|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 23 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH
VĂN
271. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “katamā
nu kho, bhante, vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamā
vedanāsamudayagāminī paṭipadā? katamo vedanānirodho, katamā
vedanānirodhagāminī paṭipadā? ko vedanāya assādo, ko ādīnavo,
kiṃ nissaraṇan”ti?
“tisso imā, bhikkhu,
vedanā — sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. imā
vuccanti, bhikkhu, vedanā. phassasamudayā vedanāsamudayo. taṇhā
vedanāsamudayagāminī paṭipadā. phassanirodhā vedanānirodho.
ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo vedanānirodhagāminī paṭipadā,
seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. yaṃ vedanaṃ
paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ vedanāya assādo; yā
vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā, ayaṃ vedanāya ādīnavo; yo
vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, idaṃ vedanāya
nissaraṇan”ti. tatiyaṃ.23.
Rồi một vị Tỳ khưu đi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên,
và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, thế nào là cảm thọ?
“Này Tỳ khưu, có ba loại cảm thọ này: Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ,
cảm thọ không khổ không lạc.
Đó được gọi là cảm thọ.
Với sự khởi sinh của xúc (phassa), có sự khởi sinh của cảm thọ.
Hỷ và lạc khởi lên tùy thuộc nơi cảm thọ — đó là vị ngọt trong
cảm thọ.
Kinh Trước Khi Thành Đạo
♦272. “pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa
bodhisattasseva sato etadahosi — ‘katamā nu kho vedanā, katamo
vedanāsamudayo, katamā vedanāsamudayagāminī paṭipadā, katamo
vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā? ko vedanāya
assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇan’ti? tassa mayhaṃ, bhikkhave,
etadahosi — ‘tisso imā vedanā — sukhā vedanā, dukkhā vedanā,
adukkhamasukhā vedanā. imā vuccanti vedanā. phassasamudayā
vedanāsamudayo. taṇhā vedanāsamudayagāminī paṭipadā ... pe ...
yo vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ. idaṃ vedanāya
nissaraṇan’”ti. catutthaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, trước khi chứng ngộ, khi Ta còn là một vị
Bồ-tát chưa thành Chánh Đẳng Giác, có ý nghĩ khởi lên trong Ta:
‘Thế nào là cảm thọ?
2.
“Sau đó, này chư Tỳ khưu, Ta đã quán thấy:
273. “‘imā vedanā’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu
cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi,
āloko udapādi. ‘ayaṃ vedanāsamudayo’ti me, bhikkhave, pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ... pe ... āloko udapādi.
‘ayaṃ vedanāsamudayagāminī paṭipadā’ti me, bhikkhave, pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ... pe ... ‘ayaṃ
vedanānirodho’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu
cakkhuṃ udapādi ... pe ... ‘ayaṃ vedanānirodhagāminī paṭipadā’ti
me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ...
pe ... ‘ayaṃ vedanāya assādo’ti me, bhikkhave, pubbe
ananussutesu dhammesu ... pe ... ‘ayaṃ vedanāya ādīnavo’ti me,
bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu ... pe ... ‘idaṃ kho
nissaraṇan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ
udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko
udapādī”ti. pañcamaṃ. “Này chư Tỳ khưu, khi Ta quán thấy: ‘Đây là cảm thọ’, thì đối với những pháp mà trước đây Ta chưa từng nghe đến, nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.
Khi quán rằng:‘Đây là nguồn gốc của cảm thọ’,
nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và
ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.
Khi quán rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự khởi sinh của cảm
thọ’,nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh
khởi nơi Ta.
Khi quán rằng:‘Đây là sự đoạn diệt của cảm thọ’,nay sự thấy,
hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.
Khi quán rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm
thọ’, nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh
khởi nơi Ta.
Khi quán rằng:
26. Nhiều Vị Tỳ Khưu
274. atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu;
upasaṅkamitvā ... pe ... ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū
bhagavantaṃ etadavocuṃ — “katamā nu kho, bhante, vedanā, katamo
vedanāsamudayo, katamā vedanāsamudayagāminī paṭipadā? katamo
vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā? ko vedanāya
assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇan”ti? “tisso imā, bhikkhave,
vedanā — sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. imā
vuccanti, bhikkhave, vedanā. phassasamudayā vedanāsamudayo.
taṇhā vedanāsamudayagāminī paṭipadā. phassanirodhā ... pe ... yo
vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ. idaṃ vedanāya
nissaraṇan”ti. chaṭṭhaṃ.
(Bài kinh này giống hệt với bài số 23, chỉ khác là người hỏi
không phải một vị tỳ khưu duy nhất, mà là một nhóm chư Tỳ khưu).
Chú Thích
Tám câu hỏi:
1.
Thế nào là cảm thọ?
2.
Thế nào là nguồn gốc của cảm thọ?
3.
Thế nào là con đường đưa đến sự phát sinh của cảm thọ?
4.
Thế nào là sự đoạn diệt của cảm thọ?
5.
Thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ?
6.
Vị ngọt trong cảm thọ là gì?
7.
Nguy hiểm trong cảm thọ là gì?
8.
Sự vượt thoát khỏi cảm thọ là gì?”
Đều nằm trong hệ luận tứ đế với năm phương diện và ba khía cạnh
của thực tại. Chính những phân tính và nhận diện nầy tác động
tuệ giác.
Nên lưu ý sự khác biệt về nguồn gốc của cảm thọ và con đường đưa
đến sự phát sanh cảm thọ có phần khác biệt hơn là cách nói về
tập đế thường thấy
Cả bốn bài kinh đều mang ý nghĩa giống nhau về điểm chính nên
gom chung thành một bài giảng.
Bản Sớ giải gom chung từ kinh sốn 270 đến 278 thành một.
Sớ Giải
270-278. dutiye
aṭṭhasatapariyāyanti aṭṭhasatassa kāraṇabhūtaṃ.
dhammapariyāyanti dhammakāraṇaṃ. kāyikā ca cetasikā cāti ettha
kāyikā kāmāvacareyeva labbhanti, cetasikā catubhūmikāpi.
sukhātiādīsu sukhā vedanā arūpāvacare natthi, sesāsu tīsu
bhūmīsu labbhanti, dukkhā kāmāvacarāva, itarā catubhūmikā.
pañcake sukhindriyadukkhindriyadomanassindriyāni kāmāvacarāneva,
somanassindriyaṃ tebhūmakaṃ, upekkhindriyaṃ catubhūmakaṃ. chakke
pañcasu dvāresu vedanā kāmāvacarāva, manodvāre catubhūmikā,
aṭṭhārasake chasu iṭṭhārammaṇesu somanassena saha upavicarantīti
somanassūpavicārā. sesadvayepi eseva nayo. iti ayaṃ desanā
vicāravasena āgatā, taṃsampayuttānaṃ pana somanassādīnaṃ vasena
idha aṭṭhārasa vedanā veditabbā.
cha gehasitāni somanassānītiādīsu “cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ
iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ
paṭilābhaṃ vā paṭilābhato samanupassato pubbe vā
paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato
uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati
gehasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306). evaṃ chasu dvāresu
vuttakāmaguṇanissitāni somanassāni cha gehasitasomanassāni nāma.
“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe
ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato
uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati
nekkhammasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306) evaṃ chasu dvāresu
iṭṭhārammaṇe āpāthagate aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā
ussukkāpetuṃ sakkontassa “ussukkitā me vipassanā”ti
somanassajātassa uppannasomanassāni cha nekkhammasitasomanassāni
nāma.
“cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ
manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ appaṭilābhaṃ vā
appaṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ
niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato uppajjati domanassaṃ. yaṃ
evarūpaṃ domanassaṃ, idaṃ vuccati gehasitaṃ domanassan”ti. evaṃ
chasu dvāresu “iṭṭhārammaṇaṃ nānubhavissāmi nānubhavāmī”ti
vitakkayato uppannāni kāmaguṇanissitadomanassāni cha
gehasitadomanassāni nāma
“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe
ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā
anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpeti ‘kudāssu nāmāhaṃ
tadāyatanaṃ upasampajja viharissāmi, yadariyā etarahi āyatanaṃ
upasampajja viharantī”ti. iti anuttaresu vimokkhesu pihaṃ
upaṭṭhāpayato uppajjati pihapaccayā domanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ
domanassaṃ, idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ domanassanti; evaṃ chasu
dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate
anuttaravimokkhasaṅkhātāriyaphaladhammesu pihaṃ upaṭṭhāpetvā
tadadhigamāya aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā
ussukkāpetuṃ asakkontassa “imampi pakkhaṃ imampi māsaṃ imampi
saṃvaccharaṃ vipassanaṃ ussukkāpetvā ariyabhūmiṃ pāpuṇituṃ
nāsakkhin”ti anusocato uppannāni domanassāni cha
nekkhammasitadomanassāni nāma.
“cakkhunā rūpaṃ disvā
uppajjati upekkhā bālassa mūḷhassa puthujjanassa anodhijinassa
avipākajinassa anādīnavadassāvino assutavato puthujjanassa. yā
evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā nātivattati, tasmā sā upekkhā
gehasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe
āpāthagate guḷapiṇḍake nilīnamakkhikā viya rūpādīni
anativattamānā tattheva laggā laggitā hutvā
uppannakāmaguṇanissitā upekkhā cha gehasitaupekkhā nāma.
“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ pubbe
ceva rūpā etarahi ca, ‘sabbe te rūpā aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato
uppajjati upekkhā. yā evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā ativattati,
tasmā sā upekkhā nekkhammasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu
iṭṭhādiārammaṇe āpāthagate iṭṭhe arajjantassa aniṭṭhe
adussantassa asamapekkhane amuyhantassa uppannā
vipassanāñāṇasampayuttā upekkhā nekkhammasitaupekkhā nāma.
imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo
kathito. tatiyādīni uttānatthāneva.
270 -278
Trong bài kinh thứ hai (của chương này), từ “aṭṭhasatapariyāya”
nghĩa là phương pháp phân loại dẫn đến số 108.
Từ “dhammapariyāya” nghĩa là phương pháp phân tích giáo pháp
(dhamma).
271. Về hai loại cảm thọ: “cảm thọ thuộc thân (kāyikā)” chỉ tồn
tại trong cảnh giới dục giới (kāmāvacara);
“cảm thọ thuộc tâm (cetasikā)” có thể phát sinh trong cả bốn
cảnh giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế).
272. Trong ba loại cảm thọ:
273. Về năm loại cảm thọ (năm căn thọ):
274. Trong sáu cảm thọ (liên hệ với sáu căn):
275. Về mười tám cảm thọ (aṭṭhārasaka):
1. Somanassa (hỷ thọ) thuộc tại gia (gehasita):
2. Somanassa thuộc xuất gia (nekkhamasita):
3. Domanassa (ưu thọ) thuộc tại gia (gehasita):
4. Domanassa thuộc xuất gia (nekkhammasita):
5. Upekkhā (xả thọ) thuộc tại gia (gehasita):
6. Upekkhā thuộc xuất gia (nekkhammasita):
“Imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo
kathito.”
“Tatiyādīni uttānatthāneva.”
23. III. Vị Tỷ Kheo (S.iv,232)
1) ...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế
nào là con đường đưa đến thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt?
Thế nào là con đường đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt
của thọ? Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly
của thọ?
4) -- Này Tỷ-kheo, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất
lạc thọ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là ba thọ. Do xúc tập khởi nên thọ
tập khởi. Khát ái là con đường đưa đến thọ tập khởi. Do xúc đoạn
diệt nên thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con
đường đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến... chánh
định. Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ nào, đó là vị ngọt của thọ.
Tánh vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thọ là sự nguy hiểm
của thọ. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là
sự xuất ly của thọ.
24. IV. Trí Về Quá Khứ (S.iv,233)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh
đẳng Chánh giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Thế
nào là thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là con đường đưa
đến thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường
đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế nào là sự
nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của thọ?"
3) Và này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Có ba thọ này: lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập
khởi. Ái là con đường đưa đến thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên
thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường
đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến... chánh định. Sự
nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly
của thọ".
4) Này các Tỷ-kheo, đây là các thọ, đối với các pháp từ trước Ta
chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên,
minh khởi lên, quang khởi lên.
5) Này các Tỷ-kheo, đây là các thọ tập khởi, đối với các pháp từ
trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ
khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
6) Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến thọ tập khởi, đối
với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí
khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
7) Này các Tỷ-kheo, đây là thọ đoạn diệt, đối với các pháp từ
trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ
khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
8) Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến thọ đoạn diệt, đối
với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe...
9) Này các Tỷ-kheo, đây là vị ngọt của thọ, đối với các pháp từ
trước Ta chưa từng được nghe...
10) Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hiểm của thọ...
11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự xuất ly của thọ, đối với các pháp
từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên,
tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
25. V. Bởi Vị Tỷ Kheo (S.iv,234)
1) Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
... (Kinh này giống như kinh số 23) ...
26. VI. Sa Môn, Bà La Môn (1)
(S.iv,234)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
3) Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như
thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và
sự xuất ly của ba thọ này...
4) ... như thật tuệ tri... với thắng trí, tự mình chứng ngộ,
chứng đạt và an trú.
27. VII. Sa Môn, Bà La Môn (2)
(S.iv,235)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ
thọ, bất khổ bất lạc thọ.
... (giống như kinh số 26) ...
|