BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 26 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Thọ - Phẩm 108 Pháp Môn- SN. 35. 279. Bài 465. NHỮNG GIAI TẦNG CỦA CẢM THỌ - Kinh Tinh Thần (Nirāmisasuttaṃ).
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-465.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngMột người sanh ra và sống trong thế giới của một giai tầng xả hội nào đó khó cảm nhận được sự tinh tế trong lối sống của những người thuộc tầng cấp cao hơn. Cảm thọ của vậy. Cảm thọ tích cực hay tiêu cực trong thế giới của mắt thấy, tai nghe, mũi ngữi, lưỡi nếm, thân xúc chạm khó so sánh được với cảm thọ trong cảnh giới trừu tượng. Đối với một người mà tâm thức và tuệ giác vượt lên trên mọi vướng mắc thì cảm thọ không thể hiểu theo kinh nghiệp thông thường.

 KINH VĂN

Suddhikasuttaṃ

278. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā — imā kho, bhikkhave, tisso vedanā”ti. dasamaṃ.

Nirāmisasuttaṃ

279. “atthi, bhikkhave, sāmisā pīti, atthi nirāmisā pīti, atthi nirāmisā nirāmisatarā pīti; atthi sāmisaṃ sukhaṃ, atthi nirāmisaṃ sukhaṃ, atthi nirāmisā nirāmisataraṃ sukhaṃ; atthi sāmisā upekkhā, atthi nirāmisā upekkhā, atthi nirāmisā nirāmisatarā upekkhā; atthi sāmiso vimokkho, atthi nirāmiso vimokkho, atthi nirāmisā nirāmisataro vimokkho. katamā ca, bhikkhave, sāmisā pīti? pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. katame pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā ... pe ... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. yā kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati pīti, ayaṃ vuccati, bhikkhave, sāmisā pīti.

“katamā ca, bhikkhave, nirāmisā pīti? idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisā pīti.

“katamā ca, bhikkhave, nirāmisā nirāmisatarā pīti? yā kho, bhikkhave, khīṇāsavassa bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, dosā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, mohā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato uppajjati pīti, ayaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisā nirāmisatarā pīti.

“katamañca, bhikkhave, sāmisaṃ sukhaṃ? pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. katame pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā ... pe ... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. yaṃ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati, bhikkhave, sāmisaṃ sukhaṃ.

“katamañca, bhikkhave, nirāmisaṃ sukhaṃ? idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti — ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. idaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisaṃ sukhaṃ.

“katamañca, bhikkhave, nirāmisā nirāmisataraṃ sukhaṃ? yaṃ kho, bhikkhave, khīṇāsavassa bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, dosā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, mohā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, idaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisā nirāmisataraṃ sukhaṃ.

“katamā ca, bhikkhave, sāmisā upekkhā? pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. katame pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā ... pe ... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. yā kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati upekkhā, ayaṃ vuccati, bhikkhave, sāmisā upekkhā.

“katamā ca, bhikkhave, nirāmisā upekkhā? idha, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā, dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisā upekkhā.

“katamā ca, bhikkhave, nirāmisā nirāmisatarā upekkhā? yā kho, bhikkhave, khīṇāsavassa bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, dosā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, mohā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato uppajjati upekkhā, ayaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisā nirāmisatarā upekkhā.

“katamo ca, bhikkhave, sāmiso vimokkho? rūpappaṭisaṃyutto vimokkho sāmiso vimokkho.

“katamo ca, bhikkhave, nirāmiso vimokkho? arūpappaṭisaṃyutto vimokkho nirāmiso vimokkho.

“katamo ca, bhikkhave, nirāmisā nirāmisataro vimokkho? yo kho, bhikkhave, khīṇāsavassa bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, dosā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, mohā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato uppajjati vimokkho, ayaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisā nirāmisataro vimokkho”ti. ekādasamaṃ.

“Này chư Tỳ khưu, có ba loại cảm thọ này. Ba loại gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc.”

“Này chư Tỳ khưu, có hỷ lạc thuộc về vật chất, có hỷ lạc thuộc về tinh thần, có hỷ lạc vượt trên cả tinh thần. Có lạc thuộc về vật chất, có lạc thuộc về tinh thần, có lạc vượt trên cả tinh thần. Có xả thuộc về vật chất, có xả thuộc về tinh thần, có xả vượt trên cả tinh thần. Có giải thoát thuộc về vật chất, có giải thoát thuộc về tinh thần, có giải thoát vượt trên cả tinh thần.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là hỷ lạc thuộc về vật chất? Này chư Tỳ khưu, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Sắc được nhận biết bởi mắt... xúc được nhận biết bởi thân — khả ái, đáng ưa thích, đẹp đẽ, làm say mê các dục, đầy quyến rũ. Đó là năm dục trưởng dưỡng. Hỷ lạc khởi lên tùy thuộc vào năm dục trưởng dưỡng này được gọi là hỷ lạc thuộc về vật chất.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là hỷ lạc thuộc về tinh thần? Ở đây, vị Tỳ khưu ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh. Với sự tịnh chỉ của tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, có nội tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sanh. Đó gọi là hỷ lạc thuộc về tinh thần.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là hỷ lạc vượt trên cả tinh thần? Khi vị Tỳ khưu lậu hoặc đã được đoạn tận, quán xét tâm mình đã được giải thoát khỏi tham ái, khỏi sân hận, khỏi si mê, thì hỷ lạc khởi lên. Đó gọi là hỷ lạc vượt trên cả tinh thần.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là lạc thuộc về vật chất? Như đã nói ở trên: năm dục trưởng dưỡng — sắc... xúc — khả ái, đáng ưa, đẹp đẽ, quyến rũ. Lạc phát sanh do y cứ vào năm dục trưởng dưỡng ấy được gọi là lạc thuộc về vật chất.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là lạc thuộc về tinh thần? Này chư Tỳ khưu, cũng như trước, vị Tỳ khưu ly dục... chứng và trú thiền thứ nhất, thứ hai... rồi với sự đoạn diệt cả hỷ, vị ấy an trú với xả, chánh niệm, tỉnh giác, cảm thọ lạc bằng thân, chứng và trú thiền thứ ba, mà các bậc Thánh gọi là: ‘Vị ấy sống với xả, chánh niệm, an trú trong hạnh phúc.’ Đó gọi là lạc thuộc về tinh thần.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là lạc vượt trên cả tinh thần? Khi vị Tỳ khưu lậu tận quán xét tâm mình đã được giải thoát khỏi tham, khỏi sân, khỏi si, thì lạc khởi lên. Đó gọi là lạc vượt trên cả tinh thần.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là xả thuộc về vật chất? Năm dục trưởng dưỡng như đã nói — sắc... xúc — khả ái, hấp dẫn... Xả khởi lên tùy thuộc vào năm dục trưởng dưỡng ấy được gọi là xả thuộc về vật chất.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là xả thuộc về tinh thần? Với sự từ bỏ lạc và khổ, cũng như sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, vị Tỳ khưu chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Đó gọi là xả thuộc về tinh thần.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là xả vượt trên cả tinh thần? Khi vị Tỳ khưu lậu tận quán xét tâm mình đã được giải thoát khỏi tham, khỏi sân, khỏi si, thì xả khởi lên. Đó gọi là xả vượt trên cả tinh thần.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là giải thoát thuộc về vật chất? Giải thoát có liên quan đến cõi sắc giới được gọi là giải thoát thuộc về vật chất.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là giải thoát thuộc về tinh thần? Giải thoát có liên quan đến cõi vô sắc được gọi là giải thoát thuộc về tinh thần.

“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là giải thoát vượt trên cả tinh thần? Khi vị Tỳ khưu lậu tận quán xét tâm mình đã được giải thoát khỏi tham, khỏi sân, khỏi si, thì giải thoát khởi lên. Đó gọi là giải thoát vượt trên cả tinh thần.”

Chú Thích

Hai bài kinh Suddhikasuttaṃ (Kinh Giản Lược) và  Nirāmisasuttaṃ (Kinh Tinh Thần) trong bản Miến Điện và bản Tích Lan là hai bài kinh riêng biệt. Nhưng trong bản Anh ngữ của Pāli Text Society thì là một với kinh Suddhikasuttaṃ (Kinh Giản Lược)  là phần khởi đầu. Người dịch lấy theo bản của PTS (…)

Ba dụng ngữ  sāmisā, nirāmisā, nirāmisatarā cần được hiểu rõ về ý nghĩa và chữ chuyển dịch:

 Sāmisā có nghĩa là xác thịt, nhục cảm, vật chất

Nirāmisā có nghĩa là phi vật chất, không thuộc thể xác, tinh thần

Nirāmisatarā vượt trên tinh thần. Ngài Bodhi dịch là “spiritual more than spriritual – tinh thần cao hơn cả tinh thần”

Chữ “tinh thần” trong bản dịch nầy lấy theo ý nghĩa thường thức đối xứng “vật chất và tinh thần”. Từ nầy rất ít khi dùng trong Phật học. Và hoàn toàn không liên hệ gì với từ nguyên “tinh, khí, thần” của Đạo gia.

Nirāmisa nirāmisatara pīti: Hỷ lạc không dính mắc (nirāmisa), và hỷ lạc còn cao hơn cả không dính mắc (nirāmisatara-pīti). Theo Sớ giải thì “Nirāmisatara” được hiểu là hỷ lạc còn cao hơn cả hỷ lạc tinh thần (hỷ trong thiền), tức là hỷ khởi lên từ sự quán xét tâm đã giải thoát của bậc A-la-hán.

Theo Sớ giải thì  khi văn kinh gọi hỷ lạc, lạc, xả v.v. trong các tầng thiền là “thuộc tinh thần” (nguyên văn: “không thuộc về vật chất” – nirāmisa), thì có vẻ mâu thuẫn khi lại nói rằng giải thoát ở cõi sắc là “thuộc về vật chất” (sāmisā). Vì giải thoát liên quan đến cõi sắc (rūpapaṭisaṃyutta vimokkha) được gọi là sāmisā (thuộc vật chất) vì đối tượng (ārammaṇa) của nó là sắc pháp, mà sắc pháp đó là một dạng sắc tế – do đó được xem là “thuộc về vật chất” (rūpāmisavasena sāmisā nāma).

Sớ Giải

279. ekādasame sāmisāti kilesāmisena sāmisā. nirāmisatarāti nirāmisāyapi jhānapītiyā nirāmisatarāva. nanu ca dvīsu jhānesu pīti mahaggatāpi hoti lokuttarāpi, paccavekkhaṇapīti lokiyāva, sā kasmā nirāmisatarā jātāti? santapaṇītadhammapaccavekkhaṇavasena uppannattā. yathā hi rājavallabho cūḷupaṭṭhāko appaṭihārikaṃ yathāsukhaṃ rājakulaṃ pavisanto seṭṭhisenāpatiādayo pādena paharantopi na gaṇeti. kasmā? rañño āsannaparicārakattā. iti so tehi uttaritaro hoti, evamayampi santapaṇītadhammapaccavekkhaṇavasena uppannattā lokuttarapītitopi uttaritarāti veditabbā. sesavāresupi eseva nayo. ♦ vimokkhavāre pana rūpapaṭisaṃyutto vimokkho attano ārammaṇabhūtena rūpāmisavaseneva sāmiso nāma, arūpapaṭisaṃyutto rūpāmisābhāvena nirāmiso nāmāti.

279. Trong bài kinh thứ mười một (ekādasame):

  • Sāmisā: có nghĩa là "có liên quan đến ngũ triền cái" (kilesa-āmisena), tức là còn dính mắc, còn ô nhiễm bởi phiền não.
  • Nirāmisatarā: nghĩa là "cao hơn cả trạng thái không dính mắc (nirāmisa)", tức là còn cao hơn cả hỷ lạc của thiền định vốn đã là nirāmisa.

Nhưng ở hai tầng thiền đầu, pīti (hỷ) có thể là mahaggata (đáo đại – thuộc thiền sắc giới) hoặc lokuttara (siêu thế – thuộc đạo quả). Trong khi đó, pīti do sự hồi quán xét (paccavekkhaṇā-pīti) chỉ là hiệp thế (lokiya) thôi. Vậy tại sao nó lại được gọi là “nirāmisatarā” – cao hơn cả nirāmisa?  Vì pīti ấy khởi lên do quán xét những pháp tịch tịnh, vi tế.

Ví dụ: Cũng như một người thân cận của vua, làm thị vệ, được tự do ra vào hoàng cung không bị cản trở. Dù các đại thần như vị đại tướng quân có dùng chân đẩy anh ta, anh ta cũng không xem đó là gì quan trọng. Vì sao? Vì anh ta là người phục vụ thân cận của vua. Do đó, anh ta ở thế cao hơn các vị đại thần kia.

Cũng vậy, pīti khởi lên do quán xét các pháp tịch tịnh vi tế ấy, dù là hiệp thế, nhưng lại cao hơn cả pīti siêu thế (lokuttara-pīti). Phải được hiểu như vậy.

Trong các phần khác của đoạn kinh (về lạc, xả, giải thoát), cách lý giải cũng tương tự như vậy.

Trong phần nói về giải thoát (vimokkhavāra):

  • Giải thoát đi chung với thiền sắc (rūpapaṭisaṃyutta vimokkha) thì được gọi là sāmisā (còn tuỳ thuộc) vì nó dựa trên sắc làm đối tượng – sắc ấy thuộc về āmisā (dục lạc) của sắc giới.
  • Giải thoát đi chung với thiền vô sắc (arūpapaṭisaṃyutta vimokkha) thì được gọi là nirāmisā (không dính mắc), vì không có sắc làm đối tượng, do vậy không còn sự tuỳ thuộc của vật chất (rūpāmisābhāva).

   Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

29. IX. Thanh Tịnh, Không Liên Hệ Ðến Vật Chất (S.iv,235)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây là ba thọ.

3) Này các Tỷ-kheo, có hỷ liên hệ đến vật chất, có hỷ không liên hệ đến vật chất, có hỷ không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại hỷ không liên hệ đến vật chất kia; có lạc liên hệ đến vật chất, có lạc không liên hệ đến vật chất, có lạc không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại lạc không liên hệ đến vật chất kia; có xả liên hệ đến vật chất, có xả không liên hệ đến vật chất, có xả không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại xả không liên hệ đến vật chất kia; có giải thoát liên hệ đến vật chất, có giải thoát không liên hệ đến vật chất, có giải thoát không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại giải thoát không liên hệ đến vật chất kia.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ liên hệ đến vật chất? Này các Tỷ-kheo, có năm dục công đức này. Thế nào là năm? Có các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Có xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là năm dục công đức này. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục công đức này, hỷ khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ liên hệ đến vật chất.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ không liên hệ đến vật chất? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ không liên hệ đến vật chất.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại hỷ không liên hệ đến vật chất kia? Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khi quán sát tâm giải thoát khỏi tham, khi quán sát tâm giải thoát khỏi sân, khi quán sát tâm giải thoát khỏi si, hỷ được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại hỷ không liên hệ đến vật chất kia.

7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc liên hệ đến vật chất? Này các Tỷ-kheo, có năm dục công đức. Thế nào là năm? Có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Có những xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là năm dục công đức. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục công đức này, khởi lên lạc hỷ gì, này các Tỷ-kheo, đây gọi là lạc liên hệ đến vật chất.

8) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc không liên hệ đến vật chất? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tịnh chỉ các tầm và tứ, vị ấy chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy chứng đạt và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lạc không liên hệ đến vật chất.

9) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại lạc không liên hệ đến vật chất kia? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khi quán sát tâm giải thoát khỏi tham, quán sát tâm giải thoát khỏi sân, quán sát tâm giải thoát khỏi si, lạc và hỷ khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lạc không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại lạc không liên hệ đến vật chất kia.

10) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả liên hệ đến vật chất? Này các Tỷ-kheo, có năm dục công đức này. Thế nào là năm? Có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Có những xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục công đức này, xả khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xả liên hệ đến vật chất.

11) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả không liên hệ đến vật chất? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xả không liên hệ đến vật chất.

12) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại xả không liên hệ đến vật chất kia? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, quán sát tâm giải thoát khỏi tham, quán sát tâm giải thoát khỏi sân, quán sát tâm giải thoát khỏi si, xả khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xả không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại xả không liên hệ đến vật chất kia.

13-14) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giải thoát liên hệ đến vật chất? Sự giải thoát liên hệ đến sắc là liên hệ đến vật chất... Sự giải thoát liên hệ đến vô sắc là không liên hệ đến vật chất.

16) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự giải thoát không liên hệ đến vật chất còn hơn cả sự giải thoát không liên hệ đến vật chất kia? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, quán sát tâm giải thoát khỏi tham, quán sát tâm giải thoát khỏi sân, quán sát tâm giải thoát khỏi si, giải thoát khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây là sự giải thoát không liên hệ đến vật chất còn hơn cả sự giải thoát không liên hệ đến vật chất kia.

  -ooOoo-