BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 23 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm 108 Pháp Môn- SN. 35. 271, 272, 273, 274 . Bài 463. CÁI NHÌN TOÀN TRIỆT ĐỐI VỚI CẢM XÚC- Kinh Một Tỳ Khưu (Aññatarabhikkhusuttaṃ) Kinh Trước Khi Thành Đạo (Pubbasuttaṃ) Kinh Tri Kiến (ñāṇasuttaṃ) Kinh Nhiều Vị Tỳ Khưu (Sambahulabhikkhusuttaṃ) .
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-463.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngHệ luận tứ đế được hiểu một cách giản dị là nhận ra chân tướng của vấn đề, nguyên nhân sanh khởi, giải pháp, con đường đạt đến giải pháp. Cảm thọ cũng có thể hiểu theo cách như vậy. Nếu cảm xúc buồn vui là vấn nạn muôn thuở của kiếp nhân sinh thì hành trình giải thoát phải bắt đầu từ sự nhận thức rõ ràng bản chất, nguyên nhân, sự vượt thoát, và phương cách vượt thoát. Không một y sĩ nào chữa bệnh mà không dựa vào những nguyên lý trên.

 KINH VĂN

271. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “katamā nu kho, bhante, vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamā vedanāsamudayagāminī paṭipadā? katamo vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā? ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇan”ti?

 “tisso imā, bhikkhu, vedanā — sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. imā vuccanti, bhikkhu, vedanā. phassasamudayā vedanāsamudayo. taṇhā vedanāsamudayagāminī paṭipadā. phassanirodhā vedanānirodho. ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo vedanānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. yaṃ vedanaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ vedanāya assādo; yā vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā, ayaṃ vedanāya ādīnavo; yo vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, idaṃ vedanāya nissaraṇan”ti. tatiyaṃ.23.

Rồi một vị Tỳ khưu đi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên, và thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, thế nào là cảm thọ?
Thế nào là nguồn gốc của cảm thọ?
Thế nào là con đường đưa đến sự phát sinh của cảm thọ?
Thế nào là sự đoạn diệt của cảm thọ?
Thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ?
Vị ngọt trong cảm thọ là gì?
Nguy hiểm trong cảm thọ là gì?
Sự vượt thoát khỏi cảm thọ
là gì?”

“Này Tỳ khưu, có ba loại cảm thọ này: Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc.

Đó được gọi là cảm thọ.

Với sự khởi sinh của xúc (phassa), có sự khởi sinh của cảm thọ.
Ái là con đường đưa đến sự khởi sinh của cảm thọ.
Với sự đoạn diệt của xúc, cảm thọ cũng đoạn diệt.
Con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ chính là thánh đạo tám chi phần, tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Hỷ và lạc khởi lên tùy thuộc nơi cảm thọ — đó là vị ngọt trong cảm thọ.
Cảm thọ là vô thường, là khổ, là bị biến hoại — đó là nguy hiểm trong cảm thọ.
Việc từ bỏ và đoạn trừ dục vọng, ái luyến đối với cảm thọ — đó là sự vượt thoát khỏi cảm thọ.”

Kinh Trước Khi Thành Đạo

♦272. “pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi — ‘katamā nu kho vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamā vedanāsamudayagāminī paṭipadā, katamo vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā? ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇan’ti? tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi — ‘tisso imā vedanā — sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. imā vuccanti vedanā. phassasamudayā vedanāsamudayo. taṇhā vedanāsamudayagāminī paṭipadā ... pe ... yo vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ. idaṃ vedanāya nissaraṇan’”ti. catutthaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, trước khi chứng ngộ, khi Ta còn là một vị Bồ-tát chưa thành Chánh Đẳng Giác, có ý nghĩ khởi lên trong Ta:

‘Thế nào là cảm thọ?
Thế nào là nguồn gốc của cảm thọ?
Thế nào là con đường đưa đến sự phát sinh của cảm thọ?
Thế nào là sự đoạn diệt của cảm thọ?
Thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ?
Sự vị ngọt trong cảm thọ là gì?
Nguy hiểm trong cảm thọ là gì?
Sự vượt thoát khỏi cảm thọ là gì?”

2. “Sau đó, này chư Tỳ khưu, Ta đã quán thấy:
‘Có ba loại cảm thọ này… (toàn bộ giống như bài kinh trước)… đó là sự thoát ly khỏi cảm thọ.’”

Kinh Tri Kiến

273. “‘imā vedanā’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘ayaṃ vedanāsamudayo’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ... pe ... āloko udapādi. ‘ayaṃ vedanāsamudayagāminī paṭipadā’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ... pe ... ‘ayaṃ vedanānirodho’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ... pe ... ‘ayaṃ vedanānirodhagāminī paṭipadā’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ... pe ... ‘ayaṃ vedanāya assādo’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu ... pe ... ‘ayaṃ vedanāya ādīnavo’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu ... pe ... ‘idaṃ kho nissaraṇan’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādī”ti. pañcamaṃ.

 “Này chư Tỳ khưu, khi Ta quán thấy: ‘Đây là cảm thọ’, thì đối với những pháp mà trước đây Ta chưa từng nghe đến, nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.

Khi quán rằng:‘Đây là nguồn gốc của cảm thọ’, nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.

Khi quán rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự khởi sinh của cảm thọ’,nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.

Khi quán rằng:‘Đây là sự đoạn diệt của cảm thọ’,nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.

Khi quán rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ’, nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.

Khi quán rằng:
Đây là vị ngọt trong cảm thọ là
Đây là sự nguy hiểm trong cảm thọ
Đây là sự vượt thoát khỏi cảm thọ
thì đối với những pháp chưa từng được nghe trước đây,nay sự thấy, hiểu, nhận rõ, xác thực, và ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.

26. Nhiều Vị Tỳ Khưu

274. atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā ... pe ... ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ — “katamā nu kho, bhante, vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamā vedanāsamudayagāminī paṭipadā? katamo vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā? ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇan”ti? “tisso imā, bhikkhave, vedanā — sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. imā vuccanti, bhikkhave, vedanā. phassasamudayā vedanāsamudayo. taṇhā vedanāsamudayagāminī paṭipadā. phassanirodhā ... pe ... yo vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ. idaṃ vedanāya nissaraṇan”ti. chaṭṭhaṃ.

(Bài kinh này giống hệt với bài số 23, chỉ khác là người hỏi không phải một vị tỳ khưu duy nhất, mà là một nhóm chư Tỳ khưu).

Chú Thích

Tám câu hỏi:

1.    Thế nào là cảm thọ?

2.    Thế nào là nguồn gốc của cảm thọ?

3.    Thế nào là con đường đưa đến sự phát sinh của cảm thọ?

4.    Thế nào là sự đoạn diệt của cảm thọ?

5.    Thế nào là con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ?

6.    Vị ngọt trong cảm thọ là gì?

7.    Nguy hiểm trong cảm thọ là gì?

8.    Sự vượt thoát khỏi cảm thọ là gì?”

Đều nằm trong hệ luận tứ đế với năm phương diện và ba khía cạnh của thực tại. Chính những phân tính và nhận diện nầy tác động tuệ giác.

Nên lưu ý sự khác biệt về nguồn gốc của cảm thọ và con đường đưa đến sự phát sanh cảm thọ có phần khác biệt hơn là cách nói về tập đế thường thấy

Cả bốn bài kinh đều mang ý nghĩa giống nhau về điểm chính nên gom chung thành một bài giảng.

Bản Sớ giải gom chung từ kinh sốn 270 đến 278 thành một.

Sớ Giải

 270-278. dutiye aṭṭhasatapariyāyanti aṭṭhasatassa kāraṇabhūtaṃ. dhammapariyāyanti dhammakāraṇaṃ. kāyikā ca cetasikā cāti ettha kāyikā kāmāvacareyeva labbhanti, cetasikā catubhūmikāpi. sukhātiādīsu sukhā vedanā arūpāvacare natthi, sesāsu tīsu bhūmīsu labbhanti, dukkhā kāmāvacarāva, itarā catubhūmikā. pañcake sukhindriyadukkhindriyadomanassindriyāni kāmāvacarāneva, somanassindriyaṃ tebhūmakaṃ, upekkhindriyaṃ catubhūmakaṃ. chakke pañcasu dvāresu vedanā kāmāvacarāva, manodvāre catubhūmikā, aṭṭhārasake chasu iṭṭhārammaṇesu somanassena saha upavicarantīti somanassūpavicārā. sesadvayepi eseva nayo. iti ayaṃ desanā vicāravasena āgatā, taṃsampayuttānaṃ pana somanassādīnaṃ vasena idha aṭṭhārasa vedanā veditabbā.

cha gehasitāni somanassānītiādīsu “cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ paṭilābhaṃ vā paṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati gehasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306). evaṃ chasu dvāresu vuttakāmaguṇanissitāni somanassāni cha gehasitasomanassāni nāma.

“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306) evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā ussukkāpetuṃ sakkontassa “ussukkitā me vipassanā”ti somanassajātassa uppannasomanassāni cha nekkhammasitasomanassāni nāma. 

“cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ appaṭilābhaṃ vā appaṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato uppajjati domanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ domanassaṃ, idaṃ vuccati gehasitaṃ domanassan”ti. evaṃ chasu dvāresu “iṭṭhārammaṇaṃ nānubhavissāmi nānubhavāmī”ti vitakkayato uppannāni kāmaguṇanissitadomanassāni cha gehasitadomanassāni nāma 

“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpeti ‘kudāssu nāmāhaṃ tadāyatanaṃ upasampajja viharissāmi, yadariyā etarahi āyatanaṃ upasampajja viharantī”ti. iti anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpayato uppajjati pihapaccayā domanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ domanassaṃ, idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ domanassanti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate anuttaravimokkhasaṅkhātāriyaphaladhammesu pihaṃ upaṭṭhāpetvā tadadhigamāya aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā ussukkāpetuṃ asakkontassa “imampi pakkhaṃ imampi māsaṃ imampi saṃvaccharaṃ vipassanaṃ ussukkāpetvā ariyabhūmiṃ pāpuṇituṃ nāsakkhin”ti anusocato uppannāni domanassāni cha nekkhammasitadomanassāni nāma.

 “cakkhunā rūpaṃ disvā uppajjati upekkhā bālassa mūḷhassa puthujjanassa anodhijinassa avipākajinassa anādīnavadassāvino assutavato puthujjanassa. yā evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā nātivattati, tasmā sā upekkhā gehasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate guḷapiṇḍake nilīnamakkhikā viya rūpādīni anativattamānā tattheva laggā laggitā hutvā uppannakāmaguṇanissitā upekkhā cha gehasitaupekkhā nāma.

“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ pubbe ceva rūpā etarahi ca, ‘sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato uppajjati upekkhā. yā evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā ativattati, tasmā sā upekkhā nekkhammasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhādiārammaṇe āpāthagate iṭṭhe arajjantassa aniṭṭhe adussantassa asamapekkhane amuyhantassa uppannā vipassanāñāṇasampayuttā upekkhā nekkhammasitaupekkhā nāma. imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo kathito. tatiyādīni uttānatthāneva.

270 -278 Trong bài kinh thứ hai (của chương này), từ “aṭṭhasatapariyāya” nghĩa là phương pháp phân loại dẫn đến số 108.

Từ “dhammapariyāya” nghĩa là phương pháp phân tích giáo pháp (dhamma).

271. Về hai loại cảm thọ: “cảm thọ thuộc thân (kāyikā)” chỉ tồn tại trong cảnh giới dục giới (kāmāvacara);

“cảm thọ thuộc tâm (cetasikā)” có thể phát sinh trong cả bốn cảnh giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế).

272. Trong ba loại cảm thọ:

  • Lạc thọ (sukhā vedanā) không có trong cảnh giới vô sắc,
  • Nhưng ba loại cảm thọ khác có mặt trong ba cảnh giới còn lại.
  • Khổ thọ (dukkhā) chỉ có trong dục giới,
  • Còn những loại còn lại có thể hiện diện trong bốn tầng giới.

273. Về năm loại cảm thọ (năm căn thọ):

  • Lạc quyền (sukhindriya), khổ quyền (dukkhindriya), ưu quyền (domanassindriya) chỉ có trong dục giới,
  • Hỷ quyền (somanassindriya) hiện diện trong ba giới,
  • Căn xả (upekkhindriya) hiện diện trong cả bốn giới.

274. Trong sáu cảm thọ (liên hệ với sáu căn):

  • Năm căn đầu (mắt đến thân) chỉ có cảm thọ thuộc dục giới,
  • Còn ý môn (manodvāra) có thể phát sinh cảm thọ thuộc cả bốn tầng giới.

275. Về mười tám cảm thọ (aṭṭhārasaka):

  • Trong sáu đối tượng khả ái (iṭṭhārammaṇa), khi được tiếp xúc với sáu căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý), phát sinh hỷ (somanassa) cùng với sự quan sát và suy xét (upavicaranti) — gọi là “hỷ cùng với sự xét nghiệm” (somanassūpavicārā).
  • Cách thức tương tự cũng áp dụng với ưu (domanassa) và xả (upekkhā) — vậy nên có tổng cộng 18 cảm thọ, phân theo ba cảm thọ (hỷ, ưu, xả) x sáu căn.

1. Somanassa (hỷ thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi một người được hoặc nhớ lại các cảnh sắc đẹp, âm thanh ưa thích, mùi thơm, v.v... liên quan đến lạc thú thế gian, cảm thọ hỷ (somanassa) phát sinh.
  • Điều này được gọi là somanassa thuộc tại gia (gehasitasomanassa) — ví như người hưởng thụ ngũ dục lạc.

2. Somanassa thuộc xuất gia (nekkhamasita):

  • Khi một người thấy rõ vô thường, khổ, vô ngã trong các cảnh (như sắc), và phát sinh hỷ từ tuệ quán (vipassanā) và khát vọng giải thoát, thì đó là somanassa thuộc xuất gia.

3. Domanassa (ưu thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi không đạt được những đối tượng khả ái (sắc, thanh...), hoặc mất đi những gì từng có, thì ưu não (domanassa) sinh khởi.
  • Đây là domanassa thuộc tại gia — bắt nguồn từ thất vọng vì không có dục lạc.

4. Domanassa thuộc xuất gia (nekkhammasita):

  • Khi một người thấy rõ vô thường và phát khởi ước muốn đạt được các pháp giải thoát cao thượng, nhưng không thể thành tựu được, tâm sinh ưu não vì tiếc nuối, gọi là domanassa thuộc xuất gia.

5. Upekkhā (xả thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi tiếp xúc với đối tượng khả ái, nhưng người phàm phu không rõ bản chất, nên tâm trung tính, không hỷ cũng không ưu, sinh ra xả thọ gắn với ngũ dục, gọi là xả thuộc tại gia.

6. Upekkhā thuộc xuất gia (nekkhammasita):

  • Khi thấy rõ tính chất vô thường, khổ, vô ngã, không tham – không sân – không si, và có sự xả ly, bình thản với mọi đối tượng, sinh ra xả thọ kết hợp với trí tuệ, đây là xả thọ thuộc xuất gia.

“Imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo kathito.”
Trong bài kinh này, tất cả các loại cảm thọ thuộc cả bốn tầng giới (dục – sắc – vô sắc – siêu thế) đều được bao gồm.

“Tatiyādīni uttānatthāneva.”
 Các phần tiếp theo (từ đoạn thứ ba trở đi) là rõ ràng, dễ hiểu, không cần phân tích sâu thêm.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

23. III. Vị Tỷ Kheo (S.iv,232)

1) ...

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, thế nào là thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là con đường đưa đến thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của thọ?

4) -- Này Tỷ-kheo, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là ba thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Khát ái là con đường đưa đến thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến... chánh định. Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ nào, đó là vị ngọt của thọ. Tánh vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thọ là sự nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của thọ.

24. IV. Trí Về Quá Khứ (S.iv,233)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh đẳng Chánh giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Thế nào là thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là con đường đưa đến thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của thọ?"

3) Và này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Ái là con đường đưa đến thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến... chánh định. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của thọ".

4) Này các Tỷ-kheo, đây là các thọ, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

5) Này các Tỷ-kheo, đây là các thọ tập khởi, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

6) Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến thọ tập khởi, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

7) Này các Tỷ-kheo, đây là thọ đoạn diệt, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

8) Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến thọ đoạn diệt, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe...

9) Này các Tỷ-kheo, đây là vị ngọt của thọ, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe...

10) Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hiểm của thọ...

11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự xuất ly của thọ, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

25. V. Bởi Vị Tỷ Kheo (S.iv,234)

1) Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...

... (Kinh này giống như kinh số 23) ...

26. VI. Sa Môn, Bà La Môn (1) (S.iv,234)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.

3) Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của ba thọ này...

4) ... như thật tuệ tri... với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú.

27. VII. Sa Môn, Bà La Môn (2) (S.iv,235)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.

... (giống như kinh số 26) ...

  -ooOoo-