BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 22 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm 108 Pháp Môn- SN. 35. 270 . Bài 462. ĐI VÀO THẾ GIỚI PHỨC CẢM- Kinh Chủ Đề Về Một Trăm Lẻ Tám (Aṭṭhasatasuttaṃ).
...
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-462.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngCảm thọ đối với nhiều người chỉ đơn giản là vui khổ. Đối với người tu tập thì cảm thọ được Đức Phật dạy là một hệ thống phức cảm liên quan tới vật chất - tâm thức, dị biệt ở các giác quan, và biến đổi bởi thời gian. Không những thể mà xả thọ, hay bất khổ bất lạc cũng có vai trò không thể phủ nhận. Đức Phật cũng dạy cảm thọ khác biệt giữa hai lối sống cư sĩ và xuất gia. Tất cả tạo nên một bức tranh đa dạng mà một người muốn hiểu chính mình không thể không biết tới.

 KINH VĂN

270. “aṭṭhasatapariyāyaṃ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṃ desessāmi. taṃ suṇātha. katamo ca, bhikkhave, aṭṭhasatapariyāyo, dhammapariyāyo? dvepi mayā, bhikkhave, vedanā vuttā pariyāyena; tissopi mayā vedanā vuttā pariyāyena; pañcapi mayā vedanā vuttā pariyāyena; chapi mayā vedanā vuttā pariyāyena; aṭṭhārasāpi mayā vedanā vuttā pariyāyena; chattiṃsāpi mayā vedanā vuttā pariyāyena; aṭṭhasatampi mayā vedanā vuttā pariyāyena. “katamā ca, bhikkhave, dve vedanā? kāyikā ca cetasikā ca — imā vuccanti, bhikkhave, dve vedanā. katamā ca, bhikkhave, tisso vedanā? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā — imā vuccanti, bhikkhave, tisso vedanā. katamā ca, bhikkhave, pañca vedanā? sukhindriyaṃ, dukkhindriyaṃ, somanassindriyaṃ, domanassindriyaṃ, upekkhindriyaṃ — imā vuccanti, bhikkhave, pañca vedanā. katamā ca, bhikkhave, cha vedanā? cakkhusamphassajā vedanā ... pe ... manosamphassajā vedanā — imā vuccanti, bhikkhave, cha vedanā. katamā ca, bhikkhave, aṭṭhārasa vedanā? cha somanassūpavicārā, cha domanassūpavicārā, cha upekkhūpavicārā — imā vuccanti, bhikkhave, aṭṭhārasa vedanā. katamā ca, bhikkhave, chattiṃsa vedanā? cha gehasitāni {gehassitāni (aṭṭha.)} somanassāni, cha nekkhammasitāni {nekkhammassitāni (aṭṭha.)} somanassāni, cha gehasitāni domanassāni, cha nekkhammasitāni domanassāni, cha gehasitā upekkhā, cha nekkhammasitā upekkhā — imā vuccanti, bhikkhave, chattiṃsa vedanā. katamañca, bhikkhave, aṭṭhasataṃ vedanā? atītā chattiṃsa vedanā, anāgatā chattiṃsa vedanā, paccuppannā chattiṃsa vedanā — imā vuccanti, bhikkhave, aṭṭhasataṃ vedanā. ayaṃ, bhikkhave, aṭṭhasatapariyāyo dhammapariyāyo”ti. dutiyaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết cho các Thầy pháp thoại chủ đề một trăm lẻ tám. Hãy lắng nghe điều ấy… Hãy chú tâm lắng nghe, Ta sẽ giảng.”

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là pháp thoại về chủ đề một trăm lẻ tám?
Ta đã nói đến hai loại cảm thọ theo một phương pháp trình bày;
Ta đã nói đến ba loại cảm thọ theo một phương pháp trình bày khác;
Ta đã nói đến năm loại cảm thọ, sáu loại cảm thọ, mười tám loại cảm thọ, ba mươi sáu loại cảm thọ theo những phương pháp trình bày khác nữa;
Và Ta đã nói đến một trăm lẻ tám loại cảm thọ theo một phương pháp trình bày khác nữa.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là hai loại cảm thọ?
Là cảm thọ thuộc thân và cảm thọ thuộc tâm.
Đây được gọi là hai loại cảm thọ.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là ba loại cảm thọ?
Là cảm thọ lạc (vui), cảm thọ khổ (đau), và cảm thọ không khổ không lạc (xả thọ).
Đây được gọi là ba loại cảm thọ.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là năm loại cảm thọ?
Là: lạc  quyền , khổ quyền, hỷ quyền , ưu quyền , và xả quyền.

Đây được gọi là năm loại cảm thọ.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là sáu loại cảm thọ?
Là cảm thọ sinh khởi do nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, và ý xúc. Đây được gọi là sáu loại cảm thọ.

 “Và này chư Tỳ khưu, thế nào là mười tám loại cảm thọ?
Là sáu tư duy đi kèm với hỷ,
sáu sự tư duy đi kèm với ưu,
và sáu tư duy đi kèm với xả.
Đây được gọi là mười tám loại cảm thọ.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là ba mươi sáu loại cảm thọ?
Là:

  • Sáu loại hỷ thọ dựa trên đời sống tại gia,
  • Sáu loại hỷ thọ dựa trên đời sống xuất gia;
  • Sáu loại ưu thọ dựa trên đời sống tại gia,
  • Sáu loại ưu thọ dựa trên đời sống xuất gia;
  • Sáu loại xả thọ dựa trên đời sống tại gia,
  • Sáu loại xả thọ dựa trên đời sống xuất gia.

Đây được gọi là ba mươi sáu loại cảm thọ.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là một trăm lẻ tám loại cảm thọ?
Là:

  • Ba mươi sáu loại cảm thọ trong quá khứ,
  • Ba mươi sáu loại cảm thọ trong tương lai,
  • Ba mươi sáu loại cảm thọ trong hiện tại.

Đây được gọi là một trăm lẻ tám loại cảm thọ.

10. “Này chư Tỳ khưu, đó là pháp thoại về chủ đề một trăm lẻ tám.”

Chú Thích

Ý nghĩa của một trăm lẻ tám cảm thọ được ghi trong phần Sớ giải xem bên dưới.

Con số 108 thường được nói đến trong nhiều tông phái Phật giáo kể cả số hạt tràng chuỗi. Tam Tạng Pali thì đề cập con số nầy với sự đa dạng của cảm thọ.

Đây là một trong số những bài kinh thuộc Kinh Tạng mang tính phân tích vi mô và pháp số như Thắng Pháp Tạng.

Sớ Giải

 270-278. dutiye aṭṭhasatapariyāyanti aṭṭhasatassa kāraṇabhūtaṃ. dhammapariyāyanti dhammakāraṇaṃ. kāyikā ca cetasikā cāti ettha kāyikā kāmāvacareyeva labbhanti, cetasikā catubhūmikāpi. sukhātiādīsu sukhā vedanā arūpāvacare natthi, sesāsu tīsu bhūmīsu labbhanti, dukkhā kāmāvacarāva, itarā catubhūmikā. pañcake sukhindriyadukkhindriyadomanassindriyāni kāmāvacarāneva, somanassindriyaṃ tebhūmakaṃ, upekkhindriyaṃ catubhūmakaṃ. chakke pañcasu dvāresu vedanā kāmāvacarāva, manodvāre catubhūmikā, aṭṭhārasake chasu iṭṭhārammaṇesu somanassena saha upavicarantīti somanassūpavicārā. sesadvayepi eseva nayo. iti ayaṃ desanā vicāravasena āgatā, taṃsampayuttānaṃ pana somanassādīnaṃ vasena idha aṭṭhārasa vedanā veditabbā.

♦ cha gehasitāni somanassānītiādīsu “cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ paṭilābhaṃ vā paṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati gehasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306). evaṃ chasu dvāresu vuttakāmaguṇanissitāni somanassāni cha gehasitasomanassāni nāma.

♦ “rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306) evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā ussukkāpetuṃ sakkontassa “ussukkitā me vipassanā”ti somanassajātassa uppannasomanassāni cha nekkhammasitasomanassāni nāma.

♦ “cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ appaṭilābhaṃ vā appaṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato uppajjati domanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ domanassaṃ, idaṃ vuccati gehasitaṃ domanassan”ti. evaṃ chasu dvāresu “iṭṭhārammaṇaṃ nānubhavissāmi nānubhavāmī”ti vitakkayato uppannāni kāmaguṇanissitadomanassāni cha gehasitadomanassāni nāma.

♦ “rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpeti ‘kudāssu nāmāhaṃ tadāyatanaṃ upasampajja viharissāmi, yadariyā etarahi āyatanaṃ upasampajja viharantī”ti. iti anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpayato uppajjati pihapaccayā domanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ domanassaṃ, idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ domanassanti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate anuttaravimokkhasaṅkhātāriyaphaladhammesu pihaṃ upaṭṭhāpetvā tadadhigamāya aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā ussukkāpetuṃ asakkontassa “imampi pakkhaṃ imampi māsaṃ imampi saṃvaccharaṃ vipassanaṃ ussukkāpetvā ariyabhūmiṃ pāpuṇituṃ nāsakkhin”ti anusocato uppannāni domanassāni cha nekkhammasitadomanassāni nāma.

♦ “cakkhunā rūpaṃ disvā uppajjati upekkhā bālassa mūḷhassa puthujjanassa anodhijinassa avipākajinassa anādīnavadassāvino assutavato puthujjanassa. yā evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā nātivattati, tasmā sā upekkhā gehasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate guḷapiṇḍake nilīnamakkhikā viya rūpādīni anativattamānā tattheva laggā laggitā hutvā uppannakāmaguṇanissitā upekkhā cha gehasitaupekkhā nāma.

♦ “rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ pubbe ceva rūpā etarahi ca, ‘sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato uppajjati upekkhā. yā evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā ativattati, tasmā sā upekkhā nekkhammasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhādiārammaṇe āpāthagate iṭṭhe arajjantassa aniṭṭhe adussantassa asamapekkhane amuyhantassa uppannā vipassanāñāṇasampayuttā upekkhā nekkhammasitaupekkhā nāma. imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo kathito. tatiyādīni uttānatthāneva.

270. Trong bài kinh thứ hai (của chương này), từ “aṭṭhasatapariyāya” nghĩa là phương pháp phân loại dẫn đến số 108.

Từ “dhammapariyāya” nghĩa là phương pháp phân tích giáo pháp (dhamma).

271. Về hai loại cảm thọ: “thân thọ (kāyikā)” chỉ tồn tại trong cảnh giới dục giới (kāmāvacara);

“tâm thọ (cetasikā)” có thể phát sinh trong cả bốn cảnh giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế).

272. Trong ba loại cảm thọ:

  • Lạc thọ (sukhā vedanā) không có trong cảnh giới vô sắc,
  • Nhưng ba loại cảm thọ khác có mặt trong ba cảnh giới còn lại.
  • Khổ thọ (dukkhā) chỉ có trong dục giới,
  • Còn những loại còn lại có thể hiện diện trong bốn tầng giới.

273. Về năm loại cảm thọ (năm căn thọ):

  • Căn lạc (sukhindriya), căn khổ (dukkhindriya), căn ưu (domanassindriya) chỉ có trong dục giới,
  • Căn hỷ (somanassindriya) hiện diện trong ba giới (dục, sắc, vô sắc),
  • Căn xả (upekkhindriya) hiện diện trong cả bốn giới.

274. Trong sáu cảm thọ (liên hệ với sáu căn):

  • Năm căn đầu (mắt đến thân) chỉ có cảm thọ thuộc dục giới,
  • Còn ý môn (manodvāra) có thể phát sinh cảm thọ thuộc cả bốn tầng giới.

275. Về mười tám cảm thọ (aṭṭhārasaka):

  • Trong sáu đối tượng khả ái (iṭṭhārammaṇa), khi được tiếp xúc với sáu căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý), phát sinh hỷ (somanassa) cùng với sự quan sát và suy xét (upavicaranti) — gọi là “hỷ cùng với sự xét nghiệm” (somanassūpavicārā).
  • Cách thức tương tự cũng áp dụng với ưu (domanassa) và xả (upekkhā) — vậy nên có tổng cộng 18 cảm thọ, phân theo ba cảm thọ (hỷ, ưu, xả) x sáu căn.

1. Somanassa (hỷ thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi một người được hoặc nhớ lại các cảnh sắc đẹp, âm thanh ưa thích, mùi thơm, v.v... liên quan đến lạc thú thế gian, cảm thọ hỷ (somanassa) phát sinh.
  • Điều này được gọi là somanassa thuộc tại gia (gehasitasomanassa) — ví như người hưởng thụ ngũ dục lạc.

2. Somanassa thuộc xuất gia (nekkhamasita):

  • Khi một người thấy rõ vô thường, khổ, vô ngã trong các cảnh (như sắc), và phát sinh hỷ từ tuệ quán (vipassanā) và khát vọng giải thoát, thì đó là somanassa thuộc xuất gia.

3. Domanassa (ưu thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi không đạt được những đối tượng khả ái (sắc, thanh...), hoặc mất đi những gì từng có, thì ưu não (domanassa) sinh khởi.
  • Đây là domanassa thuộc tại gia — bắt nguồn từ thất vọng vì không có dục lạc.

4. Domanassa thuộc xuất gia (nekkhammasita):

  • Khi một người thấy rõ vô thường và phát khởi ước muốn đạt được các pháp giải thoát cao thượng, nhưng không thể thành tựu được, tâm sinh ưu não vì tiếc nuối, gọi là domanassa thuộc xuất gia.

5. Upekkhā (xả thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi tiếp xúc với đối tượng khả ái, nhưng người phàm phu không rõ bản chất, nên tâm trung tính, không hỷ cũng không ưu, sinh ra xả thọ gắn với ngũ dục, gọi là xả thuộc tại gia.

6. Upekkhā thuộc xuất gia (nekkhammasita):

  • Khi thấy rõ tính chất vô thường, khổ, vô ngã, không tham – không sân – không si, và có sự xả ly, bình thản với mọi đối tượng, sinh ra xả thọ kết hợp với trí tuệ, đây là xả thọ thuộc xuất gia.

“Imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo kathito.”
Trong bài kinh này, tất cả các loại cảm thọ thuộc cả bốn tầng giới (dục – sắc – vô sắc – siêu thế) đều được bao gồm.

“Tatiyādīni uttānatthāneva.”
 Các phần tiếp theo (từ đoạn thứ ba trở đi) là rõ ràng, dễ hiểu, không cần phân tích sâu thêm.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

22. II. Một Trăm Lẻ Tám (S.iv,231)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn về pháp theo 108 pháp môn. Hãy lắng nghe.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn về pháp theo 108 pháp môn? Có hai thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có ba thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có năm thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có sáu thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có 18 thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có 36 thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có 108 thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hai thọ? Thọ về thân và thọ về tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hai thọ.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba thọ? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ba thọ.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là năm thọ? Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là năm thọ.

7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu thọ? Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sáu thọ.

8) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là 18 thọ? Có sáu tư duy thân cận (upavicàrà) với hỷ; có sáu tư duy thân cận với ưu; có sáu tư duy thân cận với xả. Này các Tỷ-kheo, đây là 18 thọ.

9) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là 36 thọ? Sáu hỷ liên hệ đến gia đình, sáu hỷ liên hệ đến ly dục; sáu ưu liên hệ đến gia đình, sáu ưu liên hệ đến ly dục; sáu xả liên hệ đến gia đình, sáu xả liên hệ đến ly dục. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là 36 thọ.

10) Thế nào là 108 thọ? 36 thọ về quá khứ, 36 thọ về tương lai, 36 thọ về hiện tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là 108 thọ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp môn về pháp theo 108 pháp môn.

  -ooOoo-