc, không đấm ngực, không rối loạn. Người ấy chỉ cảm thọ khổ thân, không cảm thọ khổ tâm.

Ví như có người bị bắn một mũi tên, nhưng không bị bắn mũi tên thứ hai, Người ấy chỉ cảm thọ đau đớn từ một mũi tên. Cũng vậy, vị đệ tử Thánh khi tiếp xúc với khổ thọ, chỉ  cảm thọ khổ thân, không cảm thọ khổ tâm.

Khi tiếp xúc với cảm thọ khổ, người ấy không khởi tâm sân hận, Vì thế không nuôi dưỡng sân tiềm miên đối với khổ thọ. Người ấy không tìm kiếm dục lạc để thoát khổ, vì sao? Vì người ấy biết có con đường thoát khỏi khổ thọ khác ngoài dục lạc. Do không tìm cầu dục lạc, nên không nuôi dưỡng tham tiềm miên với lạc thọ. Người ấy thấu hiểu như thật nguồn gốc, sự hoại diệt, lạc thú, nguy hiểm và xuất ly đối với các cảm thọ. Do hiểu biết đúng như thật, không nuôi dưỡng vô minh tiềm miên đối với xả thọ.

Khi người ấy cảm thọ lạc thọ, người ấy không chấp thủ. Khi cảm thọ khổ thọ, người ấy không chấp thủ. Khi cảm thọ xả thọ, người ấy cũng không chấp thủ. Đây, này các Tỳ khưu, được gọi là thánh đệ tử không  bám chấp vào sinh, già, chết; sầu, bi, khổ, ưu, não – tức là không bám chấp vào khổ, Ta nói vậy.

“Này các Tỳ khưu, đó là sự khác biệt, sự phân biệt, sự tách biệt giữa  phàm nhân không học hiều và vị thánh đệ tử có học hiểu.”

Bậc trí, người học hiểu,
không chấp thủ khổ lạc
Đó là  khác biệt lớn
Giữa trí giả, phàm phu.

Bậc trí thấy rõ Pháp,
Đời nầy và đời sau,
Không tham điều khả ái
Không sân điều nghịch ý

Ưa, ghét không  tồn tại,
Cả hai đều tịch nhiên
Bậc vô nhiễm, vô phiền
Bậc chánh trí giải thoát

Chú Thích

Theo Sớ giải,  trong số các bậc Thánh đệ tử (ariyasāvaka), đoạn này chủ yếu nhấn mạnh đến vị A-la-hán, mặc dù bậc Bất Lai (Anāgāmī) cũng có thể phù hợp. Cả hai bậc này đều đã đoạn tận sân hận (paṭigha hay dosa), do đó không còn bị chi phối bởi ưu não (domanassa), tức là cảm thọ tâm khổ (cetasika dukkha vedanā).

Tuy nhiên, bất kỳ ai còn mang thân xác, kể cả chư Phật toàn giác, đều vẫn còn chịu cảm thọ khổ về thân (kāyika dukkha vedanā).

Sớ Giải

254. chaṭṭhe tatrāti tesu dvīsu janesu. anuvedhaṃ vijjheyyāti tasseva vaṇamukhassa aṅgulantare vā dvaṅgulantare vā āsannapadese anugatavedhaṃ. evaṃ viddhassa hi sā anuvedhā vedanā paṭhamavedanāya balavatarā hoti, pacchā uppajjamānā domanassavedanāpi evameva purimavedanāya balavatarā hoti. dukkhāya vedanāya nissaraṇanti dukkhāya vedanāya hi samādhimaggaphalāni nissaraṇaṃ, taṃ so na jānāti, kāmasukhameva nissaraṇanti jānāti. tāsaṃ vedanānanti tāsaṃ sukhadukkhavedanānaṃ. saññutto naṃ vedayatīti kilesehi sampayuttova hutvā taṃ vedanaṃ vedayati, na vippayutto. saññutto dukkhasmāti karaṇatthe nissakkaṃ, dukkhena sampayuttoti attho. saṅkhātadhammassāti viditadhammassa tulitadhammassa. bahussutassāti pariyattibahussutassa paṭivedhabahussutassa ca. sammā pajānāti bhavassa pāragūti bhavassa pāraṃ nibbānaṃ gato, tadeva nibbānaṃ sammā pajānāti. imasmimpi sutte ārammaṇānusayova kathito. ariyasāvakesu ca khīṇāsavo ettha dhuraṃ, anāgāmīpi vaṭṭatīti vadanti.

254. Sớ giải kinh thứ 6 – “Mũi Tên”

  • Tatrāti – “Ở đây” có nghĩa là trong hai hạng người ấy (tức là phàm phu và bậc Thánh đệ tử).
  • Anuvedhaṃ vijjheyyāti – có nghĩa là một mũi tên thứ hai đâm tiếp theo, ví dụ như trúng gần vết thương cũ, cách đó khoảng một ngón tay hoặc hai ngón tay.
  • Quả thực, cảm thọ phát sinh từ mũi tên thứ hai thường mạnh hơn cảm thọ của mũi tên thứ nhất, cũng vậy, domanassa vedanā (cảm thọ u sầu, đau khổ trong tâm) phát sinh sau thân khổ, nhưng lại mạnh hơn cảm thọ thân ban đầu.
  • Dukkhāya vedanāya nissaraṇanti – nghĩa là đối với cảm thọ khổ, thiền định, đạo, và quả là con đường thoát ly. Nhưng phàm phu không biết điều này, lại cho rằng dục lạc là phương tiện thoát khổ.
  • Tāsaṃ vedanānaṃ – nghĩa là những cảm thọ ấy, tức là lạc và khổ thọ.
  • Saññutto naṃ vedayatīti – nghĩa là cảm thọ ấy được cảm nhận trong trạng thái bị chi phối bởi phiền não (kilesa), chứ không phải cảm thọ rời khỏi phiền não.
  • Saññutto dukkhasmāti – nghĩa là “gắn liền với khổ”, ở đây “dukhasmā” là theo nghĩa công cụ – nghĩa là do duyên với khổ, tức bị kết hợp với đau khổ.
  • Saṅkhātadhammassāti – nghĩa là người đã biết rõ, đã cân nhắc kỹ các pháp.
  • Bahussutassāti – nghĩa là: người đa văn, bao gồm cả kiến văn quảng bác theo pháp học (pariyatti) lẫn trực chứng tuệ tri (paṭivedha).
  • Sammā pajānāti bhavassa pāragūti – nghĩa là người đã đi đến bờ kia của hữu (bhava) tức đạt được Niết-bàn, hiểu rõ Niết-bàn một cách đúng đắn.

Trong kinh này, khuynh hướng bám chấp vào cảnh trần (ārammaṇānusaya) là chủ đề chính được đề cập. Trong các bậc Thánh đệ tử, bậc A-la-hán (khīṇāsava) là tiêu biểu cho người đạt trọn vẹn, tuy nhiên bậc Bất Lai (Anāgāmī) cũng có thể áp dụng trong ý nghĩa này – như chư vị luận sư đã nói.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

_____________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.

4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.

5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?

6) -- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...

7) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.

8) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, nên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.

9) Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.

10) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ của một mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy. Do không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì bậc Ða văn Thánh đệ tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ, ngoài dục lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ dục lạc, tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, đối với bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên không có tồn tại. Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ lạc thọ như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ão. Ta nói rằng vị ấy không bị trói buộc bởi đau khổ.

11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là thù thắng, đây là sự sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu.

1) Bậc Trí tuệ Ða văn,
Lạc khổ không chi phối,
Giữa kẻ trí, phàm phu,
Thiện sai biệt rất lớn.

2) Bậc Ða văn, Tầm pháp,
Thấy đời này, đời sau,
Ái pháp không phá tâm,
Không ái, không sân hận.

3) Tùy thuận hay đối nghịch,
Tiêu tán, diệt, không còn,
Vị ấy biết con đường,
Ðường không cấu, không sầu,
Chánh trí, đoạn tái sanh,
Ðến được bờ giác ngộ.

 

 __________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

5. V. Cần Phải Quán Kiến (S.iv,207)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỷ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.

4) Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.

1) Ai thấy lạc là khổ,
Thấy khổ là mũi tên,
Với bất khổ bất lạc,
Thấy thọ là vô thường,
Tỷ-kheo ấy chánh kiến,
Liễu tri các cảm thọ.

2) Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Mạng chung, bậc Pháp trú,
Ðại trí vượt ước lường.

-ooOoo-