BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 16 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm Một Mình- SN. 35. 260, SN.35.261, SN.35.262. Bài 458.BA BÀI KINH VỀ CẢM THỌ TRONG ĐỜI SỐNG - Kinh Bầu Trời I & II, (paṭhamāakāsasuttaṃ & dutiyāakāsasuttaṃ) Kinh Khách Xá (agārasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-458.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngNhư bầu trời cao luôn là có nhiều gió từ muôn phương do áp suất và nhiệt độ nóng lạnh, cuộc sống luôn có nhiều cảm thọ dù là lạc thọ, khổ thọ, hay bất lạc bất khổ thọ. Đa thọ thì đa phiền. Thì hỗn độn. Thì bất toàn. Khi người ta có quyền hành, tiền bạc thì muốn cuộc sống diễn ra theo cách vừa ý nhất. Oái oăm thay bản chất của cuộc sống vốn vô hộ, vô chủ, vô quyền thì ai có thể khiến cho cuộc sống nầy luôn vạn sự như ý??

 KINH VĂN

12. Bầu Trời I

260. “seyyathāpi, bhikkhave, ākāse vividhā vātā vāyanti. puratthimāpi vātā vāyanti, pacchimāpi vātā vāyanti, uttarāpi vātā vāyanti, dakkhiṇāpi vātā vāyanti, sarajāpi vātā vāyanti, arajāpi vātā vāyanti, sītāpi vātā vāyanti, uṇhāpi vātā vāyanti, parittāpi vātā vāyanti, adhimattāpi vātā vāyanti. evameva kho, bhikkhave, imasmiṃ kāyasmiṃ vividhā vedanā uppajjanti, sukhāpi vedanā uppajjati, dukkhāpi vedanā uppajjati, adukkhamasukhāpi vedanā uppajjatī”ti.

“yathāpi vātā ākāse, vāyanti vividhā puthū.
puratthimā pacchimā cāpi, uttarā atha dakkhiṇā.
“sarajā arajā capi, sītā uṇhā ca ekadā.
adhimattā parittā ca, puthū vāyanti mālutā.
“tathevimasmiṃ kāyasmiṃ, samuppajjanti vedanā.
sukhadukkhasamuppatti, adukkhamasukhā ca yā.
“yato ca bhikkhu ātāpī, sampajaññaṃ na riñcati {sampajāno nirūpadhi (ka.)}
tato so vedanā sabbā, parijānāti paṇḍito.
“so vedanā pariññāya, diṭṭhe dhamme anāsavo.
kāyassa bhedā dhammaṭṭho, saṅkhyaṃ nopeti vedagū”ti. dutiyaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, cũng như các loại gió khác nhau thổi trên bầu trời: gió từ phương Đông, gió từ phương Tây, gió từ phương Bắc, gió từ phương Nam, gió có bụi và gió không bụi, gió lạnh và gió nóng, gió nhẹ và gió mạnh; cũng vậy, trong thân này cũng sinh khởi các cảm thọ khác nhau: cảm thọ lạc sinh khởi, cảm thọ khổ sinh khởi, cảm thọ không khổ không lạc cũng sinh khởi.”

Như trên bầu trời cao

Gió từ muôn phương thổi
Gió Đông, Tây, Bắc và Nam,
Gió có bụi và không bụi,
Gió lạnh nóng, mạnh nhẹ

Cũng vậy, ngay trong thân này,
Nhiều loại cảm thọ phát sinh,
Lạc thọ vùng khổ thọ
Và không khổ không lạc

Luôn tinh cần tỉnh giác,
Bậc tuệ tri hiểu rõ
Toàn diện các cảm thọ
Do liểu tri cảm thọ
Lậu tận trong hiện kiếp
Khi mạng chung, trú Pháp
Trí giả nan tư nghì

13. Bầu Trời II

261. “seyyathāpi, bhikkhave, ākāse vividhā vātā vāyanti. puratthimāpi vātā vāyanti ... pe ... adhimattāpi vātā vāyanti. evameva kho, bhikkhave, imasmiṃ kāyasmiṃ vividhā vedanā uppajjanti, sukhāpi vedanā uppajjati, dukkhāpi vedanā uppajjati, adukkhamasukhāpi vedanā uppajjatī”ti. tatiyaṃ.
(Nội dung tương tự như phần trước, nhưng không có kệ ngôn.)


Kinh Khách Xá

262. “seyyathāpi, bhikkhave, āgantukāgāraṃ. tattha puratthimāyapi disāya āgantvā vāsaṃ kappenti, pacchimāyapi disāya āgantvā vāsaṃ kappenti, uttarāyapi disāya āgantvā vāsaṃ kappenti, dakkhiṇāyapi disāya āgantvā vāsaṃ kappenti. khattiyāpi āgantvā vāsaṃ kappenti, brāhmaṇāpi āgantvā vāsaṃ kappenti, vessāpi āgantvā vāsaṃ kappenti, suddāpi āgantvā vāsaṃ kappenti. evameva kho, bhikkhave, imasmiṃ kāyasmiṃ vividhā vedanā uppajjanti. sukhāpi vedanā uppajjati, dukkhāpi vedanā uppajjati, adukkhamasukhāpi vedanā uppajjati. sāmisāpi sukhā vedanā uppajjati, sāmisāpi dukkhā vedanā uppajjati, sāmisāpi adukkhamasukhā vedanā uppajjati. nirāmisāpi sukhā vedanā uppajjati, nirāmisāpi dukkhā vedanā uppajjati, nirāmisāpi adukkhamasukhā vedanā uppajjatī”ti. catutthaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, ví như có một ngôi nhà khách. Người từ phương Đông, phương Tây, phương Bắc và phương Nam đến trú lại đó; các giai cấp như Sát-đế-lỵ (khattiya), Bà-la-môn (brāhmaṇa), Phệ-xá (vessa), và Thủ-đà-la (sudda) đều đến và trú tại đó. Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, nhiều loại cảm thọ sinh khởi trong thân này: cảm thọ lạc sinh khởi, cảm thọ khổ sinh khởi, cảm thọ không khổ không lạc sinh khởi; cảm thọ lạc thuộc dục sinh khởi; cảm thọ khổ thuộc dục sinh khởi; cảm thọ không khổ không lạc thuộc dục sinh khởi; cảm thọ lạc thuộc tinh thần sinh khởi; cảm thọ khổ thuộc tinh thần sinh khởi; cảm thọ không khổ không lạc thuộc tinh thần sinh khởi.”

Chú Thích

Kinh Bầu Trời I và II mang nội dung giống nhau nhưng bài thứ hai không có kệ ngôn. Trong vai trò thị giả của Đức Phật và chịu trách nhiệm lớn trong việc kết tập kinh điển, Tôn giả Ananda quyết định thuật lại tất cả những gì được nghe từ kim khẩu của Đức Phật, ngay cả khi có những trùng lập. Đây cũng là đặc tính của Tam Tạng Pāli.

Hai bài kinh Bầu Trời I và II cùng với Kinh Khách Xá dù ví dụ khác nhau nhưng ý nghĩa giống nhau về bản chất hổn độn tự nhiên của cảm thọ trong cuộc sống nên gom chung thành một bài học.

Cảm thọ có khi nói là có ba (lạc, khổ, xả); có khi nói là có năm (khổ, lạc, ưu, hỷ, xả) nhưng giống nhau. Tuy vậy khi nói là ba thì mang tính phổ quát đối với tất cả chúng sanh trong đời. Khi nói có năm thì có những cảm thọ, như thọ ưu, không có ở chúng sanh cõi thiền hay chư vị thánh tam quả, tứ quả.

Như bầu trời cao luôn có nhiều luồn gió từ các hướng hay như một khách xá vốn tự nhiên có nhiều người lui tới thuộc đủ mọi giai cấp, trình độ… tương tự như vậy đã có thân nầy thì phải có nhiều cảm thọ khổ, lạc, xả. Có nhiều cảm thọ đồng nghĩa với cảm nhận những thứ thoải mái, khó chịu, hay trung tính. Đây là lý do tại sao có cảm thọ là có khổ vì tính biến đổi vô chừng. Hơn thế nữa không một quyền lực nào có thể khiến cuộc sống luôn luôn tồn tại trong lạc thọ. Đó là vô ngã.

Sớ Giải

260-261. dutiye puthū vāyanti mālutāti bahū vātā vāyanti. sesaṃ uttānatthamevāti. tatiyaṃ vinā gāthāhi bujjhantānaṃ ajjhāsayena vuttaṃ.

260–261. Trong bài thứ hai, "puthū vāyanti mālutā" nghĩa là: "nhiều ngọn gió thổi." Tức là có rất nhiều luồng gió đang thổi (ẩn dụ cho nhiều cảm thọ sinh khởi).

Phần còn lại của kinh có ý nghĩa rõ ràng, không cần giải thích thêm.

Bài kinh thứ ba (tức bài tiếp theo), không có kệ tụng, được giảng nói theo căn cơ của những người có khả năng liễu ngộ chỉ qua lời dạy trực tiếp, không cần đến vần kệ.

262. catutthe puratthimāti puratthimāya. evaṃ sabbattha. sāmisāpi sukhā vedanātiādīsu sāmisā sukhā nāma kāmāmisapaṭisaṃyuttā vedanā. nirāmisā sukhā nāma paṭhamajjhānādivasena vipassanāvasena anussativasena ca uppannā vedanā. sāmisā dukkhā nāma kāmāmiseneva sāmisā vedanā, nirāmisā dukkhā nāma anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpayato pihapaccayā uppannadomanassavedanā. sāmisā adukkhamasukhā nāma kāmāmiseneva sāmisā vedanā. nirāmisā adukkhamasukhā nāma catutthajjhānavasena uppannā adukkhamasukhā vedanā.

262. Trong bài kinh thứ tư, “puratthimā” nghĩa là: “từ phương Đông”. Tương tự như vậy cho tất cả các phương (tây, nam, bắc) được đề cập.

Về các loại cảm thọ như: "sāmisāpi sukhā vedanā" (cảm thọ lạc thuộc về ngũ dục), thì:

  • Sāmisā sukhā vedanā: là cảm thọ lạc có liên quan đến ngũ dục, tức là những cảm thọ phát sinh từ sự tiếp xúc với dục lạc (kāmāmisapaṭisaṃyutta vedanā).
  • Nirāmisā sukhā vedanā: là cảm thọ lạc phát sinh từ thiền định sơ thiền trở lên, từ tuệ quán, hay từ niệm tưởng (ví dụ như niệm Phật, niệm pháp...) – tức là những cảm thọ thanh tịnh không liên quan đến dục lạc.
  • Sāmisā dukkhā vedanā: là cảm thọ khổ thuộc về ngũ dục – tức những cảm thọ khó chịu do tiếp xúc với các dục trần.
  • Nirāmisā dukkhā vedanā: là cảm thọ khổ phát sinh trong khi khởi tâm mong cầu các pháp giải thoát tối thượng (anuttaresu vimokkhesu), do khao khát (pihā) chưa thành, nên sinh ra cảm thọ ưu phiền (domanassa vedanā) trong nội tâm.
  • Sāmisā adukkhamasukhā vedanā: là cảm thọ không khổ không lạc, nhưng vẫn thuộc về ngũ dục (có liên quan đến dục lạc).
  • Nirāmisā adukkhamasukhā vedanā: là cảm thọ không khổ không lạc phát sinh do đạt đến tầng thiền thứ tư (catutthajjhāna), thuộc về thiền định thuần tịnh, không dính mắc ngũ dục.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình

12. II. Hư Không (1)(S.iv,218)

1-2) ...

3) -- Ví như ở trên hư không có nhiều loại gió thổi. Có gió từ phương Ðông thổi. Có gió từ phương Tây thổi. Có gió từ phương Bắc thổi. Có gió từ phương Nam thổi. Có gió có bụi thổi. Có gió không bụi thổi. Có gió lạnh thổi. Có gió nóng thổi. Có gió lượng nhỏ thổi, có gió lượng lớn thổi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong cái thân này, có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên. Khổ thọ khởi lên. Bất khổ bất lạc thọ khởi lên.

1) Giống như giữa hư không,
Gió nhiều loại thổi lên,
Từ phương Ðông, phương Tây,
Từ phương Bắc, phương Nam.

2) Gió có bụi, không bụi,
Có gió lạnh, gió nóng,
Có gió lớn, gió nhỏ,
Gió nhiều loại, thổi lên.

3) Cũng vậy, trong thân này,
Khởi lên nhiều cảm thọ,
Lạc thọ và khổ thọ,
Bất khổ bất lạc thọ.

4) Khi Tỷ-kheo nhiệt tâm,
Tỉnh giác, không sanh y,
Do vậy, bậc Hiền giả,
Liễu tri tất cả thọ.

5) Vị ấy liễu tri thọ,
Ngay hiện tại, vô lậu,
Thân hoại, bậc Pháp trú,
Ðại trí, vượt ước lường.

13. III. Hư Không (2) (S.iv,219)

(Như kinh trên chỉ khác là không có bài kệ)

14. IV. Khách Xá (S.iv,219)

1-2) ...

3) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.

4) Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên.

  -ooOoo-