|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 26 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH
VĂN
278. “tisso imā, bhikkhave, vedanā. katamā tisso? sukhā vedanā,
dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā — imā kho, bhikkhave, tisso
vedanā”ti. dasamaṃ.
Nirāmisasuttaṃ
279. “atthi, bhikkhave, sāmisā pīti, atthi nirāmisā pīti, atthi
nirāmisā nirāmisatarā pīti; atthi sāmisaṃ sukhaṃ, atthi
nirāmisaṃ sukhaṃ, atthi nirāmisā nirāmisataraṃ sukhaṃ; atthi
sāmisā upekkhā, atthi nirāmisā upekkhā, atthi nirāmisā
nirāmisatarā upekkhā; atthi sāmiso vimokkho, atthi nirāmiso
vimokkho, atthi nirāmisā nirāmisataro vimokkho. katamā ca,
bhikkhave, sāmisā pīti? pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. katame
pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā
kāmūpasaṃhitā rajanīyā ... pe ... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā
kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. ime kho,
bhikkhave, pañca kāmaguṇā. yā kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe
paṭicca uppajjati pīti, ayaṃ vuccati, bhikkhave, sāmisā pīti.
“katamā ca, bhikkhave, nirāmisā pīti? idha, bhikkhave, bhikkhu
vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ
vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso
ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ
jhānaṃ upasampajja viharati. ayaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisā
pīti.
“katamā ca, bhikkhave, nirāmisā nirāmisatarā pīti? yā kho,
bhikkhave, khīṇāsavassa bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ
paccavekkhato, dosā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, mohā cittaṃ
vimuttaṃ paccavekkhato uppajjati pīti, ayaṃ vuccati, bhikkhave,
nirāmisā nirāmisatarā pīti.
“katamañca, bhikkhave, sāmisaṃ sukhaṃ? pañcime, bhikkhave,
kāmaguṇā. katame pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā
piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā ... pe ... kāyaviññeyyā
phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā.
ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. yaṃ kho, bhikkhave, ime
pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, idaṃ
vuccati, bhikkhave, sāmisaṃ sukhaṃ.
“katamañca, bhikkhave, nirāmisaṃ sukhaṃ? idha, bhikkhave,
bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ
savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja
viharati. vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ
cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ
dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. pītiyā ca virāgā upekkhako
ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ
taṃ ariyā ācikkhanti — ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ
jhānaṃ upasampajja viharati. idaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisaṃ
sukhaṃ.
“katamañca, bhikkhave, nirāmisā nirāmisataraṃ sukhaṃ? yaṃ kho,
bhikkhave, khīṇāsavassa bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ
paccavekkhato, dosā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, mohā cittaṃ
vimuttaṃ paccavekkhato uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, idaṃ
vuccati, bhikkhave, nirāmisā nirāmisataraṃ sukhaṃ.
“katamā ca, bhikkhave, sāmisā upekkhā? pañcime, bhikkhave,
kāmaguṇā. katame pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā
piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā ... pe ... kāyaviññeyyā
phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā.
ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. yā kho, bhikkhave, ime pañca
kāmaguṇe paṭicca uppajjati upekkhā, ayaṃ vuccati, bhikkhave,
sāmisā upekkhā.
“katamā ca, bhikkhave, nirāmisā upekkhā? idha, bhikkhave,
bhikkhu sukhassa ca pahānā, dukkhassa ca pahānā, pubbeva
somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṃ
upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
ayaṃ vuccati, bhikkhave, nirāmisā upekkhā.
“katamā ca, bhikkhave, nirāmisā nirāmisatarā upekkhā? yā kho,
bhikkhave, khīṇāsavassa bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ
paccavekkhato, dosā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, mohā cittaṃ
vimuttaṃ paccavekkhato uppajjati upekkhā, ayaṃ vuccati,
bhikkhave, nirāmisā nirāmisatarā upekkhā.
“katamo ca, bhikkhave, sāmiso vimokkho? rūpappaṭisaṃyutto
vimokkho sāmiso vimokkho.
“katamo ca, bhikkhave, nirāmiso vimokkho? arūpappaṭisaṃyutto
vimokkho nirāmiso vimokkho.
“katamo ca, bhikkhave, nirāmisā nirāmisataro vimokkho? yo kho,
bhikkhave, khīṇāsavassa bhikkhuno rāgā cittaṃ vimuttaṃ
paccavekkhato, dosā cittaṃ vimuttaṃ paccavekkhato, mohā cittaṃ
vimuttaṃ paccavekkhato uppajjati vimokkho, ayaṃ vuccati,
bhikkhave, nirāmisā nirāmisataro vimokkho”ti. ekādasamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, có ba loại cảm thọ này. Ba loại gì? Cảm thọ
lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc.”
“Này chư Tỳ khưu, có hỷ lạc thuộc về vật chất, có hỷ lạc thuộc
về tinh thần, có hỷ lạc vượt trên cả tinh thần. Có lạc thuộc về
vật chất, có lạc thuộc về tinh thần, có lạc vượt trên cả tinh
thần. Có xả thuộc về vật chất, có xả thuộc về tinh thần, có xả
vượt trên cả tinh thần. Có giải thoát thuộc về vật chất, có giải
thoát thuộc về tinh thần, có giải thoát vượt trên cả tinh thần.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là hỷ lạc thuộc về vật chất? Này
chư Tỳ khưu, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Sắc
được nhận biết bởi mắt... xúc được nhận biết bởi thân — khả ái,
đáng ưa thích, đẹp đẽ, làm say mê các dục, đầy quyến rũ. Đó là
năm dục trưởng dưỡng. Hỷ lạc khởi lên tùy thuộc vào năm dục
trưởng dưỡng này được gọi là hỷ lạc thuộc về vật chất.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là hỷ lạc thuộc về tinh thần? Ở
đây, vị Tỳ khưu ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền
thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh. Với sự tịnh
chỉ của tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, có nội
tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sanh. Đó
gọi là hỷ lạc thuộc về tinh thần.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là hỷ lạc vượt trên cả tinh thần?
Khi vị Tỳ khưu lậu hoặc đã được đoạn tận, quán xét tâm mình đã
được giải thoát khỏi tham ái, khỏi sân hận, khỏi si mê, thì hỷ
lạc khởi lên. Đó gọi là hỷ lạc vượt trên cả tinh thần.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là lạc thuộc về vật chất? Như đã
nói ở trên: năm dục trưởng dưỡng — sắc... xúc — khả ái, đáng ưa,
đẹp đẽ, quyến rũ. Lạc phát sanh do y cứ vào năm dục trưởng dưỡng
ấy được gọi là lạc thuộc về vật chất.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là lạc thuộc về tinh thần? Này chư
Tỳ khưu, cũng như trước, vị Tỳ khưu ly dục... chứng và trú thiền
thứ nhất, thứ hai... rồi với sự đoạn diệt cả hỷ, vị ấy an trú
với xả, chánh niệm, tỉnh giác, cảm thọ lạc bằng thân, chứng và
trú thiền thứ ba, mà các bậc Thánh gọi là: ‘Vị ấy sống với xả,
chánh niệm, an trú trong hạnh phúc.’ Đó gọi là lạc thuộc về tinh
thần.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là lạc vượt trên cả tinh thần? Khi
vị Tỳ khưu lậu tận quán xét tâm mình đã được giải thoát khỏi
tham, khỏi sân, khỏi si, thì lạc khởi lên. Đó gọi là lạc vượt
trên cả tinh thần.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là xả thuộc về vật chất? Năm dục
trưởng dưỡng như đã nói — sắc... xúc — khả ái, hấp dẫn... Xả
khởi lên tùy thuộc vào năm dục trưởng dưỡng ấy được gọi là xả
thuộc về vật chất.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là xả thuộc về tinh thần? Với sự từ
bỏ lạc và khổ, cũng như sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, vị Tỳ
khưu chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm
thanh tịnh. Đó gọi là xả thuộc về tinh thần.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là xả vượt trên cả tinh thần? Khi
vị Tỳ khưu lậu tận quán xét tâm mình đã được giải thoát khỏi
tham, khỏi sân, khỏi si, thì xả khởi lên. Đó gọi là xả vượt trên
cả tinh thần.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là giải thoát thuộc về vật chất?
Giải thoát có liên quan đến cõi sắc giới được gọi là giải thoát
thuộc về vật chất.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là giải thoát thuộc về tinh thần?
Giải thoát có liên quan đến cõi vô sắc được gọi là giải thoát
thuộc về tinh thần.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là giải thoát vượt trên cả tinh
thần? Khi vị Tỳ khưu lậu tận quán xét tâm mình đã được giải
thoát khỏi tham, khỏi sân, khỏi si, thì giải thoát khởi lên. Đó
gọi là giải thoát vượt trên cả tinh thần.”
Chú Thích
Hai bài kinh Suddhikasuttaṃ (Kinh Giản
Lược) và
Nirāmisasuttaṃ (Kinh Tinh Thần) trong bản Miến Điện và bản Tích
Lan là hai bài kinh riêng biệt. Nhưng trong bản Anh ngữ của Pāli
Text Society thì là một với kinh Suddhikasuttaṃ (Kinh Giản Lược)
là phần khởi đầu. Người
dịch lấy theo bản của PTS (…)
Ba dụng ngữ sāmisā,
nirāmisā, nirāmisatarā cần được hiểu
rõ về ý nghĩa và chữ chuyển dịch:
Sāmisā có nghĩa là xác
thịt, nhục cảm, vật chất
Nirāmisā có nghĩa là phi vật chất, không thuộc thể xác, tinh
thần
Nirāmisatarā vượt trên tinh thần. Ngài Bodhi dịch là “spiritual
more than spriritual – tinh thần cao hơn cả tinh thần”
Chữ “tinh thần” trong bản dịch nầy lấy theo ý nghĩa thường thức
đối xứng “vật chất và tinh thần”. Từ nầy rất ít khi dùng trong
Phật học. Và hoàn toàn không liên hệ gì với từ nguyên “tinh,
khí, thần” của Đạo gia.
Nirāmisa nirāmisatara pīti: Hỷ lạc không dính mắc (nirāmisa), và
hỷ lạc còn cao hơn cả không dính mắc (nirāmisatara-pīti). Theo
Sớ giải thì “Nirāmisatara” được hiểu là hỷ lạc còn cao hơn cả hỷ
lạc tinh thần (hỷ trong thiền), tức là hỷ khởi lên từ sự quán
xét tâm đã giải thoát của bậc A-la-hán.
Theo Sớ giải thì khi văn
kinh gọi hỷ lạc, lạc, xả v.v. trong các tầng thiền là “thuộc
tinh thần” (nguyên văn: “không thuộc về vật chất” – nirāmisa),
thì có vẻ mâu thuẫn khi lại nói rằng giải thoát ở cõi sắc là
“thuộc về vật chất” (sāmisā). Vì giải thoát liên quan đến cõi
sắc (rūpapaṭisaṃyutta vimokkha) được gọi là sāmisā (thuộc vật
chất) vì đối tượng (ārammaṇa) của nó là sắc pháp, mà sắc pháp đó
là một dạng sắc tế – do đó được xem là “thuộc về vật chất”
(rūpāmisavasena sāmisā nāma).
Sớ Giải
279. ekādasame sāmisāti kilesāmisena sāmisā. nirāmisatarāti
nirāmisāyapi jhānapītiyā nirāmisatarāva. nanu ca dvīsu jhānesu
pīti mahaggatāpi hoti lokuttarāpi, paccavekkhaṇapīti lokiyāva,
sā kasmā nirāmisatarā jātāti?
santapaṇītadhammapaccavekkhaṇavasena uppannattā. yathā hi
rājavallabho cūḷupaṭṭhāko appaṭihārikaṃ yathāsukhaṃ rājakulaṃ
pavisanto seṭṭhisenāpatiādayo pādena paharantopi na gaṇeti.
kasmā? rañño āsannaparicārakattā. iti so tehi uttaritaro hoti,
evamayampi santapaṇītadhammapaccavekkhaṇavasena uppannattā
lokuttarapītitopi uttaritarāti veditabbā. sesavāresupi eseva
nayo. ♦ vimokkhavāre pana rūpapaṭisaṃyutto vimokkho attano
ārammaṇabhūtena rūpāmisavaseneva sāmiso nāma, arūpapaṭisaṃyutto
rūpāmisābhāvena nirāmiso nāmāti.
279. Trong bài kinh thứ mười một (ekādasame):
Nhưng ở hai tầng thiền đầu, pīti (hỷ) có thể là mahaggata (đáo
đại – thuộc thiền sắc giới) hoặc lokuttara (siêu thế – thuộc đạo
quả). Trong khi đó, pīti do sự hồi quán xét (paccavekkhaṇā-pīti)
chỉ là hiệp thế (lokiya) thôi. Vậy tại sao nó lại được gọi là
“nirāmisatarā” – cao hơn cả nirāmisa?
Vì pīti ấy khởi lên do
quán xét những pháp tịch tịnh, vi tế.
Ví dụ: Cũng như một người thân cận của vua, làm thị vệ, được tự
do ra vào hoàng cung không bị cản trở. Dù các đại thần như vị
đại tướng quân có dùng chân đẩy anh ta, anh ta cũng không xem đó
là gì quan trọng. Vì sao? Vì anh ta là người phục vụ thân cận
của vua. Do đó, anh ta ở thế cao hơn các vị đại thần kia.
Cũng vậy, pīti khởi lên do quán xét các pháp tịch tịnh vi tế ấy,
dù là hiệp thế, nhưng lại cao hơn cả pīti siêu thế
(lokuttara-pīti). Phải được hiểu như vậy.
Trong các phần khác của đoạn kinh (về lạc, xả, giải thoát), cách
lý giải cũng tương tự như vậy.
Trong phần nói về giải thoát (vimokkhavāra):
29. IX. Thanh Tịnh, Không Liên Hệ Ðến Vật
Chất (S.iv,235)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây là ba thọ.
3) Này các Tỷ-kheo, có hỷ liên hệ đến vật chất, có hỷ không liên
hệ đến vật chất, có hỷ không liên hệ đến vật chất còn hơn cả
loại hỷ không liên hệ đến vật chất kia; có lạc liên hệ đến vật
chất, có lạc không liên hệ đến vật chất, có lạc không liên hệ
đến vật chất còn hơn cả loại lạc không liên hệ đến vật chất kia;
có xả liên hệ đến vật chất, có xả không liên hệ đến vật chất, có
xả không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại xả không liên hệ
đến vật chất kia; có giải thoát liên hệ đến vật chất, có giải
thoát không liên hệ đến vật chất, có giải thoát không liên hệ
đến vật chất còn hơn cả loại giải thoát không liên hệ đến vật
chất kia.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ liên hệ đến vật chất? Này
các Tỷ-kheo, có năm dục công đức này. Thế nào là năm? Có các sắc
do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến
dục, hấp dẫn... Có xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý,
khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là năm
dục công đức này. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục công đức
này, hỷ khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ liên hệ đến vật
chất.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ không liên hệ đến vật chất?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng
và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có
tầm, có tứ. Làm tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và trú Thiền thứ
hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ,
nội tĩnh, nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ không liên hệ
đến vật chất.
6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ không liên hệ đến vật chất
còn hơn cả loại hỷ không liên hệ đến vật chất kia? Tỷ-kheo đã
đoạn tận các lậu hoặc, khi quán sát tâm giải thoát khỏi tham,
khi quán sát tâm giải thoát khỏi sân, khi quán sát tâm giải
thoát khỏi si, hỷ được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ
không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại hỷ không liên hệ đến
vật chất kia.
7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc liên hệ đến vật chất? Này
các Tỷ-kheo, có năm dục công đức. Thế nào là năm? Có những sắc
do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến
dục, hấp dẫn... Có những xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ,
khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là
năm dục công đức. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục công đức
này, khởi lên lạc hỷ gì, này các Tỷ-kheo, đây gọi là lạc liên hệ
đến vật chất.
8) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc không liên hệ đến vật
chất? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp,
chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục
sanh, có tầm, có tứ. Tịnh chỉ các tầm và tứ, vị ấy chứng và trú
Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm,
không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú,
vị ấy chứng đạt và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là
lạc không liên hệ đến vật chất.
9) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc không liên hệ đến vật chất
còn hơn cả loại lạc không liên hệ đến vật chất kia? Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khi quán sát tâm giải
thoát khỏi tham, quán sát tâm giải thoát khỏi sân, quán sát tâm
giải thoát khỏi si, lạc và hỷ khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là lạc không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại lạc không liên
hệ đến vật chất kia.
10) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả liên hệ đến vật chất? Này
các Tỷ-kheo, có năm dục công đức này. Thế nào là năm? Có những
sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến
dục, hấp dẫn... Có những xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ,
khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, do
duyên năm dục công đức này, xả khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là xả liên hệ đến vật chất.
11) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả không liên hệ đến vật
chất? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn lạc, đoạn khổ, chấm
dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư,
không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là xả không liên hệ đến vật chất.
12) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả không liên hệ đến vật chất
còn hơn cả loại xả không liên hệ đến vật chất kia? Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, quán sát tâm giải
thoát khỏi tham, quán sát tâm giải thoát khỏi sân, quán sát tâm
giải thoát khỏi si, xả khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xả
không liên hệ đến vật chất còn hơn cả loại xả không liên hệ đến
vật chất kia.
13-14) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giải thoát liên hệ đến vật
chất? Sự giải thoát liên hệ đến sắc là liên hệ đến vật chất...
Sự giải thoát liên hệ đến vô sắc là không liên hệ đến vật chất.
16) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự giải thoát không liên hệ
đến vật chất còn hơn cả sự giải thoát không liên hệ đến vật chất
kia? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, quán sát
tâm giải thoát khỏi tham, quán sát tâm giải thoát khỏi sân, quán
sát tâm giải thoát khỏi si, giải thoát khởi lên. Này các
Tỷ-kheo, đây là sự giải thoát không liên hệ đến vật chất còn hơn
cả sự giải thoát không liên hệ đến vật chất kia.
|