|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 16 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH
VĂN
12. Bầu Trời I
260. “seyyathāpi, bhikkhave,
ākāse vividhā vātā vāyanti.
puratthimāpi vātā vāyanti,
pacchimāpi vātā vāyanti,
uttarāpi vātā vāyanti,
dakkhiṇāpi vātā vāyanti,
sarajāpi vātā vāyanti,
arajāpi vātā vāyanti, sītāpi
vātā vāyanti, uṇhāpi vātā
vāyanti, parittāpi vātā
vāyanti, adhimattāpi vātā
vāyanti. evameva kho,
bhikkhave, imasmiṃ kāyasmiṃ
vividhā vedanā uppajjanti,
sukhāpi vedanā uppajjati,
dukkhāpi vedanā uppajjati,
adukkhamasukhāpi vedanā
uppajjatī”ti. puratthimā pacchimā cāpi, uttarā atha dakkhiṇā. “sarajā arajā capi, sītā uṇhā ca ekadā. adhimattā parittā ca, puthū vāyanti mālutā. “tathevimasmiṃ kāyasmiṃ, samuppajjanti vedanā. sukhadukkhasamuppatti, adukkhamasukhā ca yā. “yato ca bhikkhu ātāpī, sampajaññaṃ na riñcati {sampajāno nirūpadhi (ka.)} tato so vedanā sabbā, parijānāti paṇḍito. “so vedanā pariññāya, diṭṭhe dhamme anāsavo. kāyassa bhedā dhammaṭṭho, saṅkhyaṃ nopeti vedagū”ti. dutiyaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, cũng như
các loại gió khác nhau thổi
trên bầu trời: gió từ phương
Đông, gió từ phương Tây, gió
từ phương Bắc, gió từ phương
Nam, gió có bụi và gió không
bụi, gió lạnh và gió nóng,
gió nhẹ và gió mạnh; cũng
vậy, trong thân này cũng
sinh khởi các cảm thọ khác
nhau: cảm thọ lạc sinh khởi,
cảm thọ khổ sinh khởi, cảm
thọ không khổ không lạc cũng
sinh khởi.”
Như trên bầu trời cao
Gió từ muôn phương thổi
Luôn tinh cần tỉnh giác,
13. Bầu Trời II
261. “seyyathāpi, bhikkhave,
ākāse vividhā vātā vāyanti.
puratthimāpi vātā vāyanti
... pe ... adhimattāpi vātā
vāyanti. evameva kho,
bhikkhave, imasmiṃ kāyasmiṃ
vividhā vedanā uppajjanti,
sukhāpi vedanā uppajjati,
dukkhāpi vedanā uppajjati,
adukkhamasukhāpi vedanā
uppajjatī”ti. tatiyaṃ.
Kinh Khách Xá
262. “seyyathāpi, bhikkhave,
āgantukāgāraṃ. tattha
puratthimāyapi disāya
āgantvā vāsaṃ kappenti,
pacchimāyapi disāya āgantvā
vāsaṃ kappenti, uttarāyapi
disāya āgantvā vāsaṃ
kappenti, dakkhiṇāyapi
disāya āgantvā vāsaṃ
kappenti. khattiyāpi āgantvā
vāsaṃ kappenti, brāhmaṇāpi
āgantvā vāsaṃ kappenti,
vessāpi āgantvā vāsaṃ
kappenti, suddāpi āgantvā
vāsaṃ kappenti. evameva kho,
bhikkhave, imasmiṃ kāyasmiṃ
vividhā vedanā uppajjanti.
sukhāpi vedanā uppajjati,
dukkhāpi vedanā uppajjati,
adukkhamasukhāpi vedanā
uppajjati. sāmisāpi sukhā
vedanā uppajjati, sāmisāpi
dukkhā vedanā uppajjati,
sāmisāpi adukkhamasukhā
vedanā uppajjati. nirāmisāpi
sukhā vedanā uppajjati,
nirāmisāpi dukkhā vedanā
uppajjati, nirāmisāpi
adukkhamasukhā vedanā
uppajjatī”ti. catutthaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, ví như có
một ngôi nhà khách. Người từ
phương Đông, phương Tây,
phương Bắc và phương Nam đến
trú lại đó; các giai cấp như
Sát-đế-lỵ (khattiya),
Bà-la-môn (brāhmaṇa), Phệ-xá
(vessa), và Thủ-đà-la
(sudda) đều đến và trú tại
đó. Cũng vậy, này chư Tỳ
khưu, nhiều loại cảm thọ
sinh khởi trong thân này:
cảm thọ lạc sinh khởi, cảm
thọ khổ sinh khởi, cảm thọ
không khổ không lạc sinh
khởi; cảm thọ lạc thuộc dục
sinh khởi; cảm thọ khổ thuộc
dục sinh khởi; cảm thọ không
khổ không lạc thuộc dục sinh
khởi; cảm thọ lạc thuộc tinh
thần sinh khởi; cảm thọ khổ
thuộc tinh thần sinh khởi;
cảm thọ không khổ không lạc
thuộc tinh thần sinh khởi.”
Chú Thích
Kinh Bầu Trời I và II mang
nội dung giống nhau nhưng
bài thứ hai không có kệ
ngôn. Trong vai trò thị giả
của Đức Phật và chịu trách
nhiệm lớn trong việc kết tập
kinh điển, Tôn giả Ananda
quyết định thuật lại tất cả
những gì được nghe từ kim
khẩu của Đức Phật, ngay cả
khi có những trùng lập. Đây
cũng là đặc tính của Tam
Tạng Pāli.
Hai bài kinh Bầu Trời I và
II cùng với Kinh Khách Xá dù
ví dụ khác nhau nhưng ý
nghĩa giống nhau về bản chất
hổn độn tự nhiên của cảm thọ
trong cuộc sống nên gom
chung thành một bài học.
Cảm thọ có khi nói là có ba
(lạc, khổ, xả); có khi nói
là có năm (khổ, lạc, ưu, hỷ,
xả) nhưng giống nhau. Tuy
vậy khi nói là ba thì mang
tính phổ quát đối với tất cả
chúng sanh trong đời. Khi
nói có năm thì có những cảm
thọ, như thọ ưu, không có ở
chúng sanh cõi thiền hay chư
vị thánh tam quả, tứ quả.
Như bầu trời cao luôn có
nhiều luồn gió từ các hướng
hay như một khách xá vốn tự
nhiên có nhiều người lui tới
thuộc đủ mọi giai cấp, trình
độ… tương tự như vậy đã có
thân nầy thì phải có nhiều
cảm thọ khổ, lạc, xả. Có
nhiều cảm thọ đồng nghĩa với
cảm nhận những thứ thoải
mái, khó chịu, hay trung
tính. Đây là lý do tại sao
có cảm thọ là có khổ vì tính
biến đổi vô chừng. Hơn thế
nữa không một quyền lực nào
có thể khiến cuộc sống luôn
luôn tồn tại trong lạc thọ.
Đó là vô ngã.
Sớ Giải
260-261. dutiye puthū
vāyanti mālutāti bahū vātā
vāyanti. sesaṃ
uttānatthamevāti. tatiyaṃ
vinā gāthāhi bujjhantānaṃ
ajjhāsayena vuttaṃ.
260–261.
Trong bài thứ hai, "puthū
vāyanti mālutā" nghĩa là:
"nhiều ngọn gió thổi." Tức
là có rất nhiều luồng gió
đang thổi (ẩn dụ cho nhiều
cảm thọ sinh khởi).
Phần còn lại của kinh có ý
nghĩa rõ ràng, không cần
giải thích thêm.
Bài kinh thứ ba (tức bài
tiếp theo), không có kệ
tụng, được giảng nói theo
căn cơ của những người có
khả năng liễu ngộ chỉ qua
lời dạy trực tiếp, không cần
đến vần kệ.
262. catutthe puratthimāti
puratthimāya. evaṃ
sabbattha. sāmisāpi sukhā
vedanātiādīsu sāmisā sukhā
nāma kāmāmisapaṭisaṃyuttā
vedanā. nirāmisā sukhā nāma
paṭhamajjhānādivasena
vipassanāvasena
anussativasena ca uppannā
vedanā. sāmisā dukkhā nāma
kāmāmiseneva sāmisā vedanā,
nirāmisā dukkhā nāma
anuttaresu vimokkhesu pihaṃ
upaṭṭhāpayato pihapaccayā
uppannadomanassavedanā.
sāmisā adukkhamasukhā nāma
kāmāmiseneva sāmisā vedanā.
nirāmisā adukkhamasukhā nāma
catutthajjhānavasena uppannā
adukkhamasukhā vedanā.
262.
Trong bài kinh thứ tư,
“puratthimā” nghĩa là: “từ
phương Đông”. Tương tự như
vậy cho tất cả các phương
(tây, nam, bắc) được đề cập.
Về các loại cảm thọ như:
"sāmisāpi sukhā vedanā" (cảm
thọ lạc thuộc về ngũ dục),
thì:
Bản
dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
Phần Hai - Phẩm Sống Một
Mình
12. II. Hư Không (1)(S.iv,218)
1-2) ...
3) -- Ví như ở trên hư không
có nhiều loại gió thổi. Có
gió từ phương Ðông thổi. Có
gió từ phương Tây thổi. Có
gió từ phương Bắc thổi. Có
gió từ phương Nam thổi. Có
gió có bụi thổi. Có gió
không bụi thổi. Có gió lạnh
thổi. Có gió nóng thổi. Có
gió lượng nhỏ thổi, có gió
lượng lớn thổi. Cũng vậy,
này các Tỷ-kheo, trong cái
thân này, có nhiều loại thọ
sai biệt khởi lên. Lạc thọ
khởi lên. Khổ thọ khởi lên.
Bất khổ bất lạc thọ khởi
lên.
1) Giống như giữa hư không,
2) Gió có bụi, không bụi,
3) Cũng vậy, trong thân này,
4) Khi Tỷ-kheo nhiệt tâm,
5) Vị ấy liễu tri thọ,
13. III. Hư Không (2)
(S.iv,219)
(Như kinh trên chỉ khác là
không có bài kệ)
14. IV. Khách Xá (S.iv,219)
1-2) ...
3) -- Ví như, này các
Tỷ-kheo, một nhà khách, ở
đấy, từ phương Ðông có một
người đến ở. Từ phương Tây,
có người đến ở. Từ phương
Bắc, có người đến ở. Từ
phương Nam, có người đến ở.
Những người Sát-đế-lỵ đến ở,
những người Bà-la-môn đến ở,
những người Phệ-xá (Vessa)
đến ở, những người Thủ-đà
(Suddà) đến ở. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, trong cái thân
này có nhiều loại thọ sai
biệt khởi lên. Lạc thọ khởi
lên, khổ thọ khởi lên, bất
khổ bất lạc thọ khởi lên.
4) Có những lạc thọ liên hệ
đến vật chất khởi lên. Có
những khổ thọ liên hệ đến
vật chất khởi lên. Có những
bất khổ bất lạc thọ liên hệ
đến vật chất khởi lên. Có
những lạc thọ không liên hệ
đến vật chất khởi lên. Có
những khổ thọ không liên hệ
đến vật chất khởi lên. Có
những bất khổ bất lạc thọ
không liên hệ đến vật chất
khởi lên.
|