BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 21 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm 108 Pháp Môn- SN. 35. 269 . Bài 461. KHÔNG PHẢI TẤT CẢ VUI KHỔ ĐỀU DO NGHIỆP - Kinh Sīvaka (Sīvakasuttaṃ).
KInh Một Tỳ Khưu (SN 35. 268) giống hệt hai bài kinh trước ( pañcakaṅgasuttaṃ SN 35. 267), chỉ khác là Đức Phật giảng cho một tỳ khưu thay vì Tôn giả Ānanda.)
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-461.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngNghiệp báo thường được hiểu như tiền định, định mệnh. Hiểu như vậy thì tất cả mọi thứ xẩy ra trong hiện tại đều đã an bài không thể thay đổi. Cách hiểu nầy rất sai với Phật Pháp. Đức Thế Gian Giải dạy rằng có những thứ do nghiệp lực quá khứ mà cũng có những nguyên nhân là hiện tại. Một người lái xe lơ đễnh bất cẩn tạo ra tai nạn không thể quy trách là tất cả do nghiệp đời trước. Đây là một điểm rất tế nhị trong cách hiểu tín lý của các tôn giáo. Khi bảo rằng tất cả đã được an bày thì là phủ nhận trách nhiệm của hành động - một điều đại kỵ đối với người tu tập.

 KINH VĂN

269. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. atha kho moḷiyasīvako paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho moḷiyasīvako paribbājako bhagavantaṃ etadavoca — “santi, bho gotama, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino — ‘yaṃ kiñcāyaṃ purisapuggalo paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā sabbaṃ taṃ pubbekatahetū’ti. idha {idha pana (syā. kaṃ. pī. ka.)} bhavaṃ gotamo kimāhā”ti?

“pittasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. sāmampi kho etaṃ, sīvaka, veditabbaṃ {evaṃ veditabbaṃ (syā. kaṃ. ka.)} yathā pittasamuṭṭhānānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti; lokassapi kho etaṃ, sīvaka, saccasammataṃ yathā pittasamuṭṭhānānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. tatra, sīvaka, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino — ‘yaṃ kiñcāyaṃ purisapuggalo paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā sabbaṃ taṃ pubbekatahetū’ti. yañca sāmaṃ ñātaṃ tañca atidhāvanti, yañca loke saccasammataṃ tañca atidhāvanti. tasmā tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ micchāti vadāmi.

“semhasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka ... pe ... vātasamuṭṭhānānipi kho, sīvaka ... pe ... sannipātikānipi kho, sīvaka ... pe ... utupariṇāmajānipi kho, sīvaka ... pe ... visamaparihārajānipi kho, sīvaka ... pe ... opakkamikānipi kho, sīvaka ... pe ... kammavipākajānipi kho, sīvaka, idhekaccāni vedayitāni uppajjanti. sāmampi kho etaṃ, sīvaka, veditabbaṃ. yathā kammavipākajānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti; lokassapi kho etaṃ, sīvaka, saccasammataṃ. yathā kammavipākajānipi idhekaccāni vedayitāni uppajjanti; tatra, sīvaka, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino — ‘yaṃ kiñcāyaṃ purisapuggalo paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā sabbaṃ taṃ pubbekatahetū’ti. yañca sāmaṃ ñātaṃ tañca atidhāvanti yañca loke saccasammataṃ tañca atidhāvanti. tasmā tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ micchāti vadāmīti. evaṃ vutte, moḷiyasīvako paribbājako bhagavantaṃ etadavoca — ‘abhikkantaṃ, bho gotama, abhikkantaṃ, bho gotama ... pe ... upāsakaṃ maṃ bhavaṃ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan’”ti.

“pittaṃ semhañca vāto ca, sannipātā utūni ca.

visamaṃ opakkamikaṃ, kammavipākena aṭṭhamī”ti. paṭhamaṃ.

Một lần nọ, Đức Thế Tôn ngự ở thành Vương Xá (Rājagaha ), tại Trúc Lâm (Veḷuvana), nơi khu vực dành cho sóc (kalandakanivāpa). Khi ấy, du sĩ ngoại giáo tên là Moḷiyasīvaka đến gặp Đức Thế Tôn và trao đổi lời chào hỏi, thăm hỏi thân thiện. Sau khi chào hỏi xong, ông ngồi sang một bên và thưa với Đức Thế Tôn:

“Bạch Tôn giả Gotama, một số sa môn, bà la môn chủ trương quan điểm như sau: ‘Tất cả những gì một người cảm thọ dù là lạc thọ, khổ thọ, hay bất lạc bất khổ — đều do nghiệp quá khứ gây ra.’ Xin hỏi Tôn giả Gotama nghĩ gì về quan điểm ấy?”

[Đức Thế Tôn đáp:]

“Sīvaka, có một số cảm thọ phát sinh do rối loạn mật (gan nóng, nhiệt độc v.v.). Việc có những cảm thọ phát sinh do rối loạn mật là điều con người có thể tự mình biết được, và điều đó cũng được thế gian công nhận là đúng.

Khi các sa môn, bà la môn nói rằng: ‘Tất cả những gì một người cảm thọ dù là lạc thọ, khổ thọ, hay bất lạc bất khổ — đều do nghiệp quá khứ gây ra.’ thì họ đã vượt quá sự thật có thể tự biết, và cũng vượt quá những gì được công nhận là đúng trong thế gian. Vì vậy, Ta nói rằng quan điểm ấy sai lầm.”

“Sīvaka, cũng có những cảm thọ phát sinh do rối loạn đàm (chất nhầy, cảm lạnh v.v.),

Phát sinh do rối loạn khí (gió, khí huyết, thần kinh)….,

Do sự mất cân bằng giữa ba yếu tố (mật, đàm, phong),…

Do biến đổi khí hậu,…

Do hành vi bất cẩn,…

Do bị hành hung, đánh đập,…

Và sau cùng là do nghiệp. Việc một số cảm thọ phát sinh từ nghiệp là điều con người có thể tự biết, và thế gian cũng công nhận là đúng.bNhưng nếu nói rằng tất cả cảm thọ đều do nghiệp quá khứ, thì họ đã nói quá sự thật có thể thấy rõ bằng trí, và không đúng với chân lý thực tế. Do đó, Ta nói rằng quan điểm ấy cũng sai lầm.”

Khi nghe xong, đạo sĩ Moḷiyasīvaka liền tán thán:

“Tuyệt vời thay, bạch Tôn giả Gotama! …Từ nay trở đi, xin Ngài nhận biết con là một cư sĩ tại gia trọn đời quy y Tam Bảo!”

Mật, đàm, và phong hàn,
Khí hậu, mất cân bằng,
Bất cẩn, hay bị hại,
Quả nghiệp là thứ tám.

Chú Thích

Moḷiyasīvaka là một du sĩ ngoại đạo, được đặt tên như vậy vì búi tóc trên đầu của ông (moli có nghĩa là búi tóc). Ông theo quan điểm “tất cả cảm thọ đều do nghiệp quá khứ gây ra” (pubbakatahetuvāda – học thuyết về nghiệp quá khứ là nguyên nhân duy nhất).

Đức Phật không phủ nhận vai trò của nghiệp quá khứ, nhưng Ngài bác bỏ quan điểm rằng tất cả mọi cảm thọ (đặc biệt là cảm thọ đau đớn) đều do nghiệp quá khứ gây ra một cách duy nhất và đầy đủ. Ngài chỉ ra rằng có 8 nguyên nhân khiến cảm thọ đau đớn phát sinh, trong đó nghiệp quá khứ chỉ là một nguyên nhân, và chỉ trong một số trường hợp (ví dụ, cảm thọ khởi lên do nghiệp thuần túy).

Tám nguyên nhân gây cảm thọ đau đớn (vedanā):

1. Do mật (pitta)
2. Do đàm (semha)
3. Do gió (vāta)
4. Do kết hợp các yếu tố trên (sannipātika)
5. Do xử lý sai lầm (visamaparihāraja)
6. Do tai nạn, ngoại lực (opakkamika)
7. Do hoàn cảnh hiện tại (paccuppanna-paccaya)
8. Do quả của nghiệp (kammavipāka)

Sớ giải chú thích rằng chỉ loại thứ 8 là cảm thọ sinh khởi duy nhất bởi nghiệp (kevala-kammavipāka). Các loại khác có thể có nghiệp làm nguyên nhân gián tiếp, nhưng cảm thọ đau đớn trực tiếp phát sinh từ các yếu tố vật lý, y học hoặc hành vi. Nói về tầm quan trọng của thường thức (lokavohāra), bài kinh được nói từ góc nhìn thường nghiệm của thế gian, không phải ở tầng sâu của Abhidhamma.

Sớ Giải

269. tatiyavaggassa paṭhame moḷiyasīvakoti sīvakoti tassa nāmaṃ. cūḷā panassa atthi, tasmā moḷiyasīvakoti vuccati. paribbājakoti channaparibbājako. pittasamuṭṭhānānīti pittapaccayāni. vedayitānīti vedanā. tattha pittapaccayā tisso vedanā uppajjanti. kathaṃ? ekacco hi “pittaṃ me kupitaṃ dujjānaṃ kho pana jīvitan”ti dānaṃ deti, sīlaṃ samādiyati uposathakammaṃ karoti, evamassa kusalavedanā uppajjati. ekacco “pittabhesajjaṃ karissāmī”ti pāṇaṃ hanati, adinnaṃ ādiyati, musā bhaṇati, dasa dussīlyakammāni karoti, evamassa akusalavedanā uppajjati. ekacco “ettakenapi me bhesajjakaraṇena pittaṃ na vūpasammati, alaṃ yaṃ hoti. taṃ hotū”ti majjhatto kāyikavedanaṃ adhivāsento nipajjati, evaṃ assa abyākatavedanā uppajjati.

sāmampi kho etanti taṃ taṃ pittavikāraṃ disvā attanāpi etaṃ veditabbaṃ. saccasammatanti bhūtasammataṃ. lokopi hissa sarīre sabalavaṇṇatādipittavikāraṃ disvā “pittamassa kupitan”ti jānāti. tasmāti yasmā sāmañca viditaṃ lokassa ca saccasammataṃ atidhāvanti, tasmā. semhasamuṭṭhānādīsupi eseva nayo. ettha pana sannipātikānīti tiṇṇampi pittādīnaṃ kopena samuṭṭhitāni. utupariṇāmajānīti visabhāgaututo jātāni. jaṅgaladesavāsīnañhi anupadese vasantānaṃ visabhāgo utu uppajjati, anupadesavāsīnañca jaṅgaladeseti evaṃ malayasamuddatīrādivasenāpi utuvisabhāgatā uppajjatiyeva. tato jātāti utupariṇāmajātāni nāma.

 visamaparihārajānīti mahābhāravahanasudhākoṭṭanādito vā avelāya carantassa sappaḍaṃsakūpapātādito vā visamaparihārato jātāni. opakkamikānīti “ayaṃ coro vā pāradāriko vā”ti gahetvā jaṇṇukakapparamuggarādīhi nippothanaupakkamaṃ paccayaṃ katvā uppannāni. etaṃ bahi upakkamaṃ labhitvā koci vuttanayeneva kusalaṃ karoti, koci akusalaṃ, koci adhivāsento nipajjati. kammavipākajānīti kevalaṃ kammavipākato, jātāni. tesupi hi uppannesu vuttanayeneva koci kusalaṃ karoti, koci akusalaṃ, koci adhivāsento nipajjati. evaṃ sabbavāresu tividhāva vedanā honti.

tattha purimehi sattahi kāraṇehi uppannā sārīrikā vedanā sakkā paṭibāhituṃ, kammavipākajānaṃ pana sabbabhesajjānipi sabbaparittānipi nālaṃ paṭighātāya. imasmiṃ sutte lokavohāro nāma kathitoti.

269. Sớ giải Kinh Sīvaka (Sīvakasutta)

Moḷiyasīvaka: “Sīvaka” là tên gọi của vị du sĩ này. Vì ông có một búi tóc nhỏ trên đầu (cūḷā), nên được gọi là Moḷiyasīvaka (nghĩa đen: "Sīvaka có búi tóc").

Paribbājaka là một du sĩ, thuộc phái khất sĩ không theo Phật giáo, ở đây ám chỉ một du sĩ ngoài giáo pháp Phật.

“Pittasamuṭṭhānāni” nghĩa là gì?

Tức là: Những cảm thọ (vedanā) phát sinh do mật (pitta), tức nhiệt độc hay nóng trong người. Ba loại cảm thọ có thể phát sinh từ mật:

Ví dụ về cảm thọ thiện (kusalavedanā):Có người thấy mình bị rối loạn mật, nghĩ rằng:“Mật của ta đang nóng, thật khó mà giữ được mạng sống”, nên người ấy phát tâm bố thí, giữ giới, thực hành trai giới.Do vậy mà khởi lên cảm thọ thiện.

Ví dụ về cảm thọ bất thiện (akusalavedanā):
Có người khác muốn trị bệnh mật, nhưng thay vào đó lại giết hại sinh vật, trộm cắp, nói dối, và làm đủ thứ ác nghiệp. Từ đó sinh ra cảm thọ bất thiện.

Ví dụ về cảm thọ không thiện không bất thiện (avyākatavedanā):
Một người khác biết rõ rằng:“Dù có dùng thuốc cũng không khỏi, thì cứ để vậy” — người ấy nằm xuống chịu đựng một cách trung lập, không phản ứng, thì từ đó phát sinh cảm thọ không thiện không bất thiện.

Thế gian có thể tự biết “Sāmampi kho etaṃ”: chính người ấy cũng tự biết là cảm thọ do mật gây ra. “Saccasammataṃ”: được xem là đúng trong thế gian, tức là sự thật mà người đời công nhận. Người thường cũng có thể nhìn sắc diện như da vàng vọt... mà biết rằng người này bị nóng gan hay rối loạn mật.

Các nguyên nhân khác gây ra cảm thọ

Tương tự với semha (đàm) và vāta (phong, khí) cũng như vậy.

Sannipātikāni: là những cảm thọ do kết hợp của cả ba yếu tố (mật, đàm, phong) cùng bị rối loạn.

Utupariṇāmajāni: là cảm thọ do thay đổi thời tiết.
Ví dụ: Người sống ở vùng rừng núi đến vùng đồng bằng, hay người từ biển cả đến vùng khô cằn — khi cơ thể chưa thích nghi với khí hậu khác biệt, dễ sinh bệnh.

Visamaparihārajāni: là những cảm thọ phát sinh từ hành vi sai lệch hoặc môi trường sống bất ổn, như khiêng vật nặng, bị rắn cắn, té ngã,...

Visamaparihārajāni – Là những cảm thọ phát sinh từ việc xử lý hay sinh hoạt sai cách, ví dụ:

  • mahābhāravahanasudhākoṭṭanādito – như bị xe lớn đụng, bị đánh bằng gậy sắt, đá, v.v.
  • avelāya carantassa sappaḍaṃsakūpapātādito – hoặc đi lại không đúng thời (ban đêm, mưa gió...) mà bị rắn cắn, côn trùng đốt, ngã hố, v.v.

Opakkamikāni – Là những cảm thọ đau đớn do người khác chủ động gây ra qua hành động có chủ ý, ví dụ:

  • Bị bắt và đánh vì tội lỗi như trộm cắp, ngoại tình ("ayaṃ coro vā pāradāriko vā").
  • Bị đánh bằng đầu gối, chày, gậy, v.v. (jaṇṇukakapparamuggarādīhi).

Kammavipākajāni – Là cảm thọ đau đớn sinh ra thuần túy từ quả của nghiệp quá khứ (kevalaṃ kammavipākato jātāni). Dù dùng tất cả các loại thuốc hay phương pháp trị liệu, không thể ngăn chặn. Người chịu khổ có thể:

    • Làm thiện (kusalaṃ karoti),
    • Làm ác (akusalaṃ),
    • Nhẫn nhịn chịu đựng (adhivāsento nipajjati).

Bảy loại cảm thọ đầu tiên có thể được ngăn chặn hoặc chữa trị (paṭibāhituṃ sakkā), vì chúng không phải do nghiệp thuần túy.

Loại thứ tám – kammavipākajani, thì không thể phòng tránh, vì do nghiệp thuần túy, vượt ngoài khả năng của thuốc men hay biện pháp y học.

Trong bài kinh này, Đức Phật trình bày từ góc nhìn thường thức (lokavohāra) – tức là nói theo cách thế gian hiểu và kinh nghiệm được, không phải là phân tích rốt ráo theo chân đế (paramattha).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Phần Ba - Phẩm Một Trăm Lẻ Tám Pháp Môn

21. I. Sìvaka (S.iv,230)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Rồi du sĩ Moliya Sìvaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, du sĩ Moliya Sìvaka thưa với Thế Tôn:

-- Thưa Tôn giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, thấy như sau: "Con người cảm thọ cảm giác gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; tất cả thọ ấy đều do nhân đã làm trong quá khứ". Ở đây, Tôn giả Gotama nói như thế nào?

4) -- Này Sìvaka, ở đây, một số cảm thọ khởi lên, phát sanh từ mật (semhà). Này Siivaka, hoặc là Ông phải tự mình (sàma) biết rằng: "Ở đây, một số cảm thọ khởi lên, phát sanh từ mật". Hay là, này Siivaka, thế giới chấp nhận là đúng sự thật rằng: "Ở đây, một số cảm thọ khởi lên phát sanh từ mật". Ở đây, này Siivaka, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào thuyết như sau, thấy như sau: "Con người cảm thọ cảm giác gì, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; tất cả thọ đều do nhân đã làm trong quá khứ"; nếu do họ tự mình biết, họ thật sự đi quá xa; nếu được thế giới chấp nhận là đúng sự thật, họ cũng đi quá xa. Do vậy, Ta tuyên bố rằng các Sa-môn, Bà-la-môn ấy thuộc về tà.

5) Này Siivaka, ở đây, một số cảm thọ khởi lên, phát sanh từ đàm (niêm dịch) ...

6) Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ gió...

7) Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ sự gặp gỡ các... nước trong thân thể (sannipitikàni).

8) Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ sự gặp gỡ các thời tiết...

9) Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ sự gặp gỡ các nghịch vận...

10) Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ các công kích thình lình từ bên ngoài vào...

11) Do quả dị thục của nghiệp, này Siivaka, ở đây, một số cảm thọ được khởi lên. Này Siivaka, hoặc là Ông phải tự mình biết rằng: "Ở đây, một số cảm thọ khởi lên vì kết quả dị thục của nghiệp". Hay là, này Siivaka, thế giới chấp nhận là đúng sự thật rằng: "Ở đây, một số cảm thọ khởi lên vì kết quả dị thục của nghiệp". Ở đây, này Siivaka, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào thuyết như sau, thấy như sau: "Con người cảm thọ cảm giác gì, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; tất cả thọ đều do nhân đã làm trong quá khứ"; nếu do họ tự mình biết, họ thật sự đi quá xa; nếu được thế giới chấp nhận là đúng sự thật, họ cũng đi quá xa. Do vậy, Ta tuyên bố rằng các Sa-môn, Bà-la-môn ấy thuộc về tà.

12) Khi được nói vậy, du sĩ Moliya Siivaka bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

Mật, niêm dịch và gió,
Sự gặp gỡ các loại nước,
Sự thay đổi thời tiết,
Sự gặp gỡ các nghịch vận,
Sự công kích thình lình,
Nghiệp quả là thứ tám.

  -ooOoo-