BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 24 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm 108 Pháp Môn- SN. 35. 275, 276, 277 . Bài 464. NGƯỜI TU KHÔNG THỂ KHÔNG BIẾT- Kinh Sa-môn và Bà-la-môn I, II, III .
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-464.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngCảm thọ vui buồn không đơn giản là cảm xúc nhất thời mà làm thể hiện của dao động khổ đau của kiếp nhân sinh. Người tu tập nội tại không thể không ý thức và biết rõ về bản chất, căn cội, và tác động của cảm thọ. Với chánh niệm thắp sáng và trí tuệ chân thực mới có thể đủ khả năng quay về và quán niệm tự thân. Và Đức Phật dạy chỉ khi nào làm được điều đó thì một tu sĩ mới đúng nghĩa là một tu sĩ.

 KINH VĂN

 Kinh Sa-môn và Bà-la-môn  I

275. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṃ tissannaṃ vedanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ nappajānanti. na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṃ vā brahmaññatthaṃ vā diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṃ tissannaṃ vedanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavaṃ ca nissaraṇañca yathābhūtaṃ pajānanti. te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā. te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca, diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti. sattamaṃ.

"Chư Tỳ khưu, có ba loại cảm thọ này. Ba loại nào? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, và cảm thọ không khổ không lạc.

Chư Tỳ khưu, những vị sa-môn hay bà-la-môn nào không hiểu rõ như nhiên về vị ngọt, mối hiểm hoạ, và con đường vượt thoát trong ba loại cảm thọ này, thì ta không xem họ là sa-môn giữa các sa-môn hay là bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và những vị ấy cũng không chứng ngộ và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh hay bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này với trí tuệ trực tiếp.

Nhưng, chư Tỳ khưu, những vị sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ như nhiên về những điều ấy, thì ta xem họ là sa-môn giữa các sa-môn, bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và chính họ, nhờ chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, sẽ chứng nhập và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh và bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này." [

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn  II

276. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṃ tissannaṃ vedanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ nappajānanti ... pe ... pajānanti ... pe ... sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti. aṭṭhamaṃ.

"Chư Tỳ khưu, những vị sa-môn hay bà-la-môn nào không hiểu rõ như nhiên về sự sinh khởi và đoạn diệt, vị ngọt, mối hiểm hoạ, và con đường vượt thoát trong ba loại cảm thọ này, thì ta không xem họ là sa-môn giữa các sa-môn hay là bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và những vị ấy cũng không chứng ngộ và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh hay bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này với trí tuệ trực tiếp.

Nhưng, chư Tỳ khưu, những vị sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ như nhiên những điều ấy, thì ta xem họ là sa-môn giữa các sa-môn, bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và chính họ, nhờ chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, sẽ chứng nhập và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh và bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này."

Kinh Sa-môn và Bà-la-môn  III

277. “ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā vedanaṃ nappajānanti, vedanāsamudayaṃ nappajānanti, vedanānirodhaṃ nappajānanti, vedanānirodhagāminiṃ paṭipadaṃ nappajānanti ... pe ... pajānanti ... pe ... sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti. navamaṃ.

"Chư Tỳ khưu, những vị sa-môn hay bà-la-môn nào không hiểu rõ cảm thọ, nguồn gốc của cảm thọ, sự đoạn diệt của cảm thọ, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ, thì ta không xem họ là sa-môn giữa các sa-môn, hay bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và họ không chứng nhập và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh hay bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này.

Nhưng, chư Tỳ khưu, những vị sa-môn và bà-la-môn nào hiểu rõ cảm thọ, nguồn gốc, sự đoạn diệt và con đường đưa đến sự đoạn diệt của cảm thọ, thì ta xem họ là sa-môn giữa các sa-môn, bà-la-môn giữa các bà-la-môn. Và họ, với trí tuệ trực tiếp, sẽ chứng nhập và an trú trong mục tiêu tối hậu của sa-môn hạnh và bà-la-môn hạnh, ngay trong đời này."

Chú Thích

Sự khác biệt giữa ba bài kinh có thể nêu rõ như sau:

Bài kinh 275 chỉ nêu ba yếu tố:

    • Assāda (vị ngọt)
    • Ādīnava (hiểm hoạ),
    • Nissaraṇa (phương các vượt thoát).

Còn bài kinh 276 mới bao gồm đầy đủ năm yếu tố:

    • Samudaya (sự sinh khởi),
    • Atthaṅgama (sự đoạn diệt),
    • Assāda (vị ngọt)
    • Ādīnava (hiểm hoạ),
    • Nissaraṇa (phương các vượt thoát).

Còn bài kinh 277 nói về cảm thọ theo hệ luận tứ đế (bản chất, nguồn cội, giải pháp, và phương pháp để đạt được giải pháp)

Sớ giải ba bài nầy vẫn giống như từ bài số 270 tới 278

Sớ Giải

 270-278. dutiye aṭṭhasatapariyāyanti aṭṭhasatassa kāraṇabhūtaṃ. dhammapariyāyanti dhammakāraṇaṃ. kāyikā ca cetasikā cāti ettha kāyikā kāmāvacareyeva labbhanti, cetasikā catubhūmikāpi. sukhātiādīsu sukhā vedanā arūpāvacare natthi, sesāsu tīsu bhūmīsu labbhanti, dukkhā kāmāvacarāva, itarā catubhūmikā. pañcake sukhindriyadukkhindriyadomanassindriyāni kāmāvacarāneva, somanassindriyaṃ tebhūmakaṃ, upekkhindriyaṃ catubhūmakaṃ. chakke pañcasu dvāresu vedanā kāmāvacarāva, manodvāre catubhūmikā, aṭṭhārasake chasu iṭṭhārammaṇesu somanassena saha upavicarantīti somanassūpavicārā. sesadvayepi eseva nayo. iti ayaṃ desanā vicāravasena āgatā, taṃsampayuttānaṃ pana somanassādīnaṃ vasena idha aṭṭhārasa vedanā veditabbā.

cha gehasitāni somanassānītiādīsu “cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ paṭilābhaṃ vā paṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati gehasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306). evaṃ chasu dvāresu vuttakāmaguṇanissitāni somanassāni cha gehasitasomanassāni nāma.

“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato uppajjati somanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ somanassan”ti (ma. ni. 3.306) evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā ussukkāpetuṃ sakkontassa “ussukkitā me vipassanā”ti somanassajātassa uppannasomanassāni cha nekkhammasitasomanassāni nāma. 

“cakkhuviññeyyānaṃ rūpānaṃ iṭṭhānaṃ kantānaṃ manāpānaṃ manoramānaṃ lokāmisapaṭisaṃyuttānaṃ appaṭilābhaṃ vā appaṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṃ atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ samanussarato uppajjati domanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ domanassaṃ, idaṃ vuccati gehasitaṃ domanassan”ti. evaṃ chasu dvāresu “iṭṭhārammaṇaṃ nānubhavissāmi nānubhavāmī”ti vitakkayato uppannāni kāmaguṇanissitadomanassāni cha gehasitadomanassāni nāma 

“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca, sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpeti ‘kudāssu nāmāhaṃ tadāyatanaṃ upasampajja viharissāmi, yadariyā etarahi āyatanaṃ upasampajja viharantī”ti. iti anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāpayato uppajjati pihapaccayā domanassaṃ. yaṃ evarūpaṃ domanassaṃ, idaṃ vuccati nekkhammasitaṃ domanassanti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate anuttaravimokkhasaṅkhātāriyaphaladhammesu pihaṃ upaṭṭhāpetvā tadadhigamāya aniccatādivasena vipassanaṃ paṭṭhapetvā ussukkāpetuṃ asakkontassa “imampi pakkhaṃ imampi māsaṃ imampi saṃvaccharaṃ vipassanaṃ ussukkāpetvā ariyabhūmiṃ pāpuṇituṃ nāsakkhin”ti anusocato uppannāni domanassāni cha nekkhammasitadomanassāni nāma.

 “cakkhunā rūpaṃ disvā uppajjati upekkhā bālassa mūḷhassa puthujjanassa anodhijinassa avipākajinassa anādīnavadassāvino assutavato puthujjanassa. yā evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā nātivattati, tasmā sā upekkhā gehasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhārammaṇe āpāthagate guḷapiṇḍake nilīnamakkhikā viya rūpādīni anativattamānā tattheva laggā laggitā hutvā uppannakāmaguṇanissitā upekkhā cha gehasitaupekkhā nāma.

“rūpānaṃ tveva aniccataṃ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṃ pubbe ceva rūpā etarahi ca, ‘sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato uppajjati upekkhā. yā evarūpā upekkhā, rūpaṃ sā ativattati, tasmā sā upekkhā nekkhammasitāti vuccatī”ti; evaṃ chasu dvāresu iṭṭhādiārammaṇe āpāthagate iṭṭhe arajjantassa aniṭṭhe adussantassa asamapekkhane amuyhantassa uppannā vipassanāñāṇasampayuttā upekkhā nekkhammasitaupekkhā nāma. imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo kathito. tatiyādīni uttānatthāneva.

270 -278 Trong bài kinh thứ hai (của chương này), từ “aṭṭhasatapariyāya” nghĩa là phương pháp phân loại dẫn đến số 108.

Từ “dhammapariyāya” nghĩa là phương pháp phân tích giáo pháp (dhamma).

271. Về hai loại cảm thọ: “cảm thọ thuộc thân (kāyikā)” chỉ tồn tại trong cảnh giới dục giới (kāmāvacara);

“cảm thọ thuộc tâm (cetasikā)” có thể phát sinh trong cả bốn cảnh giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế).

272. Trong ba loại cảm thọ:

  • Lạc thọ (sukhā vedanā) không có trong cảnh giới vô sắc,
  • Nhưng ba loại cảm thọ khác có mặt trong ba cảnh giới còn lại.
  • Khổ thọ (dukkhā) chỉ có trong dục giới,
  • Còn những loại còn lại có thể hiện diện trong bốn tầng giới.

273. Về năm loại cảm thọ (năm căn thọ):

  • Lạc quyền (sukhindriya), khổ quyền (dukkhindriya), ưu quyền (domanassindriya) chỉ có trong dục giới,
  • Hỷ quyền (somanassindriya) hiện diện trong ba giới,
  • Căn xả (upekkhindriya) hiện diện trong cả bốn giới.

274. Trong sáu cảm thọ (liên hệ với sáu căn):

  • Năm căn đầu (mắt đến thân) chỉ có cảm thọ thuộc dục giới,
  • Còn ý môn (manodvāra) có thể phát sinh cảm thọ thuộc cả bốn tầng giới.

275. Về mười tám cảm thọ (aṭṭhārasaka):

  • Trong sáu đối tượng khả ái (iṭṭhārammaṇa), khi được tiếp xúc với sáu căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý), phát sinh hỷ (somanassa) cùng với sự quan sát và suy xét (upavicaranti) — gọi là “hỷ cùng với sự xét nghiệm” (somanassūpavicārā).
  • Cách thức tương tự cũng áp dụng với ưu (domanassa) và xả (upekkhā) — vậy nên có tổng cộng 18 cảm thọ, phân theo ba cảm thọ (hỷ, ưu, xả) x sáu căn.

1. Somanassa (hỷ thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi một người được hoặc nhớ lại các cảnh sắc đẹp, âm thanh ưa thích, mùi thơm, v.v... liên quan đến lạc thú thế gian, cảm thọ hỷ (somanassa) phát sinh.
  • Điều này được gọi là somanassa thuộc tại gia (gehasitasomanassa) — ví như người hưởng thụ ngũ dục lạc.

2. Somanassa thuộc xuất gia (nekkhamasita):

  • Khi một người thấy rõ vô thường, khổ, vô ngã trong các cảnh (như sắc), và phát sinh hỷ từ tuệ quán (vipassanā) và khát vọng giải thoát, thì đó là somanassa thuộc xuất gia.

3. Domanassa (ưu thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi không đạt được những đối tượng khả ái (sắc, thanh...), hoặc mất đi những gì từng có, thì ưu não (domanassa) sinh khởi.
  • Đây là domanassa thuộc tại gia — bắt nguồn từ thất vọng vì không có dục lạc.

4. Domanassa thuộc xuất gia (nekkhammasita):

  • Khi một người thấy rõ vô thường và phát khởi ước muốn đạt được các pháp giải thoát cao thượng, nhưng không thể thành tựu được, tâm sinh ưu não vì tiếc nuối, gọi là domanassa thuộc xuất gia.

5. Upekkhā (xả thọ) thuộc tại gia (gehasita):

  • Khi tiếp xúc với đối tượng khả ái, nhưng người phàm phu không rõ bản chất, nên tâm trung tính, không hỷ cũng không ưu, sinh ra xả thọ gắn với ngũ dục, gọi là xả thuộc tại gia.

6. Upekkhā thuộc xuất gia (nekkhammasita):

  • Khi thấy rõ tính chất vô thường, khổ, vô ngã, không tham – không sân – không si, và có sự xả ly, bình thản với mọi đối tượng, sinh ra xả thọ kết hợp với trí tuệ, đây là xả thọ thuộc xuất gia.

“Imasmiṃ sutte sabbasaṅgāhako catubhūmakadhammaparicchedo kathito.”
Trong bài kinh này, tất cả các loại cảm thọ thuộc cả bốn tầng giới (dục – sắc – vô sắc – siêu thế) đều được bao gồm.

“Tatiyādīni uttānatthāneva.”
 Các phần tiếp theo (từ đoạn thứ ba trở đi) là rõ ràng, dễ hiểu, không cần phân tích sâu thêm.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

26. VI. Sa Môn, Bà La Môn (1) (S.iv,234)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.

3) Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của ba thọ này...

4) ... như thật tuệ tri... với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú.

27. VII. Sa Môn, Bà La Môn (2) (S.iv,235)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.

... (giống như kinh số 26) ...

28. VIII. Sa Môn, Bà La Môn (3) (S.iv,235)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không tuệ tri thọ, không tuệ tri thọ tập khởi, không tuệ tri con đường đưa đến thọ tập khởi, không tuệ tri thọ đoạn diệt, không tuệ tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt...

4) ... như thật tuệ tri... tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú...

  -ooOoo-