|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 21 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
KInh Một Tỳ Khưu (SN 35. 268) giống hệt hai bài kinh trước ( pañcakaṅgasuttaṃ SN 35. 267), chỉ khác là Đức Phật giảng cho một tỳ khưu thay vì Tôn giả Ānanda.) ******
KINH
VĂN
269. ekaṃ samayaṃ bhagavā
rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe. atha kho
moḷiyasīvako paribbājako
yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavatā
saddhiṃ sammodi.
sammodanīyaṃ kathaṃ
sāraṇīyaṃ vītisāretvā
ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ
nisinno kho moḷiyasīvako
paribbājako bhagavantaṃ
etadavoca — “santi, bho
gotama, eke samaṇabrāhmaṇā
evaṃvādino evaṃdiṭṭhino —
‘yaṃ kiñcāyaṃ purisapuggalo
paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā
dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ
vā sabbaṃ taṃ
pubbekatahetū’ti. idha {idha
pana (syā. kaṃ. pī. ka.)}
bhavaṃ gotamo kimāhā”ti?
“pittasamuṭṭhānānipi kho,
sīvaka, idhekaccāni
vedayitāni uppajjanti.
sāmampi kho etaṃ, sīvaka,
veditabbaṃ {evaṃ veditabbaṃ
(syā. kaṃ. ka.)} yathā
pittasamuṭṭhānānipi
idhekaccāni vedayitāni
uppajjanti; lokassapi kho
etaṃ, sīvaka, saccasammataṃ
yathā pittasamuṭṭhānānipi
idhekaccāni vedayitāni
uppajjanti. tatra, sīvaka,
ye te samaṇabrāhmaṇā
evaṃvādino evaṃdiṭṭhino —
‘yaṃ kiñcāyaṃ purisapuggalo
paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā
dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ
vā sabbaṃ taṃ
pubbekatahetū’ti. yañca
sāmaṃ ñātaṃ tañca
atidhāvanti, yañca loke
saccasammataṃ tañca
atidhāvanti. tasmā tesaṃ
samaṇabrāhmaṇānaṃ micchāti
vadāmi.
“semhasamuṭṭhānānipi kho,
sīvaka ... pe ...
vātasamuṭṭhānānipi kho,
sīvaka ... pe ...
sannipātikānipi kho, sīvaka
... pe ... utupariṇāmajānipi
kho, sīvaka ... pe ...
visamaparihārajānipi kho,
sīvaka ... pe ...
opakkamikānipi kho, sīvaka
... pe ... kammavipākajānipi
kho, sīvaka, idhekaccāni
vedayitāni uppajjanti.
sāmampi kho etaṃ, sīvaka,
veditabbaṃ. yathā
kammavipākajānipi
idhekaccāni vedayitāni
uppajjanti; lokassapi kho
etaṃ, sīvaka, saccasammataṃ.
yathā kammavipākajānipi
idhekaccāni vedayitāni
uppajjanti; tatra, sīvaka,
ye te samaṇabrāhmaṇā
evaṃvādino evaṃdiṭṭhino —
‘yaṃ kiñcāyaṃ purisapuggalo
paṭisaṃvedeti sukhaṃ vā
dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ
vā sabbaṃ taṃ
pubbekatahetū’ti. yañca
sāmaṃ ñātaṃ tañca
atidhāvanti yañca loke
saccasammataṃ tañca
atidhāvanti. tasmā tesaṃ
samaṇabrāhmaṇānaṃ micchāti
vadāmīti. evaṃ vutte,
moḷiyasīvako paribbājako
bhagavantaṃ etadavoca —
‘abhikkantaṃ, bho gotama,
abhikkantaṃ, bho gotama ...
pe ... upāsakaṃ maṃ bhavaṃ
gotamo dhāretu ajjatagge
pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan’”ti.
“pittaṃ semhañca vāto ca,
sannipātā utūni ca.
visamaṃ opakkamikaṃ,
kammavipākena aṭṭhamī”ti.
paṭhamaṃ.
Một lần nọ, Đức Thế Tôn ngự
ở thành Vương Xá (Rājagaha
), tại Trúc Lâm (Veḷuvana),
nơi khu vực dành cho sóc
(kalandakanivāpa). Khi ấy,
du sĩ ngoại giáo tên là
Moḷiyasīvaka đến gặp Đức Thế
Tôn và trao đổi lời chào
hỏi, thăm hỏi thân thiện.
Sau khi chào hỏi xong, ông
ngồi sang một bên và thưa
với Đức Thế Tôn:
“Bạch Tôn giả Gotama, một số
sa môn, bà la môn chủ trương
quan điểm như sau: ‘Tất cả
những gì một người cảm thọ
dù là lạc thọ, khổ thọ, hay
bất lạc bất khổ — đều do
nghiệp quá khứ gây ra.’ Xin
hỏi Tôn giả Gotama nghĩ gì
về quan điểm ấy?”
[Đức Thế Tôn đáp:]
“Sīvaka, có một số cảm thọ
phát sinh do rối loạn mật
(gan nóng, nhiệt độc v.v.).
Việc có những cảm thọ phát
sinh do rối loạn mật là điều
con người có thể tự mình
biết được, và điều đó cũng
được thế gian công nhận là
đúng.
Khi các sa môn, bà la môn
nói rằng: ‘Tất cả những gì
một người cảm thọ dù là lạc
thọ, khổ thọ, hay bất lạc
bất khổ — đều do nghiệp quá
khứ gây ra.’ thì họ đã vượt
quá sự thật có thể tự biết,
và cũng vượt quá những gì
được công nhận là đúng trong
thế gian. Vì vậy, Ta nói
rằng quan điểm ấy sai lầm.”
“Sīvaka, cũng có những cảm
thọ phát sinh do rối loạn
đàm (chất nhầy, cảm lạnh
v.v.),
Phát sinh do rối loạn khí
(gió, khí huyết, thần
kinh)….,
Do sự mất cân bằng giữa ba
yếu tố (mật, đàm, phong),…
Do biến đổi khí hậu,…
Do hành vi bất cẩn,…
Do bị hành hung, đánh đập,…
Và sau cùng là do nghiệp.
Việc một số cảm thọ phát
sinh từ nghiệp là điều con
người có thể tự biết, và thế
gian cũng công nhận là
đúng.bNhưng nếu nói rằng tất
cả cảm thọ đều do nghiệp quá
khứ, thì họ đã nói quá sự
thật có thể thấy rõ bằng
trí, và không đúng với chân
lý thực tế. Do đó, Ta nói
rằng quan điểm ấy cũng sai
lầm.”
Khi nghe xong, đạo sĩ
Moḷiyasīvaka liền tán thán:
“Tuyệt vời thay, bạch Tôn
giả Gotama! …Từ nay trở đi,
xin Ngài nhận biết con là
một cư sĩ tại gia trọn đời
quy y Tam Bảo!”
Mật, đàm, và phong hàn,
Chú Thích
Moḷiyasīvaka là một du sĩ
ngoại đạo, được đặt tên như
vậy vì búi tóc trên đầu của
ông (moli có nghĩa là búi
tóc). Ông theo quan điểm
“tất cả cảm thọ đều do
nghiệp quá khứ gây ra”
(pubbakatahetuvāda – học
thuyết về nghiệp quá khứ là
nguyên nhân duy nhất).
Đức Phật không phủ nhận vai
trò của nghiệp quá khứ,
nhưng Ngài bác bỏ quan điểm
rằng tất cả mọi cảm thọ (đặc
biệt là cảm thọ đau đớn) đều
do nghiệp quá khứ gây ra một
cách duy nhất và đầy đủ.
Ngài chỉ ra rằng có 8 nguyên
nhân khiến cảm thọ đau đớn
phát sinh, trong đó nghiệp
quá khứ chỉ là một nguyên
nhân, và chỉ trong một số
trường hợp (ví dụ, cảm thọ
khởi lên do nghiệp thuần
túy).
Tám nguyên nhân gây cảm thọ
đau đớn (vedanā): 2. Do đàm (semha) 3. Do gió (vāta) 4. Do kết hợp các yếu tố trên (sannipātika) 5. Do xử lý sai lầm (visamaparihāraja) 6. Do tai nạn, ngoại lực (opakkamika) 7. Do hoàn cảnh hiện tại (paccuppanna-paccaya) 8. Do quả của nghiệp (kammavipāka)
Sớ giải chú thích rằng chỉ
loại thứ 8 là cảm thọ sinh
khởi duy nhất bởi nghiệp
(kevala-kammavipāka). Các
loại khác có thể có nghiệp
làm nguyên nhân gián tiếp,
nhưng cảm thọ đau đớn trực
tiếp phát sinh từ các yếu tố
vật lý, y học hoặc hành vi.
Nói về tầm quan trọng của
thường thức (lokavohāra),
bài kinh được nói từ góc
nhìn thường nghiệm của thế
gian, không phải ở tầng sâu
của Abhidhamma.
Sớ Giải
269. tatiyavaggassa paṭhame
moḷiyasīvakoti sīvakoti
tassa nāmaṃ. cūḷā panassa
atthi, tasmā moḷiyasīvakoti
vuccati. paribbājakoti
channaparibbājako.
pittasamuṭṭhānānīti
pittapaccayāni. vedayitānīti
vedanā. tattha pittapaccayā
tisso vedanā uppajjanti.
kathaṃ? ekacco hi “pittaṃ me
kupitaṃ dujjānaṃ kho pana
jīvitan”ti dānaṃ deti, sīlaṃ
samādiyati uposathakammaṃ
karoti, evamassa
kusalavedanā uppajjati.
ekacco “pittabhesajjaṃ
karissāmī”ti pāṇaṃ hanati,
adinnaṃ ādiyati, musā
bhaṇati, dasa
dussīlyakammāni karoti,
evamassa akusalavedanā
uppajjati. ekacco
“ettakenapi me
bhesajjakaraṇena pittaṃ na
vūpasammati, alaṃ yaṃ hoti.
taṃ hotū”ti majjhatto
kāyikavedanaṃ adhivāsento
nipajjati, evaṃ assa
abyākatavedanā uppajjati.
sāmampi kho etanti taṃ taṃ
pittavikāraṃ disvā attanāpi
etaṃ veditabbaṃ.
saccasammatanti
bhūtasammataṃ. lokopi hissa
sarīre
sabalavaṇṇatādipittavikāraṃ
disvā “pittamassa kupitan”ti
jānāti. tasmāti yasmā
sāmañca viditaṃ lokassa ca
saccasammataṃ atidhāvanti,
tasmā. semhasamuṭṭhānādīsupi
eseva nayo. ettha pana
sannipātikānīti tiṇṇampi
pittādīnaṃ kopena
samuṭṭhitāni.
utupariṇāmajānīti
visabhāgaututo jātāni.
jaṅgaladesavāsīnañhi
anupadese vasantānaṃ
visabhāgo utu uppajjati,
anupadesavāsīnañca
jaṅgaladeseti evaṃ
malayasamuddatīrādivasenāpi
utuvisabhāgatā
uppajjatiyeva. tato jātāti
utupariṇāmajātāni nāma.
visamaparihārajānīti
mahābhāravahanasudhākoṭṭanādito
vā avelāya carantassa
sappaḍaṃsakūpapātādito vā
visamaparihārato jātāni.
opakkamikānīti “ayaṃ coro vā
pāradāriko vā”ti gahetvā
jaṇṇukakapparamuggarādīhi
nippothanaupakkamaṃ paccayaṃ
katvā uppannāni. etaṃ bahi
upakkamaṃ labhitvā koci
vuttanayeneva kusalaṃ
karoti, koci akusalaṃ, koci
adhivāsento nipajjati.
kammavipākajānīti kevalaṃ
kammavipākato, jātāni.
tesupi hi uppannesu
vuttanayeneva koci kusalaṃ
karoti, koci akusalaṃ, koci
adhivāsento nipajjati. evaṃ
sabbavāresu tividhāva vedanā
honti.
tattha purimehi sattahi
kāraṇehi uppannā sārīrikā
vedanā sakkā paṭibāhituṃ,
kammavipākajānaṃ pana
sabbabhesajjānipi
sabbaparittānipi nālaṃ
paṭighātāya. imasmiṃ sutte
lokavohāro nāma kathitoti.
269. Sớ giải Kinh Sīvaka
(Sīvakasutta)
Moḷiyasīvaka:
“Sīvaka” là tên gọi của vị
du sĩ này. Vì ông có một búi
tóc nhỏ trên đầu (cūḷā), nên
được gọi là Moḷiyasīvaka
(nghĩa đen: "Sīvaka có búi
tóc").
Paribbājaka
là một du sĩ, thuộc phái
khất sĩ không theo Phật
giáo, ở đây ám chỉ một du sĩ
ngoài giáo pháp Phật.
“Pittasamuṭṭhānāni” nghĩa là
gì?
Tức là: Những cảm thọ
(vedanā) phát sinh do mật
(pitta), tức nhiệt độc hay
nóng trong người. Ba loại
cảm thọ có thể phát sinh từ
mật:
Ví dụ về cảm thọ thiện
(kusalavedanā):Có
người thấy mình bị rối loạn
mật, nghĩ rằng:“Mật của
ta đang nóng, thật khó mà
giữ được mạng sống”, nên
người ấy phát tâm bố thí,
giữ giới, thực hành trai
giới.Do vậy mà khởi lên cảm
thọ thiện.
Ví dụ về cảm thọ bất thiện
(akusalavedanā):
Ví dụ về cảm thọ không thiện
không bất thiện
(avyākatavedanā):
Thế gian có thể tự biết
“Sāmampi kho etaṃ”: chính
người ấy cũng tự biết là cảm
thọ do mật gây ra.
“Saccasammataṃ”: được xem là
đúng trong thế gian, tức là
sự thật mà người đời công
nhận. Người thường cũng có
thể nhìn sắc diện như da
vàng vọt... mà biết rằng
người này bị nóng gan hay
rối loạn mật.
Các nguyên nhân khác gây ra
cảm thọ
Tương tự với semha
(đàm) và vāta (phong,
khí) cũng như vậy.
Sannipātikāni:
là những cảm thọ do kết hợp
của cả ba yếu tố (mật, đàm,
phong) cùng bị rối loạn.
Utupariṇāmajāni:
là cảm thọ do thay đổi thời
tiết.
Visamaparihārajāni:
là những cảm thọ phát sinh
từ hành vi sai lệch hoặc môi
trường sống bất ổn, như
khiêng vật nặng, bị rắn cắn,
té ngã,...
Visamaparihārajāni
– Là những cảm thọ phát sinh
từ việc xử lý hay sinh hoạt
sai cách, ví dụ:
Opakkamikāni
– Là những cảm thọ đau đớn
do người khác chủ động gây
ra qua hành động có chủ ý,
ví dụ:
Kammavipākajāni
– Là cảm thọ đau đớn sinh ra
thuần túy từ quả của nghiệp
quá khứ (kevalaṃ
kammavipākato jātāni).
Dù dùng tất cả các loại
thuốc hay phương pháp trị
liệu, không thể ngăn chặn.
Người chịu khổ có thể:
Bảy loại cảm thọ đầu tiên có
thể được ngăn chặn hoặc chữa
trị (paṭibāhituṃ sakkā), vì
chúng không phải do nghiệp
thuần túy.
Loại thứ tám –
kammavipākajani, thì không
thể phòng tránh, vì do
nghiệp thuần túy, vượt ngoài
khả năng của thuốc men hay
biện pháp y học.
Trong bài kinh này, Đức Phật
trình bày từ góc nhìn thường
thức (lokavohāra) – tức là
nói theo cách thế gian hiểu
và kinh nghiệm được, không
phải là phân tích rốt ráo
theo chân đế (paramattha).
Phần Ba - Phẩm Một Trăm Lẻ
Tám Pháp Môn
21. I. Sìvaka (S.iv,230)
1) Một thời Thế Tôn trú ở
Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc
Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con
sóc.
2) Rồi du sĩ Moliya Sìvaka
đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
nói lên với Thế Tôn những
lời chào đón hỏi thăm, sau
khi nói lên những lời chào
đón hỏi thăm thân hữu liền
ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, du sĩ
Moliya Sìvaka thưa với Thế
Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, có
một số Sa-môn, Bà-la-môn
thuyết như sau, thấy như
sau: "Con người cảm thọ cảm
giác gì, lạc thọ, khổ thọ,
hay bất khổ bất lạc thọ; tất
cả thọ ấy đều do nhân đã làm
trong quá khứ". Ở đây, Tôn
giả Gotama nói như thế nào?
4) -- Này Sìvaka, ở đây, một
số cảm thọ khởi lên, phát
sanh từ mật (semhà). Này
Siivaka, hoặc là Ông phải tự
mình (sàma) biết rằng: "Ở
đây, một số cảm thọ khởi
lên, phát sanh từ mật". Hay
là, này Siivaka, thế giới
chấp nhận là đúng sự thật
rằng: "Ở đây, một số cảm thọ
khởi lên phát sanh từ mật".
Ở đây, này Siivaka, những vị
Sa-môn, Bà-la-môn nào thuyết
như sau, thấy như sau: "Con
người cảm thọ cảm giác gì,
lạc thọ, khổ thọ, bất khổ
bất lạc thọ; tất cả thọ đều
do nhân đã làm trong quá
khứ"; nếu do họ tự mình
biết, họ thật sự đi quá xa;
nếu được thế giới chấp nhận
là đúng sự thật, họ cũng đi
quá xa. Do vậy, Ta tuyên bố
rằng các Sa-môn, Bà-la-môn
ấy thuộc về tà.
5) Này Siivaka, ở đây, một
số cảm thọ khởi lên, phát
sanh từ đàm (niêm dịch) ...
6) Này Siivaka... khởi lên,
phát sanh từ gió...
7) Này Siivaka... khởi lên,
phát sanh từ sự gặp gỡ
các... nước trong thân thể
(sannipitikàni).
8) Này Siivaka... khởi lên,
phát sanh từ sự gặp gỡ các
thời tiết...
9) Này Siivaka... khởi lên,
phát sanh từ sự gặp gỡ các
nghịch vận...
10) Này Siivaka... khởi lên,
phát sanh từ các công kích
thình lình từ bên ngoài
vào...
11) Do quả dị thục của
nghiệp, này Siivaka, ở đây,
một số cảm thọ được khởi
lên. Này Siivaka, hoặc là
Ông phải tự mình biết rằng:
"Ở đây, một số cảm thọ khởi
lên vì kết quả dị thục của
nghiệp". Hay là, này
Siivaka, thế giới chấp nhận
là đúng sự thật rằng: "Ở
đây, một số cảm thọ khởi lên
vì kết quả dị thục của
nghiệp". Ở đây, này Siivaka,
những vị Sa-môn, Bà-la-môn
nào thuyết như sau, thấy như
sau: "Con người cảm thọ cảm
giác gì, lạc thọ, khổ thọ,
bất khổ bất lạc thọ; tất cả
thọ đều do nhân đã làm trong
quá khứ"; nếu do họ tự mình
biết, họ thật sự đi quá xa;
nếu được thế giới chấp nhận
là đúng sự thật, họ cũng đi
quá xa. Do vậy, Ta tuyên bố
rằng các Sa-môn, Bà-la-môn
ấy thuộc về tà.
12) Khi được nói vậy, du sĩ
Moliya Siivaka bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch
Thế Tôn... từ nay cho đến
mạng chung, con trọn đời quy
ngưỡng!
Mật, niêm dịch và gió,
|