BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 15 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm Một Mình- SN. 35. 259. Bài 457. AN TỊNH DẦN DÀ VÀ TỊCH TỊNH RỐT RÁO - Kinh Một Mình (Rahogatasuttaṃ)
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-457.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngHành trình tu chứng là chuổi dài của sự đoạn diệt. Giống như cách nói “học là để phá cái dốt”. Càng học là càng xoá đi những thiếu hiểu biết. Dĩ nhiên ở cứu cánh tối hậu là chấm dứt tất cả khổ nhưng trên mỗi bước của hành trình đều có sự vượt thoát. Trên thực tế thì Đức Phật dạy cả hai đốn ngộ và tiệm tu chứ không phải chỉ có một trong hai như thường tranh luận.

 KINH VĂN

259. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “idha mayhaṃ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi — ‘tisso vedanā vuttā bhagavatā. sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā — imā tisso vedanā vuttā bhagavatā. vuttaṃ kho panetaṃ bhagavatā — ‘yaṃ kiñci vedayitaṃ taṃ dukkhasmin’ti. kiṃ nu kho etaṃ bhagavatā sandhāya bhāsitaṃ — ‘yaṃ kiñci vedayitaṃ taṃ dukkhasmin’”ti?

“sādhu sādhu, bhikkhu! tisso imā, bhikkhu, vedanā vuttā mayā. sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā — imā tisso vedanā vuttā mayā. vuttaṃ kho panetaṃ, bhikkhu, mayā — ‘yaṃ kiñci vedayitaṃ, taṃ dukkhasmin’ti. taṃ kho panetaṃ, bhikkhu, mayā saṅkhārānaṃyeva aniccataṃ sandhāya bhāsitaṃ — ‘yaṃ kiñci vedayitaṃ taṃ dukkhasmin’ti. taṃ kho panetaṃ, bhikkhu, mayā saṅkhārānaṃyeva khayadhammataṃ ... pe ... vayadhammataṃ ... pe ... virāgadhammataṃ ... pe ... nirodhadhammataṃ ... pe ... vipariṇāmadhammataṃ sandhāya bhāsitaṃ — ‘yaṃ kiñci vedayitaṃ taṃ dukkhasmin’ti. atha kho pana, bhikkhu, mayā anupubbasaṅkhārānaṃ nirodho akkhāto. paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa vācā niruddhā hoti. dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti. tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa pīti niruddhā hoti. catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa assāsapassāsā niruddhā honti. ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti. viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti. ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā niruddhā hoti. nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā hoti. saññāvedayitanirodhaṃ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti. khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo niruddho hoti, doso niruddho hoti, moho niruddho hoti. atha kho, bhikkhu, mayā anupubbasaṅkhārānaṃ vūpasamo akkhāto. paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa vācā vūpasantā hoti. dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārā vūpasantā honti ... pe ... saññāvedayitanirodhaṃ samāpannassa saññā ca vedanā ca vūpasantā honti. khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo vūpasanto hoti, doso vūpasanto hoti, moho vūpasanto hoti. chayimā, bhikkhu, passaddhiyo. paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa vācā paṭippassaddhā hoti. dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārā paṭippassaddhā honti. tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa pīti paṭippassaddhā hoti. catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa assāsapassāsā paṭippassaddhā honti. saññāvedayitanirodhaṃ samāpannassa saññā ca vedanā ca paṭippassaddhā honti. khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo paṭippassaddho hoti, doso paṭippassaddho hoti, moho paṭippassaddho hotī”ti. paṭhamaṃ.

Lúc bấy giờ, một vị Tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, khi con sống một mình trong nơi vắng vẻ, một sự suy tư khởi lên trong tâm con như sau: ‘Ba loại cảm thọ đã được Thế Tôn thuyết giảng: lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ. Nhưng Thế Tôn lại dạy rằng: “Cái gì được cảm nhận thì đều là khổ.”  Vậy lời dạy này của Thế Tôn được nói trong ý nghĩa nào?’”

[Đức Thế Tôn dạy:]

“Tốt lắm, tốt lắm, này Tỳ khưu! Ba loại cảm thọ đã được Ta giảng dạy: lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ. Và Ta cũng đã nói rằng: ‘Cái gì được cảm nhận thì đều là khổ.’ Điều đó Ta đã nói với ý nghĩa là: tất cả các hành (saṅkhāra) đều là vô thường. Vì các hành phải chịu sự biến đồi... phải chịu sự tàn lụn... phải chịu sự hư huỷ... phải chịu sự thay đổi ... phải chịu sự hoại diệt.”

“Này Tỳ khưu, Ta cũng đã giảng dạy sự đoạn diệt tuần tự của các hành:

  • Với người chứng đắc sơ thiền, lời nói đã đoạn diệt.
  • Với người chứng đắc nhị thiền, tầm và tứ đã đoạn diệt.
  • Với người chứng tam thiền, hỷ lạc đã đoạn diệt.
  • Với người chứng tứ thiền, hơi thở ra vào đã đoạn diệt.
  • Với người chứng vô biên xứ không, tri giác về sắc đã đoạn diệt.
  • Với người chứng vô biên xứ thức, tri giác về vô biên xứ không đã đoạn diệt.
  • Với người chứng vô sở hữu xứ, tri giác về vô biên xứ thức đã đoạn diệt.
  • Với người chứng phi tưởng phi phi tưởng xứ, tri giác về vô sở hữu xứ đã đoạn diệt.
  • Với người chứng diệt thọ tưởng định, cảm thọ và tri giác đều đoạn diệt.
  • Với vị Tỳ khưu đã đoạn tận lậu hoặc thì tham ái, sân hận, si mê đã đoạn diệt.”

“Này Tỳ khưu, Ta cũng đã giảng dạy về sự lắng dịu tuần tự của các hành:

  • Với người chứng sơ thiền, lời nói đã lắng dịu
  • .....
  • …..
  • Với người chứng diệt thọ tưởng định, cảm thọ và tri giác đã lắng dịu.
  • Với vị A-la-hán, tham, sân, si đã lắng dịu.”

“Này Tỳ khưu, có sáu loại sự an tịnh (passaddhi):

  • Với người chứng sơ thiền, lời nói được an tịnh.
  • Với người chứng nhị thiền, tầm và tứ được an tịnh.
  • Với người chứng tam thiền, hỷ lạc được an tịnh.
  • Với người chứng tứ thiền, hơi thở ra vào được an tịnh.
  • Với người chứng diệt thọ tưởng định, cảm thọ và tri giác được an tịnh.
  • Với vị A-la-hán, tham ái, sân hận và si mê được an tịnh.”

Chú Thích

Tựa kinh Rahogata trích từ câu nói của vị tỳ khưu “rahogatassa paṭisallīnassa” có nghĩa là đi đến chỗ độc cư an tịnh. Mặc dù chi tiết nầy không quan trọng đối với nội dung Phật ngôn nhưng dường như có sự liên đới giữa nghĩa đen và nghĩa bóng nên chư vị A xà kết tập chọn là tựa kinh.

Theo Sớ giải, vô thường của các hành (saṅkhāra) cũng chính là vô thường của cảm thọ, và vô thường này là sự chết. Không có khổ nào lớn hơn cái chết — với ý nghĩa đó mà nói rằng: “Tất cả cảm thọ đều là khổ.” (Về lời dạy này, cũng có thể xem trong Kinh Tăng Chi 12.32 [I 53,20–21] và Trung Bộ Kinh I 208,27). Tuy nhiên, giải thích của Sớ giải về sự chết ở đây không thật sự thuyết phục. Lý do thực sự mà “tất cả cảm thọ là khổ” là vì  Đức Phật dạy: Tất cả cảm thọ đều vô thường, nên không thể đem lại hạnh phúc hay sự an ổn lâu dài.

Câu Anupubbasankhārānaṃ nirodho – "Sự đoạn diệt tuần tự của các hành" hàm ý ngoài sự tịch tịnh của cảm thọ mang tính phổ quát và toàn diện thì Đức Phật còn dạy về những sự tịch tịnh có thể tìm thấy trong hành trình tu tập mang tính tiệm tiến nhưng cho thấy chính sự tịch tịnh đó cũng mang lại an lạc ở mức độ nào đó.

Thuật ngữ nirodha thường được dịch là đoạn diệt, tịch tịnh mang ý nghĩa tích cực như là sự hết bệnh, sự dứt khổ, sự giải thoát. Sự tịch tịnh  trong bài kinh nầy mang cả hai ý nghĩa rốt ráo (sự tịch tịnh các pháp hữu vi) và tiệm tiến với sự chứng đạt các thiền chứng. Khi chứng một tầng thiền rồi có thể vượt lên để đạt đến tầng thiền cao hơn cũng được gọi là “một giải thoát”

Ở phần sau, các khái niệm như “sự lắng dịu” (vūpasama) và “sự an tịnh” (passaddhi – Hoà thượng Minh Châu dịch là khinh an) được nêu lên phù hợp với khuynh hướng của những người có khả năng giác ngộ qua những cách hiểu khác nhau của bài pháp.

Trong cả ba phân đoạn, theo Sớ giải, thì đều bao gồm cả bốn thiền sắc giới, bốn thiền vô sắc giới, diệt thọ tưởng định, và A la hán đạo.

Sớ Giải

259. rahogatavaggassa paṭhame yaṃ kiñci vedayitaṃ, taṃ dukkhasminti yaṃ kiñci vedayitaṃ, taṃ sabbaṃ dukkhanti attho. saṅkhārānaṃyeva aniccatantiādīsu yā esā saṅkhārānaṃ aniccatā khayadhammatā vayadhammatā vipariṇāmadhammatā, etaṃ sandhāya yaṃ kiñci vedayitaṃ, taṃ dukkhanti mayā bhāsitanti dīpeti. yā hi saṅkhārānaṃ aniccatā, vedanānampi sā aniccatā eva. aniccatā ca nāmesā maraṇaṃ, maraṇato uttari dukkhaṃ nāma natthīti iminā adhippāyena sabbā vedanā dukkhāti vuttā. atha kho pana bhikkhu mayāti idaṃ na kevalaṃ ahaṃ vedanānaṃyeva nirodhaṃ paññāpemi, imesampi dhammānaṃ nirodhaṃ paññāpemīti dassanatthaṃ āraddhaṃ. vūpasamo ca passaddhiyo ca evarūpāya desanāya bujjhanakānaṃ ajjhāsayena vuttā. saññāvedayitanirodhaggahaṇena cettha cattāro āruppā gahitāva hontīti veditabbā.

Sớ giải bài kinh thứ nhất trong phẩm "Ở Nơi Vắng Lặng" - Rahogatavagga)

"Yaṃ kiñci vedayitaṃ, taṃ dukkhasminti" –
"Bất kỳ cảm thọ nào được cảm nhận, cái đó là khổ" — nghĩa là:
"Tất cả những gì được cảm nhận, đều là khổ."

Về câu "vì các hành là vô thường..." (saṅkhārānaṃyeva aniccatāntiādīsu):

Vì các hành phải chịu sự biến đồi... phải chịu sự tàn lụn... phải chịu sự hư huỷ... phải chịu sự thay đổi ... phải chịu sự hoại diệt —chính là điều mà Đức Thế Tôn muốn chỉ rõ khi nói:“Tất cả những gì được cảm nhận, đều là khổ.”

Vì vô thường của các hành cũng là vô thường của cảm thọ.
Và vô thường này, rốt ráo mà nói, chính là sự chết.
Không có gì khổ hơn sự chết. Với ý nghĩa đó mà Đức Phật dạy:"Tất cả cảm thọ là khổ."

"Atha kho pana bhikkhu mayā..." –
Đoạn này có ý nhấn mạnh: "Này Tỳ khưu, Ta không chỉ giảng dạy về sự đoạn diệt của cảm thọ, mà còn giảng dạy về sự đoạn diệt của các pháp khác nữa."

Còn những phần nói về "sự lắng dịu" (vūpasama) và "sự an tịnh" (passaddhi)
được đề cập để phù hợp với căn cơ, khuynh hướng và khả năng hiểu pháp của những người có thể chứng ngộ bằng loại pháp thoại đó.

Khi đề cập đến "diệt thọ tưởng định" (saññāvedayita-nirodha),
thì bốn tầng vô sắc định (arūppā) cũng được hàm ý bao gồm trong đoạn kinh này — điều đó cần được hiểu rõ.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình

11. I. Sống Một Mình (S.iv,216)

1) ...

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: "Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ". Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ"?

4) -- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ".

5) Nhưng này Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các hành là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời nói được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được đoạn diệt; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được đoạn diệt; khi chứng Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được đoạn diệt. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được đoạn diệt, sân được đoạn diệt, si được đoạn diệt.

6) Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tịnh chỉ các hành là tuần tự; khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được tịnh chỉ; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được tịnh chỉ... khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được tịnh chỉ. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được tịnh chỉ.

7) Này các Tỷ-kheo, có sáu khinh an này, khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được khinh an; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được khinh an; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh an; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được khinh an; khi chứng Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng được khinh an; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng được khinh an; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được khinh an. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.

-ooOoo-