BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 14 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm Với Kệ Ngôn- SN. 35. 257, SN. 35. 258. Bài 456. HÀNH GIẢ VÀ CẢM THỌ - Kinh Vô Thường (aniccasuttaṃ) Kinh Có Gốc Từ Xúc (Phassamūlakasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-456.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngCảm thọ có ảnh hưởng sâu sắc đối với hành giả tu tập. Trạng thái khinh an dễ chịu do định, niệm thuần thục có thể tạo nên sự thoả mãn và bám chấp. Cảm thọ luôn luôn là cảm thọ. Cảm thọ đến từ xúc. Xúc biến đổi thì thọ cũng biến đổi. Khi hiểu được sự sanh khởi và tồn tại chóng vánh của xúc, của thọ thì hành giả chỉ sống với chánh niệm hướng đến chánh trí chứ không cố gắng trụ trên một cảm thọ nào. Khi hai thanh gỗ cọ sát tạo thành lửa, lửa cháy nhờ nhiên liệu. Tất cả là một tiến trình liên tục biến đổi. Không có gì để ao ước về một “giấc ngủ bình yên” giữa cuộc vô thường.

 KINH VĂN

Kinh Vô Thường

257. “tisso imā, bhikkhave, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā — imā kho, bhikkhave, tisso vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā”ti. navamaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, có ba loại cảm thọ này là vô thường, do duyên mà sanh, khởi lên tùy thuộc điều kiện, chịu sự hoại diệt, chịu sự biến đổi, chịu sự phai nhạt, và chấm dứt. Ba cảm thọ đó là gì?
Lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ (không khổ không lạc).
Ba loại cảm thọ này là vô thường, do duyên mà sanh, khởi lên do điều kiện, và rồi diệt mất.”

Kinh Có Gốc Từ Xúc

258. “tisso imā, bhikkhave, vedanā phassajā phassamūlakā phassanidānā phassapaccayā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. sukhavedaniyaṃ, bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati sukhā vedanā. tasseva sukhavedaniyassa phassassa nirodhā, yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ sukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā sukhā vedanā, sā nirujjhati, sā vūpasammati. dukkhavedaniyaṃ, bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati dukkhā vedanā. tasseva dukkhavedaniyassa phassassa nirodhā, yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ dukkhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā dukkhā vedanā, sā nirujjhati, sā vūpasammati. adukkhamasukhavedaniyaṃ, bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati adukkhamasukhā vedanā. tasseva adukkhamasukhavedaniyassa phassassa nirodhā, yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ adukkhamasukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā adukkhamasukhā vedanā, sā nirujjhati, sā vūpasammati. seyyathāpi, bhikkhave, dvinnaṃ kaṭṭhānaṃ saṅghaṭṭanasamodhānā {saṅkhattā tassa samodhānā (syā. kaṃ.) saṅghattā tassa samodhānā (ka.) saṃ. ni. 2.62 passitabbaṃ} usmā jāyati, tejo abhinibbattati. tesaṃyeva kaṭṭhānaṃ nānābhāvā vinikkhepā, yā tajjā usmā, sā nirujjhati, sā vūpasammati. evameva kho, bhikkhave, imā tisso vedanā phassajā phassamūlakā phassanidānā phassapaccayā. tajjaṃ phassaṃ paṭicca tajjā vedanā uppajjanti. tajjassa phassassa nirodhā tajjā vedanā nirujjhantī”ti. dasamaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, ba loại cảm thọ này sanh từ xúc, có xúc làm gốc, lấy xúc làm duyên và điều kiện. Ba cảm thọ đó là gì?

Lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ (không khổ không lạc).

“Này chư Tỳ khưu, do được trải nghiệm với cảnh vừa ý, lạc thọ khởi lên.
Khi xúc ấy chấm dứt, thì cảm thọ tương ứng — tức lạc thọ — cũng chấm dứt và tan biến.

“Do trải nghiệm với cảnh trung tính, cảm thọ  xả khởi lên.
Khi xúc ấy chấm dứt, thì cảm thọ tương ứng ấy - tức xả thọ - cũng chấm dứt và tan biến.

“Do trải nghiệm với cảnh vừa trái ý, khổ thọ khởi lên.

Khi xúc ấy chấm dứt, thì khổ thọ tương ứng ấy - tức khổ thọ - cũng chấm dứt và tan biến.

“Này chư Tỳ khưu, ví như lửa được sinh ra do sự ma sát giữa hai thanh gỗ, nhưng khi hai thanh gỗ ấy được tách rời và đặt sang một bên, thì nhiệt và lửa cũng tắt dần và biến mất. Cũng vậy, ba loại cảm thọ này được sanh từ xúc, có xúc làm gốc, lấy xúc làm duyên và điều kiện. Khi có xúc phù hợp thì cảm thọ tương ứng sanh khởi; khi xúc ấy chấm dứt, thì cảm thọ cũng chấm dứt.”

Chú Thích

Theo Sớ giải thì cả hai bài kinh trên được Đức Phật dạy cho người tu thiền tứ niệm xứ hay thiền minh sát (vipassana) để quán chiếu cảm thọ.

Một vấp váp lớn đối với hành giả tu thiền quán là sau thời gian dài tu tập thường tạo nên cảm thọ dễ chịu do “an tịnh thân hành” và “an tịnh tâm hành”. Những cảm thọ thư giãn, nhẹ nhàng nầy nếu không khéo quán sát sẽ trở thành điểm vướng vấp.

Bất cứ cảm thọ nào dù khổ, lạc, bất khổ bất lạc đều là cảm thọ. Cảm thọ nào cũng vô thường, do vậy, không nên làm điều để bám chấp.

Một cách buông xả được Đức Phật dạy cho hành giả là sự quán chiếu đến từ “xúc"  tức sự giao thoa của căn, cảnh, thức. Xúc vô thường thì thọ cũng vô thường. Cảnh xuất hiện thì xúc, thọ sanh khởi. Cảnh biến đổi thì xúc, thọ cũng biến đối. Với sự nhận thức nầy thì hành giả chẳng những không bám chấp vào cảnh, vào xúc, mà còn không nuôi ý nghĩ an lập trên cảm thọ. Trong cái nhìn của hành giả tu thiền quán, tất cả cảm thọ chỉ là dòng chảy sinh diệt.

Sớ Giải

256-257. aṭṭhame imameva phassaṃ paṭiccāti vutte bujjhanakānaṃ ajjhāsayena vuttaṃ, atthato panetaṃ ninnānākaraṇaṃ. kāyova hi ettha phassoti vutto. navamaṃ uttānameva.

256–257.“Aṭṭhame imameva phassaṃ paṭiccāti vutte” – Trong bài kinh thứ tám, câu “dựa vào chính xúc này” được nói ra theo chiều hướng phù hợp với căn tánh của những người có khả năng giác ngộ (bujjhanakānaṃ ajjhāsaya), tức là nói theo cách dễ hiểu cho người nghe.

Tuy nhiên, về mặt ý nghĩa sâu xa (atthato), thì điều này chỉ là một cách nói khác (ninnānākaraṇaṃ) để chỉ cùng một pháp.

Bởi vì ở đây, chính thân (kāya) được nói là xúc (phassa).

“Navamaṃ uttānameva” – Còn bài kinh thứ chín (Navamaṃ), thì đã rõ ràng, minh bạch, không cần giải thích thêm.

258. dasame sukhavedaniyanti sukhavedanāya paccayabhūtaṃ. sesesupi eseva nayo. anupadavaṇṇanā panettha heṭṭhā vitthāritāva. imasmiṃ suttadvaye sammasanacāravedanā kathitā.

258. Trong bài kinh thứ mười: “Sukhavedanīya” nghĩa là “cái làm duyên cho lạc thọ”. Với các loại cảm thọ khác (khổ thọ, xả thọ) thì cách giải thích cũng giống như vậy. Phần Sớ giải từng bước (anupada-vaṇṇanā) cho đoạn này đã được giải thích chi tiết ở phần trước rồi. Trong hai bài kinh này, Đức Phật giảng dạy về cách quán sát cảm thọ trong quá trình hành thiền (sammasana-cāra-vedanā) — tức là quán cảm thọ theo chiều sanh–diệt một cách liên tục trong thiền minh sát.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

9. IX. Vô Thường (S.iv,214)

1-2) ...

3) -- Có ba thọ này, này các Tỷ-kheo, vô thường, hữu vi, do duyên sanh, chịu sự đoạn tận, chịu sự tiêu vong, chịu sự ly tham, chịu sự đoạn diệt.

4) Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.

5) Ba thọ này, này các Tỷ-kheo, là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, chịu sự đoạn tận, chịu sự tiêu vong, chịu sự ly tham, chịu sự đoạn diệt.

10. X. Căn Bản Của Xúc (S.iv,215)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này do xúc sanh, lấy xúc làm căn bản, lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm trợ duyên.

4) Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.

5) Do xúc được cảm thọ là lạc, này các Tỷ-kheo, lạc thọ sanh. Do sự đoạn diệt của xúc ấy được cảm thọ là lạc, lạc thọ ấy khởi lên do duyên xúc tương ứng được cảm thọ là lạc, lạc thọ ấy đoạn diệt, được tịnh chỉ.

6) Do xúc được cảm thọ là khổ, này các Tỷ-kheo, khổ thọ sanh. Do sự đoạn diệt của xúc ấy được cảm thọ là khổ, khổ thọ ấy khởi lên do duyên xúc tương ứng được cảm thọ là khổ, khổ thọ ấy đoạn diệt, được tịnh chỉ.

7) Do xúc được cảm thọ là bất khổ bất lạc, này các Tỷ-kheo, bất khổ bất lạc thọ sanh. Do sự đoạn diệt của xúc ấy được cảm thọ là bất khổ bất lạc, bất khổ bất lạc ấy khởi lên do duyên xúc tương ứng được cảm thọ là bất khổ bất lạc, bất khổ bất lạc thọ ấy đoạn diệt, được tịnh chỉ.

8) Ví như, này các Tỷ-kheo, hai khúc gỗ cọ xát nhau, đem đến gần nhau, nên sức nóng sanh ra, lửa được hiện hữu. Khi hai khúc gỗ ấy bị phân ly tuyệt duyên, thời sức nóng khởi lên do duyên ấy được đoạn diệt, được tịnh chỉ.

9) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ba thọ này do xúc sanh, lấy xúc làm căn bản, lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm trợ duyên, do duyên xúc tương ứng, các thọ tương ứng, tương ứng, khởi lên. Do sự đoạn diệt của xúc tương ứng, tương ứng các thọ tương ứng, tương ứng được đoạn diệt.

-ooOoo-