|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 12 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH
VĂN
Kinh Bệnh Xá I
255. ekaṃ samayaṃ bhagavā
vesāliyaṃ viharati mahāvane
kūṭāgārasālāyaṃ. atha kho
bhagavā sāyanhasamayaṃ
paṭisallānā vuṭṭhito yena
gilānasālā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā paññatte āsane
nisīdi. nisajja kho bhagavā
bhikkhū āmantesi —
“sato, bhikkhave, bhikkhu
sampajāno kālaṃ āgameyya.
ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanī.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhu sato hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhu kāye
kāyānupassī viharati ātāpī
sampajāno satimā, vineyya
loke abhijjhādomanassaṃ;
vedanāsu vedanānupassī
viharati ... pe ... citte
cittānupassī viharati ... pe
... dhammesu dhammānupassī
viharati ātāpī sampajāno
satimā, vineyya loke
abhijjhādomanassaṃ. evaṃ
kho, bhikkhave, bhikkhu sato
hoti.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhu sampajāno hoti?
idha, bhikkhave, bhikkhu
abhikkante paṭikkante
sampajānakārī hoti, ālokite
vilokite sampajānakārī hoti,
samiñjite pasārite
sampajānakārī hoti,
saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe
sampajānakārī hoti, asite
pīte khāyite sāyite
sampajānakārī hoti,
uccārapassāvakamme
sampajānakārī hoti, gate
ṭhite nisinne sutte jāgarite
bhāsite tuṇhībhāve
sampajānakārī hoti. evaṃ
kho, bhikkhave, bhikkhu
sampajānakārī hoti. sato,
bhikkhave, bhikkhu sampajāno
kālaṃ āgameyya. ayaṃ vo
amhākaṃ anusāsanī.
“tassa ce, bhikkhave,
bhikkhuno evaṃ satassa
sampajānassa appamattassa
ātāpino pahitattassa
viharato uppajjati sukhā
vedanā, so evaṃ pajānāti —
‘uppannā kho myāyaṃ sukhā
vedanā. sā ca kho paṭicca,
no appaṭicca. kiṃ paṭicca?
imameva kāyaṃ paṭicca. ayaṃ
kho pana kāyo anicco
saṅkhato paṭiccasamuppanno.
aniccaṃ kho pana saṅkhataṃ
paṭiccasamuppannaṃ kāyaṃ
paṭicca uppannā sukhā vedanā
kuto niccā bhavissatī’ti! so
kāye ca sukhāya ca vedanāya
aniccānupassī viharati,
vayānupassī viharati,
virāgānupassī viharati,
nirodhānupassī viharati,
paṭinissaggānupassī
viharati. tassa kāye ca
sukhāya ca vedanāya
aniccānupassino viharato,
vayānupassino viharato,
virāgānupassino viharato,
nirodhānupassino viharato,
paṭinissaggānupassino
viharato, yo kāye ca sukhāya
ca vedanāya rāgānusayo, so
pahīyati.
“tassa ce, bhikkhave,
bhikkhuno evaṃ satassa
sampajānassa appamattassa
ātāpino pahitattassa
viharato uppajjati dukkhā
vedanā. so evaṃ pajānāti —
‘uppannā kho myāyaṃ dukkhā
vedanā. sā ca kho paṭicca,
no appaṭicca. kiṃ paṭicca?
imameva kāyaṃ paṭicca. ayaṃ
kho pana kāyo anicco
saṅkhato paṭiccasamuppanno.
aniccaṃ kho pana saṅkhataṃ
paṭiccasamuppannaṃ kāyaṃ
paṭicca uppannā dukkhā
vedanā kuto niccā
bhavissatī’ti! so kāye ca
dukkhāya vedanāya
aniccānupassī viharati,
vayānupassī viharati,
virāgānupassī viharati,
nirodhānupassī viharati,
paṭinissaggānupassī
viharati. tassa kāye ca
dukkhāya ca vedanāya
aniccānupassino viharato ...
pe ... paṭinissaggānupassino
viharato, yo kāye ca
dukkhāya ca vedanāya
paṭighānusayo, so pahīyati.
“tassa ce, bhikkhave,
bhikkhuno evaṃ satassa
sampajānassa appamattassa
ātāpino pahitattassa
viharato uppajjati
adukkhamasukhā vedanā, so
evaṃ pajānāti — ‘uppannā kho
myāyaṃ adukkhamasukhā
vedanā. sā ca kho paṭicca,
no appaṭicca. kiṃ paṭicca?
imameva kāyaṃ paṭicca. ayaṃ
kho pana kāyo anicco
saṅkhato paṭiccasamuppanno.
aniccaṃ kho pana saṅkhataṃ
paṭiccasamuppannaṃ kāyaṃ
paṭicca uppannā
adukkhamasukhā vedanā kuto
niccā bhavissatī’ti! so kāye
ca adukkhamasukhāya ca
vedanāya aniccānupassī
viharati, vayānupassī
viharati, virāgānupassī
viharati, nirodhānupassī
viharati,
paṭinissaggānupassī
viharati. tassa kāye ca
adukkhamasukhāya ca vedanāya
aniccānupassino viharato ...
pe ... paṭinissaggānupassino
viharato, yo kāye ca
adukkhamasukhāya ca vedanāya
avijjānusayo, so pahīyati.
“so sukhañce vedanaṃ
vedayati, sā aniccāti
pajānāti, anajjhositāti
pajānāti, anabhinanditāti
pajānāti; dukkhañce vedanaṃ
vedayati, sā aniccāti
pajānāti, anajjhositāti
pajānāti, anabhinanditāti
pajānāti; adukkhamasukhañce
vedanaṃ vedayati, sā
aniccāti pajānāti,
anajjhositāti pajānāti,
anabhinanditāti pajānāti. so
sukhañce vedanaṃ vedayati,
visaññutto naṃ vedayati;
dukkhañce vedanaṃ vedayati,
visaññutto naṃ vedayati;
adukkhamasukhañce vedanaṃ
vedayati, visaññutto naṃ
vedayati. so
kāyapariyantikaṃ vedanaṃ
vedayamāno ‘kāyapariyantikaṃ
vedanaṃ vedayāmī’ti
pajānāti, jīvitapariyantikaṃ
vedanaṃ vedayamāno
‘jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ
vedayāmī’ti pajānāti.
‘kāyassa bhedā uddhaṃ
jīvitapariyādānā idheva
sabbavedayitāni
anabhinanditāni
sītībhavissantī’ti
{sītibhavissantīti (sī. pī.
ka.)} pajānāti.
“seyyathāpi, bhikkhave,
telañca paṭicca vaṭṭiñca
paṭicca telappadīpo
jhāyeyya, tasseva telassa ca
vaṭṭiyā ca pariyādānā
anāhāro nibbāyeyya; evameva
kho, bhikkhave, bhikkhu
kāyapariyantikaṃ vedanaṃ
vedayamāno ‘kāyapariyantikaṃ
vedanaṃ vedayāmī’ti
pajānāti. jīvitapariyantikaṃ
vedanaṃ vedayamāno
‘jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ
vedayāmī’ti pajānāti.
‘kāyassa bhedā uddhaṃ
jīvitapariyādānā idheva
sabbavedayitāni
anabhinanditāni
sītībhavissantī’ti
pajānātī”ti. sattamaṃ.
Kinh Bệnh Xá I
1. Một thời, Thế Tôn ngự tại
Vesālī, trong Đại Lâm, tại
Lầu Có Mái Nhọn. Lúc ấy, vào
buổi chiều, Ngài rời khỏi
chỗ tịnh cư, đi đến bệnh xá
của tu viện. Ngài ngồi xuống
chỗ đã được chuẩn bị sẵn và
nói với chư Tỳ khưu như sau:
2. “Này chư Tỳ khưu, một Tỳ
khưu nên trãi qua thời khắc
lâm chung của mình với chánh
niệm và tỉnh giác. Đây là
lời giáo huấn của Ta gửi đến
các Thầy.
3. “Và này chư Tỳ khưu, thế
nào là một Tỳ khưu có chánh
niệm? Ở đây, này chư Tỳ
khưu, một Tỳ khưu sống quán
thân trên thân, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, đã từ
bỏ tham ái và sân hận đối
với thế gian. Vị ấy sống
quán thọ trên thọ... tâm
trên tâm... pháp trên pháp,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, đã từ bỏ tham ái và
sân hận đối với thế gian.
Chính như vậy là một Tỳ khưu
có chánh niệm.
4. “Và này chư Tỳ khưu, thế
nào là một Tỳ khưu hành xử
với tỉnh giác? Ở đây, này
chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu
hành xử với tỉnh giác khi đi
tới và đi lui, khi nhìn
thẳng và nhìn quanh, khi co
duỗi tay chân, khi đắp y,
mang y và bát, khi ăn, uống,
nhai và nếm, khi đại tiểu
tiện, khi đi, đứng, ngồi,
nằm ngủ, thức dậy, nói
chuyện và giữ im lặng. Chính
như vậy là một Tỳ khưu hành
xử với tỉnh giác.
5. “Một Tỳ khưu nên trãi qua
thời khắc lâm chung của mình
với chánh niệm và tỉnh giác.
Đây là lời giáo huấn của Ta
gửi đến các Thầy.
6. “Này chư Tỳ khưu, trong
khi một Tỳ khưu sống như vậy
— chánh niệm và tỉnh giác,
tinh cần, nhiệt tâm, kiên
định — nếu có lạc thọ khởi
lên nơi vị ấy, vị ấy hiểu
rằng: ‘Một lạc thọ đã khởi
lên nơi ta. Thọ ấy là pháp y
duyên, không tự tồn tại. Nó
y cứ vào đâu? Y cứ vào chính
thân này. Nhưng thân này là
vô thường, hữu vi, y duyên
mà sanh. Vậy thì, khi lạc
thọ khởi lên y cứ nơi một
thân vô thường, hữu vi, y
duyên mà sanh, thì làm sao
thọ ấy có thể thường hằng?’
Vị ấy sống quán vô thường
trong thân và trong lạc thọ;
vị ấy sống quán hoại diệt,
phai tàn, đoạn diệt, từ bỏ.
Trong khi sống như vậy, tham
tùy miên đối với thân và đối
với lạc thọ được đoạn trừ
nơi vị ấy.
7. “Này chư Tỳ khưu, trong
khi một Tỳ khưu sống như vậy
— chánh niệm và tỉnh giác,
tinh cần, nhiệt tâm, kiên
định — nếu có khổ thọ khởi
lên nơi vị ấy, vị ấy hiểu
rằng: ‘Một khổ thọ đã khởi
lên nơi ta. Thọ ấy là pháp y
duyên, không tự tồn tại. Nó
y cứ vào đâu? Y cứ vào chính
thân này. Nhưng thân này là
vô thường, hữu vi, y duyên
mà sanh. Vậy thì, khi khổ
thọ khởi lên y cứ nơi một
thân vô thường, hữu vi, y
duyên mà sanh, thì làm sao
thọ ấy có thể thường hằng?’
Vị ấy sống quán vô thường
trong thân và trong lạc thọ;
vị ấy sống quán hoại diệt,
phai tàn, đoạn diệt, từ bỏ.
Trong khi sống như vậy, sân
tùy miên đối với thân và đối
với khổ thọ được đoạn trừ
nơi vị ấy.
“Cũng vậy, nếu một thọ không
khổ không lạc khởi lên, vị
ấy hiểu rằng: ‘Một thọ không
khổ không lạc đã khởi lên
nơi ta..Thọ ấy là pháp y
duyên, không tự tồn tại. Nó
y cứ vào đâu? Y cứ vào chính
thân này. Nhưng thân này là
vô thường, hữu vi, y duyên
mà sanh. Vậy thì, khi cảm
thọ không khổ không lạc khởi
lên y cứ nơi một thân vô
thường, hữu vi, y duyên mà
sanh, thì làm sao thọ ấy có
thể thường hằng?’ Vị ấy sống
quán vô thường trong thân và
trong lạc thọ; vị ấy sống
quán hoại diệt, phai tàn,
đoạn diệt, từ bỏ. Trong khi
sống như vậy, vô minh tùy
miên đối với thân và đối với
cảm thọ không khổ không lạc
được đoạn trừ nơi vị
ấy.
9. “Nếu vị ấy cảm thọ lạc
thọ, vị ấy hiểu: ‘Nó là vô
thường’; hiểu: ‘Không đáng
chấp thủ’; hiểu: ‘Không đáng
hoan hỷ.’ Nếu vị ấy cảm thọ
khổ thọ… hoặc thọ không khổ
không lạc… cũng hiểu như
vậy.
10. “Nếu vị ấy cảm thọ lạc
thọ, vị ấy cảm thọ với tâm
xả ly; nếu là khổ thọ, vị ấy
cảm thọ với tâm xả ly; nếu
là thọ không khổ không lạc,
vị ấy cũng cảm thọ với tâm
xả ly.
11. “Khi cảm thọ chấm dứt
cùng thân, vị ấy hiểu: ‘Ta
cảm thọ chấm dứt cùng với
thân.’ Khi cảm thọ chấm dứt
cùng mạng sống, vị ấy hiểu:
‘Ta cảm thọ chấm dứt cùng
với mạng sống.’ Vị ấy hiểu:
‘Khi thân tan hoại, mạng
sống tận, tất cả những gì
được cảm thọ — nếu không bị
hoan hỷ — sẽ trở nên mát mẻ,
tịch tịnh ngay tại đây.’
12. “Cũng như, này chư Tỳ
khưu, một ngọn đèn dầu cháy
nhờ vào dầu và bấc; khi dầu
và bấc cạn, nó tắt do không
còn nhiên liệu. Cũng vậy,
khi một Tỳ khưu cảm thọ chấm
dứt cùng thân… chấm dứt cùng
mạng sống… vị ấy hiểu: ‘Với
sự hoại diệt của thân, theo
sau sự tận cùng của mạng
sống, tất cả cảm thọ — không
bị hoan hỷ — sẽ trở nên mát
mẻ, tịch tịnh ngay tại
đây.’”
Kinh Bệnh Xá II
256. ekaṃ samayaṃ bhagavā
vesāliyaṃ viharati mahāvane
kūṭāgārasālāyaṃ. atha kho
bhagavā sāyanhasamayaṃ
paṭisallānā vuṭṭhito yena
gilānasālā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā paññatte āsane
nisīdi. nisajja kho bhagavā
bhikkhū āmantesi —
“sato, bhikkhave, bhikkhu
sampajāno kālaṃ āgameyya.
ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanī.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhu sato hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhu kāye
kāyānupassī viharati ātāpī
sampajāno satimā, vineyya
loke abhijjhādomanassaṃ;
vedanāsu vedanānupassī
viharati... citte
cittānupassī viharati...
dhammesu dhammānupassī
viharati ātāpī sampajāno
satimā, vineyya loke
abhijjhādomanassaṃ. evaṃ
kho, bhikkhave, bhikkhu sato
hoti.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhu sampajāno hoti?
idha, bhikkhave, bhikkhu
abhikkante paṭikkante
sampajānakārī hoti ... pe
... bhāsite tuṇhībhāve
sampajānakārī hoti. evaṃ
kho, bhikkhave, bhikkhu
sampajāno hoti. sato,
bhikkhave, bhikkhu sampajāno
kālaṃ āgameyya. ayaṃ vo
amhākaṃ anusāsanī.
“tassa ce, bhikkhave,
bhikkhuno evaṃ satassa
sampajānassa appamattassa
ātāpino pahitattassa
viharato uppajjati sukhā
vedanā. so evaṃ pajānāti —
‘uppannā kho myāyaṃ sukhā
vedanā; sā ca kho paṭicca,
no appaṭicca. kiṃ paṭicca?
imameva phassaṃ paṭicca.
ayaṃ kho pana phasso anicco
saṅkhato paṭiccasamuppanno.
aniccaṃ kho pana saṅkhataṃ
paṭiccasamuppannaṃ phassaṃ
paṭicca uppannā sukhā vedanā
kuto niccā bhavissatī’ti! so
phasse ca sukhāya ca
vedanāya aniccānupassī
viharati, vayānupassī
viharati, virāgānupassī
viharati, nirodhānupassī
viharati,
paṭinissaggānupassī
viharati. tassa phasse ca
sukhāya ca vedanāya
aniccānupassino viharato,
vayānupassino viharato,
virāgānupassino viharato,
nirodhānupassino viharato,
paṭinissaggānupassino
viharato yo phasse ca
sukhāya ca vedanāya
rāgānusayo, so pahīyati.
“tassa ce, bhikkhave,
bhikkhuno evaṃ satassa ...
pe ... viharato uppajjati
dukkhā vedanā ... pe ...
uppajjati adukkhamasukhā
vedanā. so evaṃ pajānāti —
‘uppannā kho myāyaṃ
adukkhamasukhā vedanā; sā ca
kho paṭicca, no appaṭicca.
kiṃ paṭicca? imameva phassaṃ
paṭicca ... pe ... kāyassa
bhedā uddhaṃ
jīvitapariyādānā idheva
sabbavedayitāni
anabhinanditāni
sītībhavissantī’ti
pajānāti”.
“seyyathāpi, bhikkhave,
telañca paṭicca vaṭṭiñca
paṭicca telappadīpo
jhāyeyya, tasseva telassa ca
vaṭṭiyā ca pariyādānā
anāhāro nibbāyeyya; evameva
kho, bhikkhave, bhikkhu
kāyapariyantikaṃ vedanaṃ
vedayamāno ‘kāyapariyantikaṃ
vedanaṃ vedayāmī’ti
pajānāti. jīvitapariyantikaṃ
vedanaṃ vedayamāno
‘jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ
vedayāmī’ti pajānāti.
‘kāyassa bhedā uddhaṃ
jīvitapariyādānā idheva
sabbavedayitāni
anabhinanditāni
sītībhavissantī’ti
pajānātī”ti. aṭṭhamaṃ.
1–2. (Giống như phần đầu
bài kinh trước)
3. “Này chư Tỳ khưu, nếu khi
một Tỳ khưu sống như vậy, và
một lạc thọ khởi lên nơi vị
ấy, vị ấy hiểu rằng: ‘Một
lạc thọ đã khởi lên nơi ta.
Thọ ấy là pháp y duyên,
không tự tồn tại. Y cứ vào
đâu? Vào chính xúc này.
Nhưng xúc là vô thường, hữu
vi, y duyên mà sanh. Vậy thì
khi lạc thọ khởi lên y cứ
vào xúc vô thường, làm sao
thọ ấy có thể là thường
hằng?’ Vị ấy quán vô thường
trong xúc và trong lạc thọ…
đoạn trừ khuynh hướng tham
dục đối với xúc và lạc thọ.
4–5. (Tương tự với khổ
thọ và thọ không khổ không
lạc, y cứ vào xúc — từ bỏ
sân hận và vô minh.)
6. (Phần kết giống bài
kinh trước: thấy rõ các cảm
thọ là vô thường, không nên
hoan hỷ; và sau khi thân
hoại, mạng dứt, mọi cảm thọ
sẽ tịch tịnh ngay tại đây.)
Chú Thích
Kūtāgārasālā là một pháp xá
(sālā) tọa lạc trong
Đại Lâm (Mahāvana) gần thành
Vesāli. Đức Phật đã từng trú
tại nơi này nhiều lần, và
trong các bản kinh có ghi
chép về nhiều vị danh tiếng
đến thăm Ngài, cũng như các
cuộc đối thoại giữa họ với
Đức Phật.
Người Licchavi đã thường
xuyên đến hầu Phật và phục
vụ Ngài khi Ngài trú tại
Kūtāgārasālā.
Cũng tại Kūtāgārasālā, Đức
Phật cuối cùng đã chấp thuận
cho năm trăm phụ nữ Sākya,
do Di mẫu Pajāpatī Gotamī
dẫn đầu, được xuất gia thành
Tỳ khưu ni.
Theo Sớ giải Trường Bộ và
Trung Bộ (DA.i.310;
MA.i.450), trong Mahāvana có
một Tăng xá (saṅghārāma)
được xây dựng, trong đó có
một tòa nhà nhiều tầng, tầng
dưới là một giảng đường bao
quanh bằng các trụ, nâng đỡ
căn phòng trên mái – chính
là Gandhakuti (tịnh thất)
của Đức Phật. Giảng đường
này nằm theo trục bắc-nam,
mặt hướng đông (DA.i.311),
và toàn bộ Tăng xá được gọi
là Kūtāgārasālā vì giảng
đường này.
Bên cạnh đó còn có bệnh xá
(gilānasālā), nơi Đức Phật
thường đến thăm hỏi và
thuyết pháp cho các các tu
sĩ dưỡng bệnh (xem S.iv.210;
A.iii.142).
Theo Sớ Giải, Đức Thế Tôn đi
đến bệnh xá với chủ ý:
“Chư Tỳ khưu sẽ nghĩ rằng:
Ngay cả Như Lai — bậc thượng
nhân trong thế giới nhân
thiên — cũng đi thăm nom
người bệnh do vậy chúng ta
cũng nên chăm sóc người
bệnh, bởi vì người bệnh thật
sự là những người đáng được
chăm sóc.”
Và Ngài cũng suy
nghĩ: “Với những ai ở đó có
cơ tánh thích hợp với đề mục
thiền, ta sẽ giảng đề mục
thiền cho họ.”
Hai bài kinh nầy cũng nêu rõ
sự khác biệt giữa “chánh
niệm” và “tỉnh giác” trong
sự ứng dụng cụ thể.
Từ “ninnānākaraṇaṃ” là một
thuật ngữ dùng trong luận
lý, chỉ những cách nói có vẻ
khác nhau nhưng thực chất
chỉ cùng một nội dung hoặc
đối tượng. Bài kinh thứ tám
nhấn mạnh rằng cảm thọ y cứ
vào xúc (phassa), còn bài
kinh thứ bảy nói rằng cảm
thọ y cứ vào thân (kāya).
Nhưng theo Sớ giải, cả hai
là cùng một thực tại, chỉ là
cách nói khác biệt.
Sớ Giải
255. sattame yena gilānasālā
tenupasaṅkamīti “sadevake
loke aggapuggalo tathāgatopi
gilānupaṭṭhānaṃ gacchati,
upaṭṭhātabbayuttakā nāma
gilānāti bhikkhū saddahitvā
okappetvā gilāne
upaṭṭhātabbe maññissantī”ti
ca “ye tattha
kammaṭṭhānasappāyā, tesaṃ
kammaṭṭhānaṃ kathessāmī”ti
ca cintetvā upasaṅkami. kāye
kāyānupassītiādīsu yaṃ
vattabbaṃ, taṃ parato
vakkhāma. aniccānupassīti
aniccataṃ anupassanto.
vayānupassīti vayaṃ
anupassanto. virāgānupassīti
virāgaṃ anupassanto.
nirodhānupassīti nirodhaṃ
anupassanto.
paṭinissaggānupassīti
paṭinissaggaṃ anupassanto.
ettāvatā kiṃ dassitaṃ hoti?
imassa bhikkhuno
āgamanīyapaṭipadā,
satipaṭṭhānāpi hi
pubbabhāgāyeva, sampajaññepi
aniccānupassanā
vayānupassanā
virāgānupassanāti ca imāpi
tisso anupassanā
pubbabhāgāyeva,
nirodhānupassanāpi
paṭinissaggānupassanāpi imā
dve missakā. ettāvatā imassa
bhikkhuno bhāvanākālo
dassitoti. sesaṃ
vuttanayameva.
255.
“Sattame yena gilānasālā
tenupasaṅkamīti” — “Trong
bài kinh thứ bảy,
Ngài
đi đến bệnh xá” nghĩa là:
Đức Thế Tôn suy nghĩ rằng:
“Ngay cả Như Lai — bậc
thượng nhân trong thế gian
cùng với chư thiên — cũng đi
thăm nom người bệnh. Vậy thì
các Tỳ khưu sẽ nghĩ rằng:
‘Chúng ta cũng nên chăm sóc
người bệnh, bởi vì người
bệnh thật sự là những người
đáng được chăm sóc.’”
Và Ngài cũng suy nghĩ:
“Với những ai ở đó có cơ
tánh thích hợp với đề mục
thiền, ta sẽ giảng đề mục
thiền cho họ.”
Với những ý nghĩ ấy, Ngài đã
đi đến nơi đó.
Về phần các đoạn như “quán
thân trên thân” v.v. — những
điều cần giải thích ở đó sẽ
được nói đến ở phần sau.
“Aniccānupassīti”
nghĩa là: quán sát tính vô
thường.
Vậy, đến đây điều gì đã được
trình bày?
Đó là: con đường thực hành
mà vị Tỳ khưu ấy cần phải đi
qua. Bởi vì:
Như vậy, đến đây, thời điểm
hành thiền (bhāvanākāla) của
vị Tỳ khưu ấy đã được chỉ
bày.
Phần còn lại sẽ được giải
thích theo cách như đã nói
trước đó.
256-257. aṭṭhame imameva
phassaṃ paṭiccāti vutte
bujjhanakānaṃ ajjhāsayena
vuttaṃ, atthato panetaṃ
ninnānākaraṇaṃ. kāyova hi
ettha phassoti vutto.
navamaṃ uttānameva.
256–257.“Aṭṭhame imameva
phassaṃ paṭiccāti vutte” –
Trong bài kinh thứ tám, câu
“dựa vào chính xúc này” được
nói ra theo chiều hướng phù
hợp với căn tánh của những
người có khả năng giác ngộ
(bujjhanakānaṃ ajjhāsaya),
tức là nói theo cách dễ hiểu
cho người nghe.
Tuy nhiên, về mặt ý nghĩa
sâu xa (atthato), thì điều
này chỉ là một cách nói khác
(ninnānākaraṇaṃ) để chỉ cùng
một pháp.
Bởi vì ở đây, chính thân
(kāya) được nói là xúc
(phassa).
“Navamaṃ uttānameva”
– Còn bài kinh thứ chín
(Navamaṃ), thì đã rõ ràng,
minh bạch, không cần giải
thích thêm.
_____________
Bản dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
7. VII. Tật Bệnh (S.iv,210)
1) Một thời Thế Tôn trú ở
Vesali, Ðại Lâm, tại giảng
đường của Ngôi nhà có Nóc
nhọn.
2) Rồi Thế Tôn, vào buổi
chiều, từ chỗ tịnh cư đứng
dậy, đi đến gian phòng chữa
bệnh; sau khi đến, ngồi
xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi
các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
phải chánh niệm, tỉnh giác
khi thời đã đến (khi mệnh
chung). Ðây là lời giáo giới
của Ta cho các Ông.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo sống quán thân trên
thân, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, nhiếp phục tham
ưu ở đời. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh
niệm. Sống quán thọ trên các
cảm thọ... quán tâm trên
tâm... quán pháp trên các
pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, nhiếp phục tham
ưu ở đời. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh
niệm.
4) Và như thế nào, này các
Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh
giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi
lui đều tỉnh giác; khi nhìn
thẳng, khi nhìn quanh đều
tỉnh giác; khi co tay, khi
duỗi tay, đều tỉnh giác; khi
mang y kép, bình bát, thượng
y đều tỉnh giác; khi ăn,
uống, nhai, nếm đều tỉnh
giác; khi đi đại tiện, tiểu
tiện đều tỉnh giác; khi đi,
đứng, ngồi, nằm, thức, nói,
im lặng đều tỉnh giác. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là
Tỷ-kheo tỉnh giác.
5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
cần phải chánh niệm tỉnh
giác khi thời đã đến. Ðây là
lời giáo giới của Ta cho các
Ông.
6) Này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo sống chánh niệm,
tỉnh giác, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần như vậy,
lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ
tri như sau: "Lạc thọ này
khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy
có duyên, không phải không
duyên. Do duyên gì? Do duyên
chính thân này, nhưng thân
này là vô thường, hữu vi, do
duyên sanh. Do duyên thân
khởi lên, và duyên này là vô
thường, hữu vi, thời lạc thọ
được khởi lên, làm sao
thường trú được?". Vị ấy
trú, quán vô thường đối với
thân và lạc thọ. Vị ấy trú,
quán tiêu vong (vaya). Vị ấy
trú, quán ly tham. Vị ấy
trú, quán đoạn diệt. Vị ấy
trú, quán từ bỏ. Do vị ấy
trú, quán vô thường; do vị
ấy trú, quán tiêu vong; do
vị ấy trú, quán ly tham; do
vị ấy trú, quán đoạn diệt;
do vị ấy trú, quán từ bỏ đối
với thân và lạc thọ của vị
ấy, nên tham tùy miên đối
với thân và lạc thọ được
đoạn diệt.
7) Này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo sống chánh niệm,
tỉnh giác, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần như vậy,
khổ thọ khởi lên. Vị ấy tuệ
tri như sau: "Khổ thọ này
khởi lên nơi ta. Khổ thọ ấy
có duyên, không phải không
duyên. Do duyên gì? Do duyên
chính thân này. Nhưng thân
này là vô thường, hữu vi, do
duyên sanh. Do duyên thân
khởi lên, và duyên này là vô
thường, hữu vi, thời khổ thọ
được khởi lên, làm sao
thường trú được?". Vị ấy
trú, quán vô thường đối với
thân và khổ thọ. Vị ấy trú,
quán tiêu vong. Vị ấy trú,
quán ly tham. Vị ấy trú,
quán đoạn diệt. Vị ấy trú,
quán từ bỏ. Do vị ấy trú,
quán vô thường; do vị ấy
trú, quán tiêu vong; do vị
ấy trú, quán ly tham; do vị
ấy trú, quán đoạn diệt; do
vị ấy trú, quán từ bỏ đối
với thân và khổ thọ của vị
ấy, nên sân tùy miên đối với
thân và khổ thọ được đoạn
diệt.
8) Này các Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo sống chánh niệm,
tỉnh giác, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần như vậy,
bất khổ bất lạc thọ khởi
lên. Vị ấy tuệ tri như sau:
"Bất khổ bất lạc thọ này
khởi lên nơi ta. Bất khổ bất
lạc thọ ấy có duyên, không
phải không duyên. Do duyên
gì? Do duyên chính thân này.
Nhưng thân này là vô thường,
hữu vi, do duyên sanh. Do
duyên thân khởi lên, và
duyên này là vô thường, hữu
vi, do duyên sanh, thời bất
khổ bất lạc thọ được khởi
lên làm sao sẽ thường trú
được?" Vị ấy trú, quán vô
thường đối với thân và bất
khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú,
quán tiêu vong. Vị ấy trú,
quán ly tham. Vị ấy trú,
quán đoạn diệt. Vị ấy trú,
quán từ bỏ. Do vị ấy trú,
quán vô thường; do vị ấy
trú, quán tiêu vong; do vị
ấy trú, quán ly tham; do vị
ấy trú, quán đoạn diệt; do
vị ấy trú, quán từ bỏ đối
với thân và bất khổ bất lạc
thọ của vị ấy, nên vô minh
tùy miên đối với thân và bất
khổ bất lạc thọ được đoạn
diệt.
9) Nếu vị ấy cảm thọ cảm
giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri:
"Thọ ấy là vô thường". Vị ấy
tuệ tri: "Ta không chấp
trước thọ ấy". Vị ấy tuệ
tri: "Ta không hoan hỷ thọ
ấy". Nếu vị ấy cảm thọ khổ
thọ... Nếu vị ấy cảm thọ bất
khổ bất lạc thọ, vị ấy tuệ
tri: "Thọ ấy là vô thường".
Vị ấy tuệ tri: "Ta không
chấp trước thọ ấy". Vị ấy
tuệ tri: "Ta không hoan hỷ
thọ ấy".
10) Nếu vị ấy cảm thọ cảm
giác lạc thọ, vị ấy cảm giác
thọ ấy như người không bị
trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ
cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm
thọ cảm giác thọ ấy như
người không bị trói buộc.
Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác
bất khổ bất lạc thọ, vị ấy
cảm thọ cảm giác thọ ấy như
người không bị trói buộc.
11) Khi vị ấy cảm thọ một
cảm thọ cùng tận sức chịu
đựng của thân, vị ấy tuệ
tri: "Ta đang cảm thọ một
cảm thọ cùng tận đến sức
chịu đựng của thân". Khi vị
ấy cảm thọ một cảm thọ cùng
tận chịu đựng của sinh mạng,
vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm
thọ một cảm thọ cùng tận đến
sức chịu đựng của sinh
mạng". Vị ấy tuệ tri rằng:
"Sau khi thân hoại mạng
chung, ở đây, một cảm thọ
cảm giác không có gì đáng
hoan hỷ, sẽ đi đến lắng
dịu".
12) Ví như, này các Tỷ-kheo,
do duyên dầu và do duyên tim
bấc, một ngọn đèn dầu được
cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc
khô cạn, cháy hết, không
được tiếp nhiên liệu thêm,
ngọn đèn ấy bị tắt. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, khi
Tỷ-kheo cảm thọ một cảm thọ
cùng tận đến sức chịu đựng
của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta
đang cảm thọ một cảm thọ
cùng tận đến sức chịu đựng
của thân". Khi vị ấy đang
cảm thọ một cảm thọ cùng tận
đến sức chịu đựng của sinh
mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta
đang cảm thọ một cảm thọ
cùng tận đến sức chịu đựng
của sinh mạng". Vị ấy tuệ
tri rằng: "Sau khi thân hoại
mạng chung, ở đây, mọi cảm
thọ không có gì đáng hoan
hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".
8. VIII. Tật Bệnh (2)
(S.iv,213)
1) Một thời Thế Tôn trú ở
Vesali, tại rừng Ðại Lâm,
tại giảng đường của Ngôi nhà
có Nóc nhọn.
2) Rồi Thế Tôn vào buổi
chiều...
3-5) -- Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là Tỷ-kheo chánh
niệm?... (như kinh trước cho
đến hết số 5) Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải
chánh niệm, tỉnh giác khi
thời đã đến. Ðây là lời giáo
giới của Ta cho các Ông...
6) Này các Tỷ-kheo, khi nào
Tỷ-kheo sống chánh niệm,
tỉnh giác, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần như vậy,
lạc thọ khởi lên. Vị ấy rõ
biết như sau: "Lạc thọ này
khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy
khởi lên có duyên, không
phải không duyên. Do duyên
gì? Do duyên xúc này. Nhưng
xúc này là vô thường, hữu
vi, do duyên sanh. Do duyên
xúc khởi lên, và duyên này
là vô thường, hữu vi, thời
lạc thọ được khởi lên, làm
sao có thể thường trú
được?". Vị ấy trú, quán vô
thường đối với xúc và lạc
thọ. Vị ấy trú, quán tiêu
vong. Vị ấy trú, quán ly
tham. Vị ấy trú, quán đoạn
diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ.
Do vị ấy trú, quán vô
thường; do vị ấy trú, quán
tiêu vong; do vị ấy trú,
quán ly tham; do vị ấy trú,
quán đoạn diệt; do vị ấy
trú, quán từ bỏ đối với xúc
và lạc thọ của vị ấy, nên
tham tùy miên đối với xúc và
lạc thọ bị đoạn diệt.
7-11) (Giống như kinh trước,
từ số 7 đến số 11, chỉ khác
ở đây là duyên xúc, chớ
không phải thân này như kinh
trước) "... Ở đây, mọi cảm
thọ không có gì đáng hoan
hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".
12) Ví như, này các Tỷ-kheo,
do duyên dầu... sẽ đi đến
lắng dịu. (như kinh trước).
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác
lạc thọ, cảm thọ cảm giác
khổ thọ, cảm thọ cảm giác
bất khổ bất lạc thọ.
4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm
giác lạc thọ, cảm thọ cảm
giác khổ thọ, cảm thọ cảm
giác bất khổ bất lạc thọ.
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là
thù thắng, thế nào là sai
biệt giữa bậc Ða văn Thánh
đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
6) -- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...
7) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ
thọ, sầu muộn, than vãn,
khóc lóc, đấm ngực, đi đến
bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai
cảm thọ, cảm thọ về thân và
cảm thọ về tâm.
8) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi
tên, rồi họ bắn người ấy với
mũi tên thứ hai. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, người ấy
cảm giác cảm thọ cả hai mũi
tên. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
khi cảm xúc khổ thọ; thời
sầu muộn, than vãn, khóc
lóc, đấm ngực, đi đến bất
tỉnh. Người ấy cảm giác hai
cảm thọ, cảm thọ về thân và
cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi
khổ thọ ấy, người ấy cảm
thấy sân hận (patigha). Do
cảm thấy sân hận đối với khổ
thọ ấy, sân tùy miên đối với
khổ thọ được tồn chỉ tùy
miên (anuseti). Cảm xúc bởi
khổ thọ, người ấy hoan hỷ
dục lạc. Vì sao? Vì rằng,
này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn
phàm phu không tìm thấy một
sự xuất ly khổ thọ nào khác,
ngoài dục lạc. Do hoan hỷ
dục lạc ấy, tham tùy miên
đối với lạc thọ tồn tại.
Người ấy không như thật rõ
biết sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm
và sự xuất ly của các cảm
thọ ấy. Do người ấy không
như thật rõ biết sự tập
khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt,
sự nguy hiểm và sự xuất ly
của các cảm thọ ấy, nên vô
minh tùy miên đối với bất
khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu
người ấy cảm thọ cảm giác
lạc thọ, người ấy cảm thọ
cảm giác như người bị trói
buộc (sannutto). Nếu người
ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ,
người ấy cảm thọ cảm giác
như người bị trói buộc. Nếu
người ấy cảm thọ cảm giác
bất khổ bất lạc thọ, người
ấy cảm thọ cảm giác như
người bị trói buộc. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô
văn phàm phu bị trói buộc
bởi sanh, già, chết, sầu,
bi, khổ, ưu, não. Ta nói
rằng người ấy bị trói buộc
bởi đau khổ.
9) Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc
khổ thọ thời không có sầu
muộn, không có than vãn,
không có khóc lóc, không có
đấm ngực, không có đi đến
bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ
cảm giác một cảm thọ, tức là
cảm thọ về thân, không phải
cảm thọ về tâm.
10) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một
mũi tên. Họ không bắn tiếp
người ấy với mũi tên thứ
hai. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, người ấy cảm giác
cảm thọ của một mũi tên.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
bậc Ða văn Thánh đệ tử khi
cảm xúc khổ thọ; vị ấy không
sầu muộn, không than vãn,
không khóc lóc, không đấm
ngực, không đi đến bất tỉnh.
Vị ấy cảm giác chỉ một cảm
thọ, cảm thọ về thân, không
phải cảm thọ về tâm. Vị ấy
không cảm thấy sân hận đối
với khổ thọ ấy. Do không cảm
thấy sân hận đối với khổ thọ
ấy, sân tùy miên đối với khổ
thọ không có tồn tại. Cảm
xúc bởi khổ thọ, vị ấy không
hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì
bậc Ða văn Thánh đệ tử có
tuệ tri một sự xuất ly khác
đối với khổ thọ, ngoài dục
lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ
dục lạc, tham tùy miên đối
với dục lạc không có tồn
tại. Vị ấy như thật tuệ tri
sự tập khởi, sự đoạn diệt,
vị ngọt, sự nguy hiểm và sự
xuất ly của những cảm thọ
ấy. Vì rằng, vị ấy như thật
tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm
và sự xuất ly của các cảm
thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như
thật tuệ tri sự tập khởi, sự
đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của các
cảm thọ ấy, đối với bất khổ
bất lạc thọ, vô minh tùy
miên không có tồn tại. Nếu
vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy
cảm thọ lạc thọ như người
không bị trói buộc. Nếu vị
ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ,
vị ấy cảm thọ cảm giác như
người không bị trói buộc.
Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác
bất khổ bất lạc thọ, vị ấy
cảm thọ cảm giác như người
không bị trói buộc. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo
không bị trói buộc bởi sanh,
già, chết, sầu, bi, khổ, ưu,
ão. Ta nói rằng vị ấy không
bị trói buộc bởi đau khổ.
11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là thù thắng,
đây là sự sai biệt giữa bậc
Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô
văn phàm phu.
1) Bậc Trí tuệ Ða văn,
2) Bậc Ða văn, Tầm pháp,
3) Tùy thuận hay đối nghịch,
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
5. V. Cần Phải Quán Kiến (S.iv,207)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất
lạc thọ. Lạc thọ, này các
Tỷ-kheo, cần phải thấy là
khổ. Khổ thọ cần phải thấy
là mũi tên. Bất khổ bất lạc
thọ cần phải thấy là vô
thường.
4) Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy được lạc thọ là
khổ, thấy được khổ thọ là
mũi tên, thấy được bất khổ
bất lạc thọ là vô thường;
thời này các Tỷ-kheo, đây
gọi là Tỷ-kheo có chánh
kiến, ái được đoạn tận, kiết
sử được hủy hoại. Với minh
kiến chơn chánh đối với ngã
mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
1) Ai thấy lạc là khổ,
2) Vị ấy liễu tri thọ, -ooOoo- |