|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 17 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
... ******
KINH
VĂN
Kinh Ānanda I
263. atha kho āyasmā ānando
yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā ekamantaṃ
nisīdi, ekamantaṃ nisinno
kho āyasmā ānando
bhagavantaṃ etadavoca —
“katamā nu kho, bhante,
vedanā, katamo
vedanāsamudayo, katamo
vedanānirodho, katamā
vedanānirodhagāminī
paṭipadā? ko vedanāya
assādo, ko ādīnavo, kiṃ
nissaraṇanti? tisso imā,
ānanda, vedanā — sukhā
vedanā, dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā — imā
vuccanti, ānanda, vedanā.
phassasamudayā
vedanāsamudayo;
phassanirodhā vedanānirodho.
ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko
maggo vedanānirodhagāminī
paṭipadā, seyyathidaṃ —
sammādiṭṭhi ... pe ...
sammāsamādhi. yaṃ vedanaṃ
paṭicca uppajjati sukhaṃ
somanassaṃ, ayaṃ vedanāya
assādo. yā vedanā aniccā
dukkhā vipariṇāmadhammā,
ayaṃ vedanāya ādīnavo. yo
vedanāya chandarāgavinayo
chandarāgappahānaṃ, idaṃ
vedanāya nissaraṇaṃ. atha
kho panānanda, mayā
anupubbasaṅkhārānaṃ nirodho
akkhāto. paṭhamaṃ jhānaṃ
samāpannassa vācā niruddhā
hoti ... pe ...
saññāvedayitanirodhaṃ
samāpannassa saññā ca vedanā
ca niruddhā honti.
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo
niruddho hoti, doso niruddho
hoti, moho niruddho hoti.
atha kho panānanda, mayā
anupubbasaṅkhārānaṃ vūpasamo
akkhāto. paṭhamaṃ jhānaṃ
samāpannassa vācā vūpasantā
hoti ... pe ...
saññāvedayitanirodhaṃ
samāpannassa saññā ca vedanā
ca vūpasantā honti.
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo
vūpasanto hoti, doso
vūpasanto hoti, moho
vūpasanto hoti. atha kho
panānanda, mayā
anupubbasaṅkhārānaṃ
paṭippassaddhi akkhātā.
paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa
vācā paṭippassaddhā hoti ...
pe ... ākāsānañcāyatanaṃ
samāpannassa rūpasaññā
paṭippassaddhā hoti.
viññāṇañcāyatanaṃ
samāpannassa
ākāsānañcāyatanasaññā
paṭippassaddhā hoti.
ākiñcaññāyatanaṃ
samāpannassa
viññāṇañcāyatanasaññā
paṭippassaddhā hoti.
nevasaññānāsaññāyatanaṃ
samāpannassa
ākiñcaññāyatanasaññā
paṭippassaddhā hoti.
saññāvedayitanirodhaṃ
samāpannassa saññā ca vedanā
ca paṭippassaddhā honti.
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo
paṭippassaddho hoti, doso
paṭippassaddho hoti, moho
paṭippassaddho hotī”ti.
pañcamaṃ.
Bấy giờ Tôn giả Ānanda đi
đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ
Ngài, ngồi xuống một bên và
thưa:
“Bạch Thế Tôn, thế nào là
cảm thọ? Thế nào là nguồn
gốc của cảm thọ? Thế nào là
sự đoạn diệt của cảm thọ?
Thế nào là con đường
đưa đến đoạn diệt của cảm
thọ? Thế nào là sự khả lạc
trong cảm thọ? Thế nào là
mối nguy hiểm trong cảm thọ?
Và thế nào là lối thoát khỏi
cảm thọ?”
[Đức Thế Tôn đáp:]
“Này Ānanda, có ba cảm thọ
này: lạc thọ, khổ thọ, và
bất khổ bất lạc thọ — được
gọi là cảm thọ.
Với sự sinh khởi của xúc,
cảm thọ sinh khởi. Với sự
diệt tận của xúc, cảm thọ
cũng diệt.
Con đường đưa đến sự đoạn
diệt của cảm thọ chính là
thánh đạo tám chi phần:
chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm, và chánh định.
Niềm vui và hỷ lạc khởi lên
do cảm thọ — đó gọi là sự
khả lạc trong cảm thọ.
Cảm thọ là vô thường, khổ,
và bị biến hoại — đó là mối
nguy hiểm trong cảm thọ.
Sự loại trừ và từ bỏ tham ái
đối với cảm thọ — đó là lối
thoát khỏi cảm thọ.”
“Này Ānanda, ta cũng đã
giảng dạy về sự đoạn diệt
tuần tự của các hành … (như
đã nói trong bài Kinh số
11)…
Đối với một vị Tỳ khưu đã
diệt tận lậu hoặc, thì tham
đã được an tịnh, sân đã được
an tịnh, si cũng được an
tịnh.”
Kinh Ānanda II
264. atha kho āyasmā ānando
yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ
nisīdi. ekamantaṃ nisinnaṃ
kho āyasmantaṃ ānandaṃ
bhagavā etadavoca — “katamā
nu kho, ānanda, vedanā,
katamo vedanāsamudayo,
katamo vedanānirodho, katamā
vedanānirodhagāminī
paṭipadā? ko vedanāya
assādo, ko ādīnavo, kiṃ
nissaraṇan”ti?
“bhagavaṃmūlakā no, bhante,
dhammā bhagavannettikā
bhagavampaṭisaraṇā. sādhu,
bhante, bhagavantaññeva
paṭibhātu etassa bhāsitassa
attho. bhagavato sutvā
bhikkhū dhāressantī”ti.
“tena hi, ānanda, suṇohi,
sādhukaṃ manasi karohi;
bhāsissāmī”ti. “evaṃ,
bhante”ti kho āyasmā ānando
bhagavato paccassosi.
bhagavā etadavoca — “tisso
imā, ānanda, vedanā — sukhā
vedanā, dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā — imā
vuccanti, ānanda, vedanā ...
pe ... phassasamudayā ... pe
... khīṇāsavassa bhikkhuno
rāgo paṭippassaddho hoti,
doso paṭippassaddho hoti,
moho paṭippassaddho hotī”ti.
chaṭṭhaṃ.
Bấy giờ Tôn giả Ānanda đi
đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ
Ngài, ngồi xuống một bên.
Rồi Đức Thế Tôn hỏi Tôn giả
Ānanda:
“Này Ānanda, thế nào là cảm
thọ? Thế nào là nguồn gốc
của cảm thọ? Thế nào là sự
đoạn diệt của cảm thọ? Thế
nào là con đường đưa đến
đoạn diệt của cảm thọ? Thế
nào là sự khả lạc trong cảm
thọ? Thế nào là mối nguy
hiểm? Thế nào là sự giải
thoát khỏi cảm thọ?”
[Tôn giả Ānanda thưa:]
“Bạch Thế Tôn, pháp của
chúng con được căn cứ vào
Thế Tôn, được dẫn dắt bởi
Thế Tôn, và nương tựa nơi
Thế Tôn.
Thật tốt lành nếu Thế Tôn
giải thích rõ ý nghĩa của
vấn đề này. Khi nghe trực
tiếp từ Thế Tôn, chư Tỳ khưu
sẽ ghi nhớ lời dạy ấy.”
[Đức Thế Tôn dạy:]
“Vậy thì, này Ānanda, hãy
lắng nghe và chú tâm kỹ, ta
sẽ nói.”
“Dạ vâng, bạch Thế Tôn,”
Tôn giả Ānanda
thưa.
[Đức Thế Tôn nói:}
“Này Ānanda, có ba cảm thọ
— lạc thọ, khổ thọ, bất khổ
bất lạc thọ — được gọi là
cảm thọ….”
(Tất cả phần còn lại
giống như bài Kinh trước.)
Chú Thích
Kinh
Ānanda I & II mang nội
dung giống nhau nhưng ở bài
thứ hai Tôn giả Ānanda tự
hỏi và được Đức Phật trả
lời. Trong bài sau thì Đức
Phật nêu câu hỏi và sau đó
Đức Phật giảng.
Sớ giải so sánh hai bai kinh
nầy với hai bài kinh sắp
tới. Sự khác biệt sẽ được đề
cập trọng bài kinh tiếp
theo.
Nội dung hai bài kinh nầy
cho thấy cảm thọ là một đề
tài quan trọng trên cả hai
ba phương diện pháp học,
pháp hành, và pháp thành.
Mô thức tứ đế và ba cách
nhận thức thực tại (vị ngọt,
nguy hiểm, và sự vượt thoát)
được ứng dụng trong rất
nhiều trường hợp mà đây là
là thí dụ điển hình khi đề
cập đến cái nhìn toàn diện
về cảm thọ.
Sớ Giải
263-266. pañcamādīni cattāri
heṭṭhā kathitanayāneva.
purimāni panettha dve
paripuṇṇapassaddhikāni,
pacchimāni
upaḍḍhapassaddhikāni.
desanāya bujjhanakānaṃ
ajjhāsayena vuttāni.
263–266.
Bốn bài kinh bắt đầu từ bài
thứ năm (tức các bài kinh
15–18) được giải thích theo
cùng một cách như đã trình
bày ở phần trước.
Tuy nhiên, trong bốn bài
kinh này:
Tất cả những bài giảng này được thuyết theo căn cơ (ajjhāsaya) và khả năng liễu ngộ của những người có thể hiểu được giáo pháp sâu sắc qua từng mức độ trình bày khác nhau.
Phần Hai - Phẩm Sống Một
Mình
15. V. Thuộc Sở Hữu (1)
(S,iv,219)
1) ...
2) Rồi Tôn giả Ananda đi đến
Thế Tôn; sau khi đến...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn
giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là
các thọ? Thế nào là thọ tập
khởi? Thế nào là thọ đoạn
diệt? Thế nào là con đường
đưa đến thọ đoạn diệt? Thế
nào là vị ngọt của thọ? Thế
nào là sự nguy hiểm của thọ?
Thế nào là sự xuất ly của
thọ?
4) -- Có ba thọ này, này
Ananda, lạc thọ, khổ thọ,
bất khổ bất lạc thọ. Này
Ananda, đây gọi là các thọ.
Do xúc tập khởi nên thọ tập
khởi. Do xúc đoạn diệt nên
thọ đoạn diệt. Con đường
Thánh đạo Tám ngành là con
đường đưa đến thọ đoạn diệt,
tức là chánh tri kiến...
chánh định. Do duyên thọ
khởi lên lạc hỷ nào, đấy là
vị ngọt của thọ. Sự vô
thường, khổ, biến hoại của
thọ là sự nguy hiểm của thọ.
Sự nhiếp phục dục và tham
(chandaràga) đối với thọ, sự
đoạn tận dục và tham là sự
xuất ly của thọ.
5) Này Ananda, Ta tuyên bố
rằng đoạn diệt (nirodho) các
hành là tuần tự. Khi chứng
Thiền thứ nhất, lời nói được
đoạn diệt. Khi chứng Thiền
thứ hai, tầm tứ được đoạn
diệt... Khi chứng Diệt thọ
tưởng định, tưởng và thọ
được đoạn diệt. Ðối với
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được đoạn diệt,
sân được đoạn diệt, si được
đoạn diệt.
6) Này Ananda, Ta tuyên bố
rằng tịnh chỉ (vùpasamo) các
hành là tuần tự. Khi chứng
Thiền thứ nhất, lời nói được
tịnh chỉ. Khi chứng Thiền
thứ hai, tầm tứ được tịnh
chỉ... Khi chứng Diệt thọ
tưởng định, tưởng và thọ
được tịnh chỉ. Ðối với
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được tịnh chỉ,
sân được tịnh chỉ, si được
tịnh chỉ.
7) Này Ananda, Ta tuyên bố
rằng khinh an (passadhi) các
hành là tuần tự. Khi chứng
Thiền thứ nhất, lời nói được
khinh an. Khi chứng Thiền
thứ hai, tầm tứ được khinh
an... Khi chứng Diệt thọ
tưởng định, tưởng và thọ
được khinh an. Ðối với
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được khinh an,
sân được khinh an, si được
khinh an.
16. VI. Thuộc Sở Hữu (2)
(Santakam) (S.iv,221)
1) ...
2) Rồi Tôn giả Ananda đi đến
Thế Tôn...
3) Thế Tôn nói với Tôn giả
Ananda đang ngồi một bên:
-- Này Ananda, thế nào là
các thọ? Thế nào là thọ tập
khởi? Thế nào là thọ đoạn
diệt? Thế nào là con đường
đưa đến thọ đoạn diệt? Thế
nào là vị ngọt của thọ? Thế
nào là sự nguy hiểm của thọ?
Thế nào là sự xuất ly của
thọ?
4) -- Bạch Thế Tôn, các pháp
lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy
Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế
Tôn làm chỗ nương tựa. Lành
thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế
Tôn nói cho ý nghĩa của lời
nói này! Sau khi nghe Thế
Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
-- Vậy này Ananda, hãy lắng
nghe và khéo tác ý, Ta sẽ
giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế
Tôn.
5-8) Thế Tôn nói như sau:
-- Này Ananda, có ba thọ
này: lạc thọ, khổ thọ, bất
khổ bất lạc thọ. Này Ananda,
đây gọi là các thọ. Do xúc
tập khởi nên thọ tập khởi.
Do xúc đoạn diệt nên thọ
đoạn diệt... (như kinh trên
từ số 4 đến số 7). Ðối với
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được khinh an,
sân được khinh an, si được
khinh an.
|