BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 12 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm Với Kệ Ngôn- SN. 35. 255, SN. 35. 256. Bài 455. NGƯỜI TU TẬP VÀ GIÂY PHÚT CẬN TỬ- Kinh Bệnh Xá I & II (Paṭhamagelaññasuttaṃ) (Dutiyagelaññasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-455.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngGiây phút lâm chung là một bài thi khó đối với người tu tập. Tất nhiên là nỗi sợ hãi đối với phần lớn chúng sanh. Ngày nay Đạo Phật mang nhiều màu sắc tôn giáo nên người Phật tử thường chú trọng việc tụng kinh cầu nguyện cho người lâm chung. Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài thường khuyên nên giữ chánh niệm tỉnh giác ở thời khắc cận tử. Thọ quán niệm xứ là một kỹ năng rất lợi lạc cho những ai muốn chuẩn bị tốt cho giờ phút ấy.

 KINH VĂN

Kinh Bệnh Xá I

255. ekaṃ samayaṃ bhagavā vesāliyaṃ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ. atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yena gilānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi —

“sato, bhikkhave, bhikkhu sampajāno kālaṃ āgameyya. ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanī.

“kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ... pe ... citte cittānupassī viharati ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sato hoti.

“kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajānakārī hoti. sato, bhikkhave, bhikkhu sampajāno kālaṃ āgameyya. ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanī.

“tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṃ satassa sampajānassa appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati sukhā vedanā, so evaṃ pajānāti — ‘uppannā kho myāyaṃ sukhā vedanā. sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. kiṃ paṭicca? imameva kāyaṃ paṭicca. ayaṃ kho pana kāyo anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. aniccaṃ kho pana saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ kāyaṃ paṭicca uppannā sukhā vedanā kuto niccā bhavissatī’ti! so kāye ca sukhāya ca vedanāya aniccānupassī viharati, vayānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. tassa kāye ca sukhāya ca vedanāya aniccānupassino viharato, vayānupassino viharato, virāgānupassino viharato, nirodhānupassino viharato, paṭinissaggānupassino viharato, yo kāye ca sukhāya ca vedanāya rāgānusayo, so pahīyati.

“tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṃ satassa sampajānassa appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati dukkhā vedanā. so evaṃ pajānāti — ‘uppannā kho myāyaṃ dukkhā vedanā. sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. kiṃ paṭicca? imameva kāyaṃ paṭicca. ayaṃ kho pana kāyo anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. aniccaṃ kho pana saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ kāyaṃ paṭicca uppannā dukkhā vedanā kuto niccā bhavissatī’ti! so kāye ca dukkhāya vedanāya aniccānupassī viharati, vayānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. tassa kāye ca dukkhāya ca vedanāya aniccānupassino viharato ... pe ... paṭinissaggānupassino viharato, yo kāye ca dukkhāya ca vedanāya paṭighānusayo, so pahīyati.

“tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṃ satassa sampajānassa appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati adukkhamasukhā vedanā, so evaṃ pajānāti — ‘uppannā kho myāyaṃ adukkhamasukhā vedanā. sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. kiṃ paṭicca? imameva kāyaṃ paṭicca. ayaṃ kho pana kāyo anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. aniccaṃ kho pana saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ kāyaṃ paṭicca uppannā adukkhamasukhā vedanā kuto niccā bhavissatī’ti! so kāye ca adukkhamasukhāya ca vedanāya aniccānupassī viharati, vayānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. tassa kāye ca adukkhamasukhāya ca vedanāya aniccānupassino viharato ... pe ... paṭinissaggānupassino viharato, yo kāye ca adukkhamasukhāya ca vedanāya avijjānusayo, so pahīyati.

“so sukhañce vedanaṃ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti; dukkhañce vedanaṃ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti; adukkhamasukhañce vedanaṃ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti. so sukhañce vedanaṃ vedayati, visaññutto naṃ vedayati; dukkhañce vedanaṃ vedayati, visaññutto naṃ vedayati; adukkhamasukhañce vedanaṃ vedayati, visaññutto naṃ vedayati. so kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. ‘kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti {sītibhavissantīti (sī. pī. ka.)} pajānāti.

“seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca vaṭṭiñca paṭicca telappadīpo jhāyeyya, tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. ‘kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti. sattamaṃ.

Kinh Bệnh Xá I

1. Một thời, Thế Tôn ngự tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại Lầu Có Mái Nhọn. Lúc ấy, vào buổi chiều, Ngài rời khỏi chỗ tịnh cư, đi đến bệnh xá của tu viện. Ngài ngồi xuống chỗ đã được chuẩn bị sẵn và nói với chư Tỳ khưu như sau:

2. “Này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu nên trãi qua thời khắc lâm chung của mình với chánh niệm và tỉnh giác. Đây là lời giáo huấn của Ta gửi đến các Thầy.

3. “Và này chư Tỳ khưu, thế nào là một Tỳ khưu có chánh niệm? Ở đây, này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ái và sân hận đối với thế gian. Vị ấy sống quán thọ trên thọ... tâm trên tâm... pháp trên pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ái và sân hận đối với thế gian. Chính như vậy là một Tỳ khưu có chánh niệm.

4. “Và này chư Tỳ khưu, thế nào là một Tỳ khưu hành xử với tỉnh giác? Ở đây, này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu hành xử với tỉnh giác khi đi tới và đi lui, khi nhìn thẳng và nhìn quanh, khi co duỗi tay chân, khi đắp y, mang y và bát, khi ăn, uống, nhai và nếm, khi đại tiểu tiện, khi đi, đứng, ngồi, nằm ngủ, thức dậy, nói chuyện và giữ im lặng. Chính như vậy là một Tỳ khưu hành xử với tỉnh giác.

5. “Một Tỳ khưu nên trãi qua thời khắc lâm chung của mình với chánh niệm và tỉnh giác. Đây là lời giáo huấn của Ta gửi đến các Thầy.

6. “Này chư Tỳ khưu, trong khi một Tỳ khưu sống như vậy — chánh niệm và tỉnh giác, tinh cần, nhiệt tâm, kiên định — nếu có lạc thọ khởi lên nơi vị ấy, vị ấy hiểu rằng: ‘Một lạc thọ đã khởi lên nơi ta. Thọ ấy là pháp y duyên, không tự tồn tại. Nó y cứ vào đâu? Y cứ vào chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, y duyên mà sanh. Vậy thì, khi lạc thọ khởi lên y cứ nơi một thân vô thường, hữu vi, y duyên mà sanh, thì làm sao thọ ấy có thể thường hằng?’ Vị ấy sống quán vô thường trong thân và trong lạc thọ; vị ấy sống quán hoại diệt, phai tàn, đoạn diệt, từ bỏ. Trong khi sống như vậy, tham tùy miên đối với thân và đối với lạc thọ được đoạn trừ nơi vị ấy.

7. “Này chư Tỳ khưu, trong khi một Tỳ khưu sống như vậy — chánh niệm và tỉnh giác, tinh cần, nhiệt tâm, kiên định — nếu có khổ thọ khởi lên nơi vị ấy, vị ấy hiểu rằng: ‘Một khổ thọ đã khởi lên nơi ta. Thọ ấy là pháp y duyên, không tự tồn tại. Nó y cứ vào đâu? Y cứ vào chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, y duyên mà sanh. Vậy thì, khi khổ thọ khởi lên y cứ nơi một thân vô thường, hữu vi, y duyên mà sanh, thì làm sao thọ ấy có thể thường hằng?’ Vị ấy sống quán vô thường trong thân và trong lạc thọ; vị ấy sống quán hoại diệt, phai tàn, đoạn diệt, từ bỏ. Trong khi sống như vậy, sân tùy miên đối với thân và đối với khổ thọ được đoạn trừ nơi vị ấy.

“Cũng vậy, nếu một thọ không khổ không lạc khởi lên, vị ấy hiểu rằng: ‘Một thọ không khổ không lạc đã khởi lên nơi ta..Thọ ấy là pháp y duyên, không tự tồn tại. Nó y cứ vào đâu? Y cứ vào chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, y duyên mà sanh. Vậy thì, khi cảm thọ không khổ không lạc khởi lên y cứ nơi một thân vô thường, hữu vi, y duyên mà sanh, thì làm sao thọ ấy có thể thường hằng?’ Vị ấy sống quán vô thường trong thân và trong lạc thọ; vị ấy sống quán hoại diệt, phai tàn, đoạn diệt, từ bỏ. Trong khi sống như vậy, vô minh tùy miên đối với thân và đối với cảm thọ không khổ không lạc  được đoạn trừ nơi vị ấy.

9. “Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy hiểu: ‘Nó là vô thường’; hiểu: ‘Không đáng chấp thủ’; hiểu: ‘Không đáng hoan hỷ.’ Nếu vị ấy cảm thọ khổ thọ… hoặc thọ không khổ không lạc… cũng hiểu như vậy.

10. “Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ với tâm xả ly; nếu là khổ thọ, vị ấy cảm thọ với tâm xả ly; nếu là thọ không khổ không lạc, vị ấy cũng cảm thọ với tâm xả ly.

11. “Khi cảm thọ chấm dứt cùng thân, vị ấy hiểu: ‘Ta cảm thọ chấm dứt cùng với thân.’ Khi cảm thọ chấm dứt cùng mạng sống, vị ấy hiểu: ‘Ta cảm thọ chấm dứt cùng với mạng sống.’ Vị ấy hiểu: ‘Khi thân tan hoại, mạng sống tận, tất cả những gì được cảm thọ — nếu không bị hoan hỷ — sẽ trở nên mát mẻ, tịch tịnh ngay tại đây.’

12. “Cũng như, này chư Tỳ khưu, một ngọn đèn dầu cháy nhờ vào dầu và bấc; khi dầu và bấc cạn, nó tắt do không còn nhiên liệu. Cũng vậy, khi một Tỳ khưu cảm thọ chấm dứt cùng thân… chấm dứt cùng mạng sống… vị ấy hiểu: ‘Với sự hoại diệt của thân, theo sau sự tận cùng của mạng sống, tất cả cảm thọ — không bị hoan hỷ — sẽ trở nên mát mẻ, tịch tịnh ngay tại đây.’”


Kinh Bệnh Xá II

256. ekaṃ samayaṃ bhagavā vesāliyaṃ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ. atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yena gilānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi —

“sato, bhikkhave, bhikkhu sampajāno kālaṃ āgameyya. ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanī.

“kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati... citte cittānupassī viharati... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sato hoti.

“kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti? idha, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti ... pe ... bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti. sato, bhikkhave, bhikkhu sampajāno kālaṃ āgameyya. ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanī.

“tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṃ satassa sampajānassa appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati sukhā vedanā. so evaṃ pajānāti — ‘uppannā kho myāyaṃ sukhā vedanā; sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. kiṃ paṭicca? imameva phassaṃ paṭicca. ayaṃ kho pana phasso anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. aniccaṃ kho pana saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ phassaṃ paṭicca uppannā sukhā vedanā kuto niccā bhavissatī’ti! so phasse ca sukhāya ca vedanāya aniccānupassī viharati, vayānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. tassa phasse ca sukhāya ca vedanāya aniccānupassino viharato, vayānupassino viharato, virāgānupassino viharato, nirodhānupassino viharato, paṭinissaggānupassino viharato yo phasse ca sukhāya ca vedanāya rāgānusayo, so pahīyati.

“tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṃ satassa ... pe ... viharato uppajjati dukkhā vedanā ... pe ... uppajjati adukkhamasukhā vedanā. so evaṃ pajānāti — ‘uppannā kho myāyaṃ adukkhamasukhā vedanā; sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. kiṃ paṭicca? imameva phassaṃ paṭicca ... pe ... kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti”.

“seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca vaṭṭiñca paṭicca telappadīpo jhāyeyya, tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti. ‘kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti. aṭṭhamaṃ.

1–2. (Giống như phần đầu bài kinh trước)
“Một Tỳ khưu nên trãi qua thời khắc lâm chung của mình với chánh niệm và tỉnh giác. Đây là lời giáo huấn của Ta gửi đến chư vị.

3. “Này chư Tỳ khưu, nếu khi một Tỳ khưu sống như vậy, và một lạc thọ khởi lên nơi vị ấy, vị ấy hiểu rằng: ‘Một lạc thọ đã khởi lên nơi ta. Thọ ấy là pháp y duyên, không tự tồn tại. Y cứ vào đâu? Vào chính xúc này. Nhưng xúc là vô thường, hữu vi, y duyên mà sanh. Vậy thì khi lạc thọ khởi lên y cứ vào xúc vô thường, làm sao thọ ấy có thể là thường hằng?’ Vị ấy quán vô thường trong xúc và trong lạc thọ… đoạn trừ khuynh hướng tham dục đối với xúc và lạc thọ.

4–5. (Tương tự với khổ thọ và thọ không khổ không lạc, y cứ vào xúc — từ bỏ sân hận và vô minh.)

6. (Phần kết giống bài kinh trước: thấy rõ các cảm thọ là vô thường, không nên hoan hỷ; và sau khi thân hoại, mạng dứt, mọi cảm thọ sẽ tịch tịnh ngay tại đây.)

Chú Thích

Kūtāgārasālā là một pháp xá  (sālā) tọa lạc trong Đại Lâm (Mahāvana) gần thành Vesāli. Đức Phật đã từng trú tại nơi này nhiều lần, và trong các bản kinh có ghi chép về nhiều vị danh tiếng đến thăm Ngài, cũng như các cuộc đối thoại giữa họ với Đức Phật.

Người Licchavi đã thường xuyên đến hầu Phật và phục vụ Ngài khi Ngài trú tại Kūtāgārasālā.

Cũng tại Kūtāgārasālā, Đức Phật cuối cùng đã chấp thuận cho năm trăm phụ nữ Sākya, do Di mẫu Pajāpatī Gotamī dẫn đầu, được xuất gia thành Tỳ khưu ni.

Theo Sớ giải Trường Bộ và Trung Bộ (DA.i.310; MA.i.450), trong Mahāvana có một Tăng xá (saṅghārāma) được xây dựng, trong đó có một tòa nhà nhiều tầng, tầng dưới là một giảng đường bao quanh bằng các trụ, nâng đỡ căn phòng trên mái – chính là Gandhakuti (tịnh thất) của Đức Phật. Giảng đường này nằm theo trục bắc-nam, mặt hướng đông (DA.i.311), và toàn bộ Tăng xá được gọi là Kūtāgārasālā vì giảng đường này.

Bên cạnh đó còn có bệnh xá (gilānasālā), nơi Đức Phật thường đến thăm hỏi và thuyết pháp cho các các tu sĩ dưỡng bệnh (xem S.iv.210; A.iii.142).

Theo Sớ Giải, Đức Thế Tôn đi đến bệnh xá với chủ ý:

“Chư Tỳ khưu sẽ nghĩ rằng: Ngay cả Như Lai — bậc thượng nhân trong thế giới nhân thiên — cũng đi thăm nom người bệnh do vậy chúng ta cũng nên chăm sóc người bệnh, bởi vì người bệnh thật sự là những người đáng được chăm sóc.”  Và Ngài cũng suy nghĩ: “Với những ai ở đó có cơ tánh thích hợp với đề mục thiền, ta sẽ giảng đề mục thiền cho họ.”

Hai bài kinh nầy cũng nêu rõ sự khác biệt giữa “chánh niệm” và “tỉnh giác” trong sự ứng dụng cụ thể.

Từ “ninnānākaraṇaṃ” là một thuật ngữ dùng trong luận lý, chỉ những cách nói có vẻ khác nhau nhưng thực chất chỉ cùng một nội dung hoặc đối tượng. Bài kinh thứ tám nhấn mạnh rằng cảm thọ y cứ vào xúc (phassa), còn bài kinh thứ bảy nói rằng cảm thọ y cứ vào thân (kāya). Nhưng theo Sớ giải, cả hai là cùng một thực tại, chỉ là cách nói khác biệt.

Sớ Giải

255. sattame yena gilānasālā tenupasaṅkamīti “sadevake loke aggapuggalo tathāgatopi gilānupaṭṭhānaṃ gacchati, upaṭṭhātabbayuttakā nāma gilānāti bhikkhū saddahitvā okappetvā gilāne upaṭṭhātabbe maññissantī”ti ca “ye tattha kammaṭṭhānasappāyā, tesaṃ kammaṭṭhānaṃ kathessāmī”ti ca cintetvā upasaṅkami. kāye kāyānupassītiādīsu yaṃ vattabbaṃ, taṃ parato vakkhāma. aniccānupassīti aniccataṃ anupassanto. vayānupassīti vayaṃ anupassanto. virāgānupassīti virāgaṃ anupassanto. nirodhānupassīti nirodhaṃ anupassanto. paṭinissaggānupassīti paṭinissaggaṃ anupassanto. ettāvatā kiṃ dassitaṃ hoti? imassa bhikkhuno āgamanīyapaṭipadā, satipaṭṭhānāpi hi pubbabhāgāyeva, sampajaññepi aniccānupassanā vayānupassanā virāgānupassanāti ca imāpi tisso anupassanā pubbabhāgāyeva, nirodhānupassanāpi paṭinissaggānupassanāpi imā dve missakā. ettāvatā imassa bhikkhuno bhāvanākālo dassitoti. sesaṃ vuttanayameva.

255. “Sattame yena gilānasālā tenupasaṅkamīti” — “Trong bài kinh thứ bảy, Ngài đi đến bệnh xá” nghĩa là: Đức Thế Tôn suy nghĩ rằng:

“Ngay cả Như Lai — bậc thượng nhân trong thế gian cùng với chư thiên — cũng đi thăm nom người bệnh. Vậy thì các Tỳ khưu sẽ nghĩ rằng: ‘Chúng ta cũng nên chăm sóc người bệnh, bởi vì người bệnh thật sự là những người đáng được chăm sóc.’”

Và Ngài cũng suy nghĩ:

“Với những ai ở đó có cơ tánh thích hợp với đề mục thiền, ta sẽ giảng đề mục thiền cho họ.”

Với những ý nghĩ ấy, Ngài đã đi đến nơi đó.

Về phần các đoạn như “quán thân trên thân” v.v. — những điều cần giải thích ở đó sẽ được nói đến ở phần sau.

“Aniccānupassīti” nghĩa là: quán sát tính vô thường.
“Vayānupassīti” nghĩa là: quán sát sự hoại diệt.
“Virāgānupassīti” nghĩa là: quán sát sự ly tham.
“Nirodhānupassīti” nghĩa là: quán sát sự đoạn diệt.
“Paṭinissaggānupassīti” nghĩa là: quán sát sự xả ly (buông bỏ).

Vậy, đến đây điều gì đã được trình bày?

Đó là: con đường thực hành mà vị Tỳ khưu ấy cần phải đi qua. Bởi vì:

  • Tứ niệm xứ (sati­paṭṭhāna) là phần sơ khởi của con đường ấy.
  • Ba loại quán: vô thường (anicca), hoại diệt (vaya), ly tham (virāga) cũng thuộc về giai đoạn sơ khởi.
  • Quán đoạn diệt (nirodha) và quán xả ly (paṭinissagga) là hai loại thuộc phần hỗn hợp (tức là vừa sơ khởi, vừa thuộc phần sâu sắc hơn).

Như vậy, đến đây, thời điểm hành thiền (bhāvanākāla) của vị Tỳ khưu ấy đã được chỉ bày.

Phần còn lại sẽ được giải thích theo cách như đã nói trước đó.

256-257. aṭṭhame imameva phassaṃ paṭiccāti vutte bujjhanakānaṃ ajjhāsayena vuttaṃ, atthato panetaṃ ninnānākaraṇaṃ. kāyova hi ettha phassoti vutto. navamaṃ uttānameva.

256–257.“Aṭṭhame imameva phassaṃ paṭiccāti vutte” – Trong bài kinh thứ tám, câu “dựa vào chính xúc này” được nói ra theo chiều hướng phù hợp với căn tánh của những người có khả năng giác ngộ (bujjhanakānaṃ ajjhāsaya), tức là nói theo cách dễ hiểu cho người nghe.

Tuy nhiên, về mặt ý nghĩa sâu xa (atthato), thì điều này chỉ là một cách nói khác (ninnānākaraṇaṃ) để chỉ cùng một pháp.

Bởi vì ở đây, chính thân (kāya) được nói là xúc (phassa).

“Navamaṃ uttānameva” – Còn bài kinh thứ chín (Navamaṃ), thì đã rõ ràng, minh bạch, không cần giải thích thêm.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

_____________ 

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

7. VII. Tật Bệnh (S.iv,210)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.

2) Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.

4) Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.

5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

6) Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt.

7) Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khổ thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khổ thọ này khởi lên nơi ta. Khổ thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời khổ thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và khổ thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và khổ thọ của vị ấy, nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt.

8) Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Bất khổ bất lạc thọ này khởi lên nơi ta. Bất khổ bất lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thời bất khổ bất lạc thọ được khởi lên làm sao sẽ thường trú được?" Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.

9) Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỷ thọ ấy". Nếu vị ấy cảm thọ khổ thọ... Nếu vị ấy cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỷ thọ ấy".

10) Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc.

11) Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".

12) Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim bấc, một ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc khô cạn, cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn đèn ấy bị tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".

8. VIII. Tật Bệnh (2) (S.iv,213)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, tại rừng Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.

2) Rồi Thế Tôn vào buổi chiều...

3-5) -- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?... (như kinh trước cho đến hết số 5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông...

6) Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy rõ biết như sau: "Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy khởi lên có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên xúc này. Nhưng xúc này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên xúc khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao có thể thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với xúc và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với xúc và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với xúc và lạc thọ bị đoạn diệt.

7-11) (Giống như kinh trước, từ số 7 đến số 11, chỉ khác ở đây là duyên xúc, chớ không phải thân này như kinh trước) "... Ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".

12) Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu... sẽ đi đến lắng dịu. (như kinh trước).

  

_____________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

6. VI. Với Mũi Tên (S.iv,207)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.

4) Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.

5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?

6) -- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...

7) -- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.

8) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, nên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.

9) Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.

10) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ của một mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy. Do không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị ấy không hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì bậc Ða văn Thánh đệ tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ, ngoài dục lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ dục lạc, tham tùy miên đối với dục lạc không có tồn tại. Vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, đối với bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên không có tồn tại. Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ lạc thọ như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác như người không bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ão. Ta nói rằng vị ấy không bị trói buộc bởi đau khổ.

11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là thù thắng, đây là sự sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu.

1) Bậc Trí tuệ Ða văn,
Lạc khổ không chi phối,
Giữa kẻ trí, phàm phu,
Thiện sai biệt rất lớn.

2) Bậc Ða văn, Tầm pháp,
Thấy đời này, đời sau,
Ái pháp không phá tâm,
Không ái, không sân hận.

3) Tùy thuận hay đối nghịch,
Tiêu tán, diệt, không còn,
Vị ấy biết con đường,
Ðường không cấu, không sầu,
Chánh trí, đoạn tái sanh,
Ðến được bờ giác ngộ.

 

 __________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

5. V. Cần Phải Quán Kiến (S.iv,207)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỷ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.

4) Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.

1) Ai thấy lạc là khổ,
Thấy khổ là mũi tên,
Với bất khổ bất lạc,
Thấy thọ là vô thường,
Tỷ-kheo ấy chánh kiến,
Liễu tri các cảm thọ.

2) Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Mạng chung, bậc Pháp trú,
Ðại trí vượt ước lường.

-ooOoo-