|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 15 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH
VĂN
259. atha kho aññataro
bhikkhu yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ
nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca —
“idha mayhaṃ, bhante,
rahogatassa paṭisallīnassa
evaṃ cetaso parivitakko
udapādi — ‘tisso vedanā
vuttā bhagavatā. sukhā
vedanā, dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā — imā
tisso vedanā vuttā
bhagavatā. vuttaṃ kho
panetaṃ bhagavatā — ‘yaṃ
kiñci vedayitaṃ taṃ
dukkhasmin’ti. kiṃ nu kho
etaṃ bhagavatā sandhāya
bhāsitaṃ — ‘yaṃ kiñci
vedayitaṃ taṃ
dukkhasmin’”ti?
“sādhu sādhu, bhikkhu! tisso
imā, bhikkhu, vedanā vuttā
mayā. sukhā vedanā, dukkhā
vedanā, adukkhamasukhā
vedanā — imā tisso vedanā
vuttā mayā. vuttaṃ kho
panetaṃ, bhikkhu, mayā —
‘yaṃ kiñci vedayitaṃ, taṃ
dukkhasmin’ti. taṃ kho
panetaṃ, bhikkhu, mayā
saṅkhārānaṃyeva aniccataṃ
sandhāya bhāsitaṃ — ‘yaṃ
kiñci vedayitaṃ taṃ
dukkhasmin’ti. taṃ kho
panetaṃ, bhikkhu, mayā
saṅkhārānaṃyeva
khayadhammataṃ ... pe ...
vayadhammataṃ ... pe ...
virāgadhammataṃ ... pe ...
nirodhadhammataṃ ... pe ...
vipariṇāmadhammataṃ sandhāya
bhāsitaṃ — ‘yaṃ kiñci
vedayitaṃ taṃ dukkhasmin’ti.
atha kho pana, bhikkhu, mayā
anupubbasaṅkhārānaṃ nirodho
akkhāto. paṭhamaṃ jhānaṃ
samāpannassa vācā niruddhā
hoti. dutiyaṃ jhānaṃ
samāpannassa vitakkavicārā
niruddhā honti. tatiyaṃ
jhānaṃ samāpannassa pīti
niruddhā hoti. catutthaṃ
jhānaṃ samāpannassa
assāsapassāsā niruddhā
honti. ākāsānañcāyatanaṃ
samāpannassa rūpasaññā
niruddhā hoti.
viññāṇañcāyatanaṃ
samāpannassa
ākāsānañcāyatanasaññā
niruddhā hoti.
ākiñcaññāyatanaṃ
samāpannassa
viññāṇañcāyatanasaññā
niruddhā hoti.
nevasaññānāsaññāyatanaṃ
samāpannassa
ākiñcaññāyatanasaññā
niruddhā hoti.
saññāvedayitanirodhaṃ
samāpannassa saññā ca vedanā
ca niruddhā honti.
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo
niruddho hoti, doso niruddho
hoti, moho niruddho hoti.
atha kho, bhikkhu, mayā
anupubbasaṅkhārānaṃ vūpasamo
akkhāto. paṭhamaṃ jhānaṃ
samāpannassa vācā vūpasantā
hoti. dutiyaṃ jhānaṃ
samāpannassa vitakkavicārā
vūpasantā honti ... pe ...
saññāvedayitanirodhaṃ
samāpannassa saññā ca vedanā
ca vūpasantā honti.
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo
vūpasanto hoti, doso
vūpasanto hoti, moho
vūpasanto hoti. chayimā,
bhikkhu, passaddhiyo.
paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa
vācā paṭippassaddhā hoti.
dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa
vitakkavicārā paṭippassaddhā
honti. tatiyaṃ jhānaṃ
samāpannassa pīti
paṭippassaddhā hoti.
catutthaṃ jhānaṃ
samāpannassa assāsapassāsā
paṭippassaddhā honti.
saññāvedayitanirodhaṃ
samāpannassa saññā ca vedanā
ca paṭippassaddhā honti.
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo
paṭippassaddho hoti, doso
paṭippassaddho hoti, moho
paṭippassaddho hotī”ti.
paṭhamaṃ.
Lúc bấy giờ, một vị Tỳ khưu
đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ
Ngài, rồi ngồi xuống một bên
và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, khi con sống
một mình trong nơi vắng vẻ,
một sự suy tư khởi lên trong
tâm con như sau: ‘Ba loại
cảm thọ đã được Thế Tôn
thuyết giảng: lạc thọ, khổ
thọ, và xả thọ. Nhưng Thế
Tôn lại dạy rằng: “Cái gì
được cảm nhận thì đều là
khổ.”
Vậy lời dạy này của
Thế Tôn được nói trong ý
nghĩa nào?’”
[Đức Thế Tôn dạy:]
“Tốt lắm, tốt lắm, này Tỳ
khưu! Ba loại cảm thọ đã
được Ta giảng dạy: lạc thọ,
khổ thọ, và xả thọ. Và Ta
cũng đã nói rằng: ‘Cái gì
được cảm nhận thì đều là
khổ.’ Điều đó Ta đã nói với
ý nghĩa là: tất cả các hành
(saṅkhāra) đều là vô thường.
Vì các hành phải chịu sự
biến đồi... phải chịu sự tàn
lụn... phải chịu sự hư
huỷ... phải chịu sự thay đổi
... phải chịu sự hoại diệt.”
“Này Tỳ khưu, Ta cũng đã
giảng dạy sự đoạn diệt tuần
tự của các hành:
“Này Tỳ khưu, Ta cũng đã
giảng dạy về sự lắng dịu
tuần tự của các hành:
“Này Tỳ khưu, có sáu loại sự
an tịnh (passaddhi):
Chú Thích
Tựa kinh Rahogata trích từ
câu nói của vị tỳ khưu
“rahogatassa paṭisallīnassa”
có nghĩa là đi đến chỗ độc
cư an tịnh. Mặc dù chi tiết
nầy không quan trọng đối với
nội dung Phật ngôn nhưng
dường như có sự liên đới
giữa nghĩa đen và nghĩa bóng
nên chư vị A xà kết tập chọn
là tựa kinh.
Theo Sớ giải, vô thường của
các hành (saṅkhāra) cũng
chính là vô thường của cảm
thọ, và vô thường này là sự
chết. Không có khổ nào lớn
hơn cái chết — với ý nghĩa
đó mà nói rằng: “Tất cả cảm
thọ đều là khổ.” (Về lời dạy
này, cũng có thể xem trong
Kinh Tăng Chi 12.32 [I
53,20–21] và Trung Bộ Kinh I
208,27). Tuy nhiên, giải
thích của Sớ giải về sự chết
ở đây không thật sự thuyết
phục. Lý do thực sự mà “tất
cả cảm thọ là khổ” là vì
Đức Phật dạy: Tất cả
cảm thọ đều vô thường, nên
không thể đem lại hạnh phúc
hay sự an ổn lâu dài.
Câu Anupubbasankhārānaṃ
nirodho – "Sự đoạn diệt tuần
tự của các hành" hàm ý ngoài
sự tịch tịnh của cảm thọ
mang tính phổ quát và toàn
diện thì Đức Phật còn dạy về
những sự tịch tịnh có thể
tìm thấy trong hành trình tu
tập mang tính tiệm tiến
nhưng cho thấy chính sự tịch
tịnh đó cũng mang lại an lạc
ở mức độ nào đó.
Thuật ngữ nirodha thường
được dịch là đoạn diệt, tịch
tịnh mang ý nghĩa tích cực
như là sự hết bệnh, sự dứt
khổ, sự giải thoát. Sự tịch
tịnh
trong bài kinh nầy
mang cả hai ý nghĩa rốt ráo
(sự tịch tịnh các pháp hữu
vi) và tiệm tiến với sự
chứng đạt các thiền chứng.
Khi chứng một tầng thiền rồi
có thể vượt lên để đạt đến
tầng thiền cao hơn cũng được
gọi là “một giải thoát”
Ở phần sau, các khái niệm
như “sự lắng dịu” (vūpasama)
và “sự an tịnh” (passaddhi –
Hoà thượng Minh Châu dịch là
khinh an) được nêu lên phù
hợp với khuynh hướng của
những người có khả năng giác
ngộ qua những cách hiểu khác
nhau của bài pháp.
Trong cả ba phân đoạn, theo
Sớ giải, thì đều bao gồm cả
bốn thiền sắc giới, bốn
thiền vô sắc giới, diệt thọ
tưởng định, và A la hán đạo.
Sớ Giải
259. rahogatavaggassa
paṭhame yaṃ kiñci vedayitaṃ,
taṃ dukkhasminti yaṃ kiñci
vedayitaṃ, taṃ sabbaṃ
dukkhanti attho.
saṅkhārānaṃyeva
aniccatantiādīsu yā esā
saṅkhārānaṃ aniccatā
khayadhammatā vayadhammatā
vipariṇāmadhammatā, etaṃ
sandhāya yaṃ kiñci
vedayitaṃ, taṃ dukkhanti
mayā bhāsitanti dīpeti. yā
hi saṅkhārānaṃ aniccatā,
vedanānampi sā aniccatā eva.
aniccatā ca nāmesā maraṇaṃ,
maraṇato uttari dukkhaṃ nāma
natthīti iminā adhippāyena
sabbā vedanā dukkhāti vuttā.
atha kho pana bhikkhu mayāti
idaṃ na kevalaṃ ahaṃ
vedanānaṃyeva nirodhaṃ
paññāpemi, imesampi
dhammānaṃ nirodhaṃ
paññāpemīti dassanatthaṃ
āraddhaṃ. vūpasamo ca
passaddhiyo ca evarūpāya
desanāya bujjhanakānaṃ
ajjhāsayena vuttā.
saññāvedayitanirodhaggahaṇena
cettha cattāro āruppā
gahitāva hontīti veditabbā.
Sớ giải bài kinh thứ nhất
trong phẩm "Ở Nơi Vắng Lặng"
- Rahogatavagga)
"Yaṃ kiñci vedayitaṃ, taṃ
dukkhasminti"
–
Về câu "vì các hành là vô
thường..."
(saṅkhārānaṃyeva
aniccatāntiādīsu):
Vì các hành phải chịu sự
biến đồi... phải chịu sự tàn
lụn... phải chịu sự hư
huỷ... phải chịu sự thay đổi
... phải chịu sự hoại diệt
—chính là điều mà Đức Thế
Tôn muốn chỉ rõ khi nói:“Tất
cả những gì được cảm nhận,
đều là khổ.”
Vì vô thường của các hành
cũng là vô thường của cảm
thọ.
"Atha kho pana bhikkhu
mayā..."
–
Còn những phần nói về "sự
lắng dịu" (vūpasama) và "sự
an tịnh" (passaddhi)
Khi đề cập đến "diệt thọ
tưởng định"
(saññāvedayita-nirodha),
Phần Hai - Phẩm Sống Một
Mình
11. I. Sống Một Mình (S.iv,216)
1) ...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến
Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống
một bên.
3) Ngồi xuống một bên,
Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, khi
con sống một mình, Thiền
tịnh, tâm tư như sau được
khởi lên: "Thế Tôn dạy có ba
thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất
khổ bất lạc thọ". Ba thọ này
được Thế Tôn thuyết dạy.
Nhưng Thế Tôn lại nói: "Phàm
cái gì được cảm thọ, cái ấy
nằm trong đau khổ". Do liên
hệ đến cái gì, lời nói này
được Thế Tôn nói lên: "Phàm
cái gì được cảm thọ, cái ấy
nằm trong đau khổ"?
4) -- Lành thay, lành thay,
này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, Ta
nói rằng có ba thọ này: lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất
lạc thọ. Ba thọ này được Ta
nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo,
Ta lại nói: "Phàm cái gì
được cảm thọ, cái ấy nằm
trong đau khổ". Chính vì
liên hệ đến tánh vô thường
của các hành mà lời ấy được
Ta nói lên: "Phàm cái gì
được cảm thọ, cái ấy nằm
trong đau khổ". Chính vì
liên hệ đến tánh đoạn tận,
tánh tiêu vong, tánh ly
tham, tánh đoạn diệt, tánh
biến hoại của các hành mà
lời ấy được Ta nói lên:
"Phàm cái gì được cảm thọ,
cái ấy nằm trong đau khổ".
5) Nhưng này Tỷ-kheo, Ta
tuyên bố rằng sự đoạn diệt
các hành là tuần tự: khi
chứng được Thiền thứ nhứt,
lời nói được đoạn diệt; khi
chứng Thiền thứ hai, tầm tứ
được đoạn diệt; khi chứng
Thiền thứ ba, hỷ được đoạn
diệt; khi chứng Thiền thứ
tư, hơi thở vô, hơi thở ra
được đoạn diệt; khi chứng
Không vô biên xứ, sắc tưởng
được đoạn diệt; khi chứng
Thức vô biên xứ, Không vô
biên xứ tưởng được đoạn
diệt; khi chứng Vô sở hữu
xứ, Thức vô biên xứ tưởng
được đoạn diệt; khi chứng
Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn
diệt; khi chứng Diệt thọ
tưởng định, tưởng và thọ
được đoạn diệt. Ðối với
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được đoạn diệt,
sân được đoạn diệt, si được
đoạn diệt.
6) Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên
bố rằng sự tịnh chỉ các hành
là tuần tự; khi chứng Thiền
thứ nhứt, lời nói được tịnh
chỉ; khi chứng Thiền thứ
hai, tầm tứ được tịnh chỉ...
khi chứng Diệt thọ tưởng
định, tưởng và thọ được tịnh
chỉ. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn
tận các lậu hoặc, tham được
tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ,
si được tịnh chỉ.
7) Này các Tỷ-kheo, có sáu
khinh an này, khi chứng
Thiền thứ nhứt, lời nói được
khinh an; khi chứng Thiền
thứ hai, tầm tứ được khinh
an; khi chứng Thiền thứ ba,
hỷ được khinh an; khi chứng
Thiền thứ tư, hơi thở vô,
hơi thở ra được khinh an;
khi chứng Không vô biên xứ,
sắc tưởng được khinh an; khi
chứng Thức vô biên xứ, Không
vô biên xứ tưởng được đoạn
diệt; khi chứng Vô sở hữu
xứ, Thức vô biên xứ tưởng
được khinh an; khi chứng Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, Vô
sở hữu xứ tưởng được khinh
an; khi chứng Diệt thọ tưởng
định, tưởng và thọ được
khinh an. Ðối với Tỷ-kheo đã
đoạn tận các lậu hoặc, tham
được khinh an, sân được
khinh an, si được khinh an.
-ooOoo- |