|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 24 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH
VĂN
275. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā,
dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. ye hi keci, bhikkhave,
samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṃ tissannaṃ vedanānaṃ samudayañca
atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ
nappajānanti. na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā
samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca
pana te āyasmanto sāmaññatthaṃ vā brahmaññatthaṃ vā diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. ye ca
kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṃ tissannaṃ
vedanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavaṃ ca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ pajānanti. te kho me, bhikkhave, samaṇā
vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca
brāhmaṇasammatā. te ca panāyasmanto sāmaññatthañca
brahmaññatthañca, diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharantī”ti. sattamaṃ.
"Chư Tỳ khưu, có ba loại cảm thọ này. Ba loại nào? Cảm thọ lạc,
cảm thọ khổ, và cảm thọ không khổ không lạc.
Chư Tỳ khưu, những vị sa-môn hay bà-la-môn nào không hiểu rõ như
nhiên về vị ngọt, mối hiểm hoạ, và con đường vượt thoát trong ba
loại cảm thọ này, thì ta không xem họ là sa-môn giữa các sa-môn
hay là bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và những vị ấy cũng không
chứng ngộ và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh hay
bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này với trí tuệ trực tiếp. Nhưng, chư Tỳ khưu, những vị sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ như nhiên về những điều ấy, thì ta xem họ là sa-môn giữa các sa-môn, bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và chính họ, nhờ chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, sẽ chứng nhập và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh và bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này." [
Kinh Sa-môn và Bà-la-môn
II
276. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā,
dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. ye hi keci, bhikkhave,
samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṃ tissannaṃ vedanānaṃ samudayañca
atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ
nappajānanti ... pe ... pajānanti ... pe ... sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja viharantī”ti. aṭṭhamaṃ.
"Chư Tỳ khưu, những vị sa-môn hay bà-la-môn nào không hiểu rõ
như nhiên về sự sinh khởi và đoạn diệt, vị ngọt, mối hiểm hoạ,
và con đường vượt thoát trong ba loại cảm thọ này, thì ta không
xem họ là sa-môn giữa các sa-môn hay là bà-la-môn giữa các
bà-la-môn. Và những vị ấy cũng không chứng ngộ và an trú trong
mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh hay bà-la-môn hạnh, ngay trong
đời này với trí tuệ trực tiếp. Nhưng, chư Tỳ khưu, những vị sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ như nhiên những điều ấy, thì ta xem họ là sa-môn giữa các sa-môn, bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và chính họ, nhờ chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, sẽ chứng nhập và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh và bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này."
Kinh Sa-môn và Bà-la-môn
III
277. “ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā vedanaṃ
nappajānanti, vedanāsamudayaṃ nappajānanti, vedanānirodhaṃ
nappajānanti, vedanānirodhagāminiṃ paṭipadaṃ nappajānanti ... pe
... pajānanti ... pe ... sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja
viharantī”ti. navamaṃ.
"Chư Tỳ khưu, những vị sa-môn hay bà-la-môn nào không hiểu rõ
cảm thọ, nguồn gốc của cảm thọ, sự đoạn diệt của cảm thọ, và con
đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ, thì ta không xem họ là
sa-môn giữa các sa-môn, hay bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và họ
không chứng nhập và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn
hạnh hay bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này.
Nhưng, chư Tỳ khưu, những vị sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ cảm
thọ, nguồn gốc, sự đoạn diệt và con đường đưa đến sự đoạn diệt
của cảm thọ, thì ta xem họ là sa-môn giữa các sa-môn, bà-la-môn
giữa các bà-la-môn. Và họ, với trí tuệ trực tiếp, sẽ chứng nhập
và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh và bà-la-môn
hạnh, ngay trong đời này."
Chú Thích
Sự khác biệt giữa ba bài kinh có thể nêu rõ như sau:
Bài kinh 275 chỉ nêu ba yếu tố:
Còn bài kinh 276 mới bao gồm đầy đủ năm yếu tố:
Còn bài kinh 277 nói về cảm thọ theo hệ luận tứ đế (bản chất,
nguồn cội, giải pháp, và phương pháp để đạt được giải pháp)
Sớ giải ba bài nầy vẫn giống như từ bài số 270 tới 278
Sớ Giải
270-278. dutiye
aṭṭhasatapariyāyanti aṭṭhasatassa kāraṇabhūtaṃ.
dhammapariyāyanti dhammakāraṇaṃ. kāyikā ca cetasikā cāti ettha
kāyikā kāmāvacareyeva labbhanti, cetasikā catubhūmikāpi.
sukhātiādīsu sukhā vedanā arūpāvacare natthi, sesāsu tīsu
bhūmīsu labbhanti, dukkhā kāmāvacarāva, itarā catubhūmikā.
pañcake sukhindriyadukkhindriyadomanassindriyāni kāmāvacarāneva,
somanassindriyaṃ tebhūmakaṃ, upekkhindriyaṃ catubhūmakaṃ. chakke
pañcasu dvāresu vedanā kāmāvacarāva, manodvāre catubhūmikā,
aṭṭhārasake chasu iṭṭhārammaṇesu somanassena saha upavicarantīti
somanassūpavicārā. sesadvayepi eseva nayo. iti ayaṃ desanā
vicāravasena āgatā, taṃsampayuttānaṃ pana somanassādīnaṃ vasena
idha aṭṭhārasa vedanā veditabbā.
cha gehasitāni somanassānītiādīsu “cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ
iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ
paṭilābhaṃ vā paṭilābhato samanupassato pubbe vā
paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato
uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati
gehasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306). evaṃ chasu dvāresu
vuttakāmaguṇanissitāni somanassāni cha gehasitasomanassāni nāma.
“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe
ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato
uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati
nekkhammasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306) evaṃ chasu dvāresu
iṭṭhārammaṇe āpāthagate aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā
ussukkāpetuṃ sakkontassa “ussukkitā me vipassanā”ti
somanassajātassa uppannasomanassāni cha nekkhammasitasomanassāni
nāma.
“cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ
manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ appaṭilābhaṃ vā
appaṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ
niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato uppajjati domanassaṃ. yaṃ
evarūpaṃ domanassaṃ, idaṃ vuccati gehasitaṃ domanassan”ti. evaṃ
chasu dvāresu “iṭṭhārammaṇaṃ nānubhavissāmi nānubhavāmī”ti
vitakkayato uppannāni kāmaguṇanissitadomanassāni cha
gehasitadomanassāni nāma
“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe
ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā
anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpeti ‘kudāssu nāmāhaṃ
tadāyatanaṃ upasampajja viharissāmi, yadariyā etarahi āyatanaṃ
upasampajja viharantī”ti. iti anuttaresu vimokkhesu pihaṃ
upaṭṭhāpayato uppajjati pihapaccayā domanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ
domanassaṃ, idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ domanassanti; evaṃ chasu
dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate
anuttaravimokkhasaṅkhātāriyaphaladhammesu pihaṃ upaṭṭhāpetvā
tadadhigamāya aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā
ussukkāpetuṃ asakkontassa “imampi pakkhaṃ imampi māsaṃ imampi
saṃvaccharaṃ vipassanaṃ ussukkāpetvā ariyabhūmiṃ pāpuṇituṃ
nāsakkhin”ti anusocato uppannāni domanassāni cha
nekkhammasitadomanassāni nāma.
“cakkhunā rūpaṃ disvā
uppajjati upekkhā bālassa mūḷhassa puthujjanassa anodhijinassa
avipākajinassa anādīnavadassāvino assutavato puthujjanassa. yā
evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā nātivattati, tasmā sā upekkhā
gehasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe
āpāthagate guḷapiṇḍake nilīnamakkhikā viya rūpādīni
anativattamānā tattheva laggā laggitā hutvā
uppannakāmaguṇanissitā upekkhā cha gehasitaupekkhā nāma.
“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ pubbe
ceva rūpā etarahi ca, ‘sabbe te rūpā aniccā dukkhā
vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato
uppajjati upekkhā. yā evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā ativattati,
tasmā sā upekkhā nekkhammasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu
iṭṭhādiārammaṇe āpāthagate iṭṭhe arajjantassa aniṭṭhe
adussantassa asamapekkhane amuyhantassa uppannā
vipassanāñāṇasampayuttā upekkhā nekkhammasitaupekkhā nāma.
imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo
kathito. tatiyādīni uttānatthāneva.
270 -278
Trong bài kinh thứ hai (của chương này), từ “aṭṭhasatapariyāya”
nghĩa là phương pháp phân loại dẫn đến số 108.
Từ “dhammapariyāya” nghĩa là phương pháp phân tích giáo pháp
(dhamma).
271. Về hai loại cảm thọ: “cảm thọ thuộc thân (kāyikā)” chỉ tồn
tại trong cảnh giới dục giới (kāmāvacara);
“cảm thọ thuộc tâm (cetasikā)” có thể phát sinh trong cả bốn
cảnh giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế).
272. Trong ba loại cảm thọ:
273. Về năm loại cảm thọ (năm căn thọ):
274. Trong sáu cảm thọ (liên hệ với sáu căn):
275. Về mười tám cảm thọ (aṭṭhārasaka):
1. Somanassa (hỷ thọ) thuộc tại gia (gehasita):
2. Somanassa thuộc xuất gia (nekkhamasita):
3. Domanassa (ưu thọ) thuộc tại gia (gehasita):
4. Domanassa thuộc xuất gia (nekkhammasita):
5. Upekkhā (xả thọ) thuộc tại gia (gehasita):
6. Upekkhā thuộc xuất gia (nekkhammasita):
“Imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo
kathito.”
“Tatiyādīni uttānatthāneva.”
26. VI. Sa Môn, Bà La Môn (1)
(S.iv,234)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
3) Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như
thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và
sự xuất ly của ba thọ này...
4) ... như thật tuệ tri... với thắng trí, tự mình chứng ngộ,
chứng đạt và an trú.
27. VII. Sa Môn, Bà La Môn (2)
(S.iv,235)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ
thọ, bất khổ bất lạc thọ.
... (giống như kinh số 26) ...
28. VIII. Sa Môn, Bà La Môn (3)
(S.iv,235)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không
tuệ tri thọ, không tuệ tri thọ tập khởi, không tuệ tri con đường
đưa đến thọ tập khởi, không tuệ tri thọ đoạn diệt, không tuệ tri
con đường đưa đến thọ đoạn diệt...
4) ... như thật tuệ tri... tự mình với thắng trí chứng ngộ,
chứng đạt và an trú...
|