BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 30 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Nữ Nhân- Phẩm Trùng Lập I- SN. 35. 283, 284, 285. Bài 468. NHỮNG BẤT THIỆN PHÁP THƯỜNG MẠNH Ở NGƯỜI NỮ - Kinh Ba Tánh Xấu (Tīhidhammehisuttaṃ, Kinh Phẫn Nộ (Kodhanasuttaṃ), Kinh Bất Thiện Tâm (upanāhīsuttaṃ), Kinh Năm Ác Hạnh (issukīsuttaṃ) .
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-468.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngSự khác biệt giới tính cũng tạo nên sự khác biệt về khuynh hướng phiền não mạnh yếu sai biệt. Đa số người nữ thường chú trọng ngoại hình nên đặt nặng về cái nhìn của người khác đối với mình là một thí dụ. Tất nhiên dù nam hay nữ đề có phiền não. Nhưng sự khác biệt giới tính thì tạo nên những phiền não đậm chất ở giới tính nầy so với giới tính kia. Hiểu rõ ưu khuyết điểm bản thân là sự bắt đầu tốt nhất cho hành trình chuyển hoá tự thân.

 KINH VĂN

Kinh Ba Tánh Xấu

283. “tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato mātugāmo yebhuyyena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati. katamehi tīhi? idha, bhikkhave, mātugāmo pubbaṇhasamayaṃ maccheramalapariyuṭṭhitena cetasā agāraṃ ajjhāvasati. majjhanhikasamayaṃ issāpariyuṭṭhitena cetasā agāraṃ ajjhāvasati. sāyanhasamayaṃ kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā agāraṃ ajjhāvasati. imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato mātugāmo yebhuyyena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatī”ti. catutthaṃ.

1 “Này các Tỳ-khưu, khi một người phụ nữ có ba đặc tính, thì sau khi thân hoại mạng chung, thường sanh vào cảnh khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ba đặc tính ấy là gì?

2 “Này các Tỳ-khưu, buổi sáng  ở nhà với tâm bị ô nhiễm bởi sự ích kỷ; buổi trưa với tâm bị ô nhiễm bởi sự ganh tỵ; buổi chiều với tâm bị ô nhiễm bởi dục vọng. Khi người phụ nữ có ba đặc tính này… thường sanh vào cảnh khổ… vào địa ngục.”

(Trích từ chương Anuruddha: (i) Mặt tối của phụ nữ)

Kinh Phẫn Nộ

 284. atha kho āyasmā anuruddho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā anuruddho bhagavantaṃ etadavoca — “idhāhaṃ, bhante, mātugāmaṃ passāmi dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjantaṃ. katīhi nu kho, bhante, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatī”ti?

 “pañcahi kho, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati. katamehi pañcahi? assaddho ca hoti, ahiriko ca hoti, anottappī ca hoti, kodhano ca hoti, duppañño ca hoti — imehi kho, anuruddha, pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatī”ti. pañcamaṃ.

1 Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha đi đến Thế Tôn... và bạch rằng:

2 “Bạch Thế Tôn, ở đây, với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, con thấy những người nữ, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Bạch Thế Tôn, khi người nữ có bao nhiêu đặc tính thì họ bị sanh vào như vậy?”

3 “Này Anuruddha, khi một người nữ có năm đặc tính, thì sau khi thân hoại mạng chung,  sanh vào cảnh khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Năm đặc tính ấy là gì?

4 “Không có tịnh tín, vô tàm, vô quý, hay phẫn nộ, thiếu trí tuệ. . Khi một người nữ có năm đặc tính này, bị sanh vào cảnh khổ... vào địa ngục.”

Kinh Bất Thiện Tâm

285. “pañcahi, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati. katamehi pañcahi? assaddho ca hoti, ahiriko ca hoti, anottappī ca hoti, upanāhī ca hoti, duppañño ca hoti — imehi kho, anuruddha, pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatī”ti. chaṭṭhaṃ.

1 “Này Anuruddha, khi một người phụ nữ có năm đặc tính, thì sau khi thân hoại mạng chung, nàng bị sanh vào cảnh khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Năm đặc tính ấy là gì?

2 “Nàng vô tín, không biết xấu hổ, không sợ tội lỗi, ác tâm, [ganh tỵ... keo kiệt... buông thả... vô đạo đức... không học hỏi... biếng nhác... tâm trí rối loạn,] không có trí tuệ. Khi một người nữ có năm đặc tính này, nàng bị sanh vào cảnh khổ... vào địa ngục.”

Kinh Ác Hạnh

 286. “pañcahi, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati. katamehi pañcahi? assaddho ca hoti, ahiriko ca hoti, anottappī ca hoti, issukī ca hoti, duppañño ca hoti — imehi kho, anuruddha, pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatī”ti. sattamaṃ.

1 “Này Anuruddha, khi một người nữ có năm đặc tính, thì sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cảnh khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Năm đặc tính ấy là gì?

2 “Nàng sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và say sưa với rượu, các chất say khiến buông lung. Khi một người nữ có năm đặc tính này, bị sanh vào cảnh khổ... vào địa ngục.”

Chú Thích

Những bài kinh nầy cũng được tìm thấy trong “Tương Ưng Anuruddha” nên được đặt là “Phẩm Trùng Lặp”

Tôn giả Anuruddha là bậc đệ nhất thiên nhãn trong số đại đệ tử Phật. Khi Ngài dùng thiên nhãn nhìn chúng sanh trong các cõi thấy một số lớn người nữ sanh vào vào cõi khổ nên bạch hỏi Phật.

Trong phần tiếp theo sẽ có loạt bài kinh nói về những thiện pháp khiến người nữ sanh vào cõi an lạc. Như vậy ở người nữ cũng như người nam không phải chỉ có những ác pháp mà cũng có những thiện pháp.

Sớ Giải

283-303. catutthe maccheramalapariyuṭṭhitenāti pubbaṇhasamayasmiñhi mātugāmo khīradadhisaṅgopanarandhanapacanādīni kātuṃ āraddho, puttakehipi yāciyamāno kiñci dātuṃ na icchati. tenetaṃ vuttaṃ “pubbaṇhasamayaṃ maccheramalapariyuṭṭhitena cetasā”ti. majjhanhikasamaye pana mātugāmo kodhābhibhūtova hoti, antoghare kalahaṃ alabhanto paṭivissakagharampi gantvā kalahaṃ karoti, sāmikassa ca ṭhitanisinnaṭṭhānāni vilokento vicarati. tena vuttaṃ “majjhanhikasamayaṃ issāpariyuṭṭhitena cetasā”ti. sāyanhe panassā asaddhammapaṭisevanāya cittaṃ namati. tena vuttaṃ “sāyanhasamayaṃ kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā”ti. pañcamādīni uttānatthāneva.

283–303. Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), câu “do tâm bị ô nhiễm bởi cấu uế của xan tham (macchera)” được giải thích như sau "maccheramalapariyuṭṭhitenāti" – nghĩa là “do tâm bị nhiễm ô bởi cấu uế của lòng xan tham.”

Vào buổi sáng sớm, người phụ nữ bắt đầu các việc như vắt sữa, chế biến sữa chua, chăm sóc bò sữa, nấu ăn v.v., nhưng dù bị con mình xin xỏ cũng không muốn cho bất cứ thứ gì. Do vậy mới có câu:“Vào buổi sáng, với tâm bị ô nhiễm bởi xan tham.”

Vào buổi trưa, người phụ nữ bị sân giận khống chế, nếu trong nhà không có ai để gây gổ, thì sẽ đến nhà hàng xóm để tranh cãi, thậm chí còn đi quanh dò xét chỗ đứng ngồi của chồng mình. Do vậy mới có câu: “Vào buổi trưa, với tâm bị chi phối bởi sự ganh tỵ.”

Còn vào buổi chiều, tâm của người phụ nữ hướng về việc thực hành những pháp bất thiện, cụ thể là dục ái và tham luyến. Do vậy mới có câu:“Vào buổi chiều, với tâm bị chi phối bởi tham ái dục lạc.”

Từ phần thứ năm trở đi thì nghĩa rõ ràng và dễ hiểu, không cần giải thích thêm (uttānattha = rõ ràng, dễ hiểu).Top of Form

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

_____________________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Nữ Nhân

-ooOoo-

Phần Một - Phẩm Trung Lược

4. IV. Ba Sự Việc (S.iv,240)

1) ...

2) -- Ðầy đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phần lớn sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là ba?

3) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, người đàn bà, vào buổi sáng, ở nhà với tâm bị xan tham ám ảnh, vào buổi trưa, ở nhà với tâm bị tật đố ám ảnh, vào buổi chiều, ở nhà với tâm bị dục tham (kàmaràgam) ám ảnh.

4) Này các Tỷ-kheo, đầy đủ ba pháp này, người đàn bà phần lớn sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

(Anuruddha I. Phần đen)

1) ...

2) Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuruddha bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, con thấy người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Bạch Thế Tôn, nữ nhân, do đầy đủ những pháp gì, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?

5. V. Phẫn Nộ (S.iv,240)

1-2-3) ...

4) -- Ðầy đủ năm pháp, này Anuruddha, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là năm?

5) Ðó là bất tín, là vô tàm, là vô quý, là phẫn nộ, là ác tuệ.

6) Ðầy đủ năm pháp này, này Anuruddha, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

6. VI. Có Hận (Upanàhi) (S.iv,241)

...(như kinh trên, chỉ thế có hận vào pháp thứ tư) ...

7. VII. Tật Ðố (Issukii) (S.iv,241)

...(như kinh trên, chỉ thế có tật đố vào pháp thứ tư) ...

8. VIII. Do Xan Tham (Macharena) (S.iv,241)

...(như kinh trên, chỉ thế xan tham vào pháp thứ tư) ...

9. IX. Phạm Dâm (Aticari) (S.iv,242)

...(như kinh trên, chỉ thế phạm dâm vào pháp thứ tư) ...

10. X. Ác Giới (S.iv,242)

...(như kinh trên, chỉ thế ác giới vào pháp thứ tư) ...

11. XI. Ít Nghe (S.iv,242)

...(như kinh trên, chỉ thế ít nghe vào pháp thứ tư) ...

12. XII. Biếng Nhác (Kusìta) (S.iv,242)

...(như kinh trên, chỉ thế biếng nhác vào pháp thứ tư) ...

13. XIII. Thất Niệm (Mutthassati) (S.iv,242)

...(như kinh trên, chỉ thế thất niệm vào pháp thứ tư) ...

14. XIV. Năm Cấm (Pancaveram) (S.iv,243)

1-2-3) ...

4) -- Ðầy đủ năm pháp, này Anuruddha, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là năm?

5) Ðó là sát sanh, là lấy của không cho, là tà hạnh trong các dục, là nói láo, là say đắm rượu men, rượu nấu.

6) Ðầy đủ năm pháp này, này Anuruddha, người đàn bà sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

 -ooOoo-