|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 14 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH
VĂN
Kinh Vô Thường
257. “tisso imā, bhikkhave,
vedanā aniccā saṅkhatā
paṭiccasamuppannā
khayadhammā vayadhammā
virāgadhammā nirodhadhammā.
katamā tisso? sukhā vedanā,
dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā — imā
kho, bhikkhave, tisso vedanā
aniccā saṅkhatā
paṭiccasamuppannā
khayadhammā vayadhammā
virāgadhammā
nirodhadhammā”ti. navamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, có ba loại
cảm thọ này là vô thường, do
duyên mà sanh, khởi lên tùy
thuộc điều kiện, chịu sự
hoại diệt, chịu sự biến đổi,
chịu sự phai nhạt, và chấm
dứt. Ba cảm thọ đó là gì?
Kinh Có Gốc Từ Xúc
258. “tisso imā, bhikkhave,
vedanā phassajā phassamūlakā
phassanidānā phassapaccayā.
katamā tisso? sukhā vedanā,
dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā.
sukhavedaniyaṃ, bhikkhave,
phassaṃ paṭicca uppajjati
sukhā vedanā. tasseva
sukhavedaniyassa phassassa
nirodhā, yaṃ tajjaṃ
vedayitaṃ sukhavedaniyaṃ
phassaṃ paṭicca uppannā
sukhā vedanā, sā nirujjhati,
sā vūpasammati.
dukkhavedaniyaṃ, bhikkhave,
phassaṃ paṭicca uppajjati
dukkhā vedanā. tasseva
dukkhavedaniyassa phassassa
nirodhā, yaṃ tajjaṃ
vedayitaṃ dukkhavedaniyaṃ
phassaṃ paṭicca uppannā
dukkhā vedanā, sā
nirujjhati, sā vūpasammati.
adukkhamasukhavedaniyaṃ,
bhikkhave, phassaṃ paṭicca
uppajjati adukkhamasukhā
vedanā. tasseva
adukkhamasukhavedaniyassa
phassassa nirodhā, yaṃ
tajjaṃ vedayitaṃ
adukkhamasukhavedaniyaṃ
phassaṃ paṭicca uppannā
adukkhamasukhā vedanā, sā
nirujjhati, sā vūpasammati.
seyyathāpi, bhikkhave,
dvinnaṃ kaṭṭhānaṃ
saṅghaṭṭanasamodhānā
{saṅkhattā tassa samodhānā
(syā. kaṃ.) saṅghattā tassa
samodhānā (ka.) saṃ. ni.
2.62 passitabbaṃ} usmā
jāyati, tejo abhinibbattati.
tesaṃyeva kaṭṭhānaṃ
nānābhāvā vinikkhepā, yā
tajjā usmā, sā nirujjhati,
sā vūpasammati. evameva kho,
bhikkhave, imā tisso vedanā
phassajā phassamūlakā
phassanidānā phassapaccayā.
tajjaṃ phassaṃ paṭicca tajjā
vedanā uppajjanti. tajjassa
phassassa nirodhā tajjā
vedanā nirujjhantī”ti.
dasamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, ba loại
cảm thọ này sanh từ xúc, có
xúc làm gốc, lấy xúc làm
duyên và điều kiện. Ba cảm
thọ đó là gì?
Lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ
(không khổ không lạc).
“Này chư Tỳ khưu, do được
trải nghiệm với cảnh vừa ý,
lạc thọ khởi lên.
“Do trải nghiệm với cảnh
trung tính, cảm thọ
xả khởi lên.
“Do trải nghiệm với cảnh vừa
trái ý, khổ thọ khởi lên.
Khi xúc ấy chấm dứt, thì khổ
thọ tương ứng ấy - tức khổ
thọ - cũng chấm dứt và tan
biến.
“Này chư Tỳ khưu, ví như lửa
được sinh ra do sự ma sát
giữa hai thanh gỗ, nhưng khi
hai thanh gỗ ấy được tách
rời và đặt sang một bên, thì
nhiệt và lửa cũng tắt dần và
biến mất. Cũng vậy, ba loại
cảm thọ này được sanh từ
xúc, có xúc làm gốc, lấy xúc
làm duyên và điều kiện. Khi
có xúc phù hợp thì cảm thọ
tương ứng sanh khởi; khi xúc
ấy chấm dứt, thì cảm thọ
cũng chấm dứt.”
Chú Thích
Theo Sớ giải thì cả hai bài
kinh trên được Đức Phật dạy
cho người tu thiền tứ niệm
xứ hay thiền minh sát
(vipassana) để quán chiếu
cảm thọ.
Một vấp váp lớn đối với hành
giả tu thiền quán là sau
thời gian dài tu tập thường
tạo nên cảm thọ dễ chịu do
“an tịnh thân hành” và “an
tịnh tâm hành”. Những cảm
thọ thư giãn, nhẹ nhàng nầy
nếu không khéo quán sát sẽ
trở thành điểm vướng vấp.
Bất cứ cảm thọ nào dù khổ,
lạc, bất khổ bất lạc đều là
cảm thọ. Cảm thọ nào cũng vô
thường, do vậy, không nên
làm điều để bám chấp.
Một cách buông xả được Đức
Phật dạy cho hành giả là sự
quán chiếu đến từ “xúc"
tức sự giao thoa của
căn, cảnh, thức. Xúc vô
thường thì thọ cũng vô
thường. Cảnh xuất hiện thì
xúc, thọ sanh khởi. Cảnh
biến đổi thì xúc, thọ cũng
biến đối. Với sự nhận thức
nầy thì hành giả chẳng những
không bám chấp vào cảnh, vào
xúc, mà còn không nuôi ý
nghĩ an lập trên cảm thọ.
Trong cái nhìn của hành giả
tu thiền quán, tất cả cảm
thọ chỉ là dòng chảy sinh
diệt.
Sớ Giải
256-257. aṭṭhame imameva
phassaṃ paṭiccāti vutte
bujjhanakānaṃ ajjhāsayena
vuttaṃ, atthato panetaṃ
ninnānākaraṇaṃ. kāyova hi
ettha phassoti vutto.
navamaṃ uttānameva.
256–257.“Aṭṭhame imameva
phassaṃ paṭiccāti vutte” –
Trong bài kinh thứ tám, câu
“dựa vào chính xúc này” được
nói ra theo chiều hướng phù
hợp với căn tánh của những
người có khả năng giác ngộ
(bujjhanakānaṃ ajjhāsaya),
tức là nói theo cách dễ hiểu
cho người nghe.
Tuy nhiên, về mặt ý nghĩa
sâu xa (atthato), thì điều
này chỉ là một cách nói khác
(ninnānākaraṇaṃ) để chỉ cùng
một pháp.
Bởi vì ở đây, chính thân
(kāya) được nói là xúc
(phassa).
“Navamaṃ uttānameva”
– Còn bài kinh thứ chín
(Navamaṃ), thì đã rõ ràng,
minh bạch, không cần giải
thích thêm.
258. dasame sukhavedaniyanti
sukhavedanāya paccayabhūtaṃ.
sesesupi eseva nayo.
anupadavaṇṇanā panettha
heṭṭhā vitthāritāva. imasmiṃ
suttadvaye
sammasanacāravedanā kathitā. 258. Trong bài kinh thứ mười: “Sukhavedanīya” nghĩa là “cái làm duyên cho lạc thọ”. Với các loại cảm thọ khác (khổ thọ, xả thọ) thì cách giải thích cũng giống như vậy. Phần Sớ giải từng bước (anupada-vaṇṇanā) cho đoạn này đã được giải thích chi tiết ở phần trước rồi. Trong hai bài kinh này, Đức Phật giảng dạy về cách quán sát cảm thọ trong quá trình hành thiền (sammasana-cāra-vedanā) — tức là quán cảm thọ theo chiều sanh–diệt một cách liên tục trong thiền minh sát.
9. IX. Vô Thường (S.iv,214)
1-2) ...
3) -- Có ba thọ này, này các
Tỷ-kheo, vô thường, hữu vi,
do duyên sanh, chịu sự đoạn
tận, chịu sự tiêu vong, chịu
sự ly tham, chịu sự đoạn
diệt.
4) Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc
thọ.
5) Ba thọ này, này các
Tỷ-kheo, là vô thường, hữu
vi, do duyên sanh, chịu sự
đoạn tận, chịu sự tiêu vong,
chịu sự ly tham, chịu sự
đoạn diệt.
10. X. Căn Bản Của Xúc (S.iv,215)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có ba
thọ này do xúc sanh, lấy xúc
làm căn bản, lấy xúc làm
nhân duyên, lấy xúc làm trợ
duyên.
4) Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc
thọ.
5) Do xúc được cảm thọ là
lạc, này các Tỷ-kheo, lạc
thọ sanh. Do sự đoạn diệt
của xúc ấy được cảm thọ là
lạc, lạc thọ ấy khởi lên do
duyên xúc tương ứng được cảm
thọ là lạc, lạc thọ ấy đoạn
diệt, được tịnh chỉ.
6) Do xúc được cảm thọ là
khổ, này các Tỷ-kheo, khổ
thọ sanh. Do sự đoạn diệt
của xúc ấy được cảm thọ là
khổ, khổ thọ ấy khởi lên do
duyên xúc tương ứng được cảm
thọ là khổ, khổ thọ ấy đoạn
diệt, được tịnh chỉ.
7) Do xúc được cảm thọ là
bất khổ bất lạc, này các
Tỷ-kheo, bất khổ bất lạc thọ
sanh. Do sự đoạn diệt của
xúc ấy được cảm thọ là bất
khổ bất lạc, bất khổ bất lạc
ấy khởi lên do duyên xúc
tương ứng được cảm thọ là
bất khổ bất lạc, bất khổ bất
lạc thọ ấy đoạn diệt, được
tịnh chỉ.
8) Ví như, này các Tỷ-kheo,
hai khúc gỗ cọ xát nhau, đem
đến gần nhau, nên sức nóng
sanh ra, lửa được hiện hữu.
Khi hai khúc gỗ ấy bị phân
ly tuyệt duyên, thời sức
nóng khởi lên do duyên ấy
được đoạn diệt, được tịnh
chỉ.
9) Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, ba thọ này do xúc
sanh, lấy xúc làm căn bản,
lấy xúc làm nhân duyên, lấy
xúc làm trợ duyên, do duyên
xúc tương ứng, các thọ tương
ứng, tương ứng, khởi lên. Do
sự đoạn diệt của xúc tương
ứng, tương ứng các thọ tương
ứng, tương ứng được đoạn
diệt. -ooOoo- |