|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 31 tháng 07, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH
VĂN
Kinh Không Phẫn Nộ
294. atha kho āyasmā anuruddho yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho āyasmā anuruddho
bhagavantaṃ etadavoca — “idhāhaṃ, bhante, mātugāmaṃ passāmi
dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā
paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjantaṃ. katīhi nu kho,
bhante, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā
sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti?
“pañcahi kho, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. katamehi
pañcahi? saddho ca hoti, hirimā ca hoti, ottappī ca hoti,
akkodhano ca hoti, paññavā ca hoti — imehi kho, anuruddha,
pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā
sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti. paṭhamaṃ.
Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha đi đến Thế Tôn... và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh và vượt trội loài
người, con thấy những người nữ, sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh về nhàn cảnh, thiên giới.
Vậy bạch Thế Tôn, khi người nữ có bao nhiêu đặc tính thì được
sanh về như vậy?”
[Thế Tôn dạy:]
“Này Anuruddha, khi người nữ có năm đặc tính, thì sau khi thân
hoại mạng chung, nàng được tái sinh vào nhàn cảnh, thiên giới..
Năm đặc tính ấy là gì?
“Có lòng tin, biết hổ thẹn, sợ điều ác, không sân hận, và có trí
tuệ.
Kinh Không Hiểm Ác ..v..v…
295. “pañcahi, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. katamehi
pañcahi? saddho ca hoti, hirimā ca hoti, ottappī ca hoti,
anupanāhī ca hoti, paññavā ca hoti — imehi kho, anuruddha,
pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā
sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti. dutiyaṃ.
296. “pañcahi, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. katamehi
pañcahi? saddho ca hoti, hirimā ca hoti, ottappī ca hoti,
anissukī ca hoti, paññavā ca hoti — imehi kho, anuruddha,
pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā
sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti. tatiyaṃ.
“Này Anuruddha, khi người nữ có những đặc tính, thì sau khi thân
hoại mạng chung được sanh về nhàn cảnh, thiên giới. Những đặc
tính ấy là gì?
“Có lòng tin, biết hổ thẹn, sợ điều ác, không có ác tâm,..
Khi người nữ có những đặc tính này, được tái sinh vào nhàn cảnh,
thiên giới.”
24. Kinh Giữ Năm Giới
303. “pañcahi, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. katamehi
pañcahi? pāṇātipātā paṭivirato ca hoti, adinnādānā paṭivirato ca
hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato ca hoti, musāvādā paṭivirato
ca hoti, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā paṭivirato ca hoti — imehi
kho, anuruddha, pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti. dasamaṃ.
“Này Anuruddha, khi người nữ có năm giới hạnh, thì sau khi thân
hoại mạng chung, được sanh vào nhàn cảnh, thiên giới. Năm giới
ấy là gì?
“Từ bỏ sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và
không uống rượu, các chất say làm tâm cuồng loạn. Khi người nữ
giữ gìn năm giới hạnh này, sau khi chết được tái sinh vào nhàn
cảnh, thiên giới.”
Chú Thích
Những bài kinh nầy cũng được tìm thấy trong “Tương Ưng
Anuruddha” nên được đặt là “Phẩm Trùng Lặp” phần “Pháp Trắng”
hay những điều tốt đẹp.
Các pháp trong bài kinh giữa là sự gom chung tám bài kinh 295
đến 302 mang tên riêng từng pháp.
Sở dĩ Đức Phật khi dạy về quả lành của các thiện pháp là“sau khi
thân hoại mạng chung được sanh về nhàn cảnh, thiên giới.” do trả
lời câu hỏi của Tôn giả Anuruddha khi vị nầy dùng thiên nhãn soi
thấy những thiên nữ hay nữ nhân trong cảnh giới an lạc.
Có những pháp nầy được hiểu là cách nói tương đối. Thí dụ không
hiềm hận nghĩa là trong đời sống hằng ngày thường giữ tâm hoà ái
chứ không phải hoàn toàn đoạn tận sân hân như bậc thánh a na
hàm.
Mặc dù những thiện pháp nầy khiến người nữ sanh về cõi an lạc
nhưng không nên hiểu là chỉ có ở nữ giới.
Các bài kinh từ số 283 đến 303 có cùng bản sớ giải.
Sớ Giải
283-303. catutthe maccheramalapariyuṭṭhitenāti
pubbaṇhasamayasmiñhi
mātugāmo khīradadhisaṅgopanarandhanapacanādīni
kātuṃ
āraddho, puttakehipi yāciyamāno kiñci dātuṃ
na icchati. tenetaṃ
vuttaṃ
“pubbaṇhasamayaṃ
maccheramalapariyuṭṭhitena
cetasā”ti. majjhanhikasamaye pana mātugāmo kodhābhibhūtova
hoti, antoghare kalahaṃ
alabhanto paṭivissakagharampi
gantvā kalahaṃ
karoti, sāmikassa ca
ṭhitanisinnaṭṭhānāni
vilokento vicarati. tena vuttaṃ
“majjhanhikasamayaṃ
issāpariyuṭṭhitena
cetasā”ti. sāyanhe panassā asaddhammapaṭisevanāya
cittaṃ
namati. tena vuttaṃ
“sāyanhasamayaṃ
kāmarāgapariyuṭṭhitena
cetasā”ti. pañcamādīni uttānatthāneva.
283–303.
Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), câu “do tâm bị ô nhiễm bởi
cấu uế của xan tham (macchera)” được giải thích như sau
"maccheramalapariyuṭṭhitenāti" – nghĩa là “do tâm bị nhiễm ô
bởi cấu uế của lòng xan tham.”
Vào buổi sáng sớm, người phụ nữ bắt đầu các việc như vắt
sữa, chế biến sữa chua, chăm sóc bò sữa, nấu ăn v.v., nhưng
dù bị con mình xin xỏ cũng không muốn cho bất cứ thứ gì. Do
vậy mới có câu:“Vào buổi sáng, với tâm bị ô nhiễm bởi xan
tham.”
Vào buổi trưa, người phụ nữ bị sân giận khống chế, nếu trong
nhà không có ai để gây gổ, thì sẽ đến nhà hàng xóm để tranh
cãi, thậm chí còn đi quanh dò xét chỗ đứng ngồi của chồng
mình. Do vậy mới có câu: “Vào buổi trưa, với tâm bị chi phối
bởi sự ganh tỵ.”
Còn vào buổi chiều, tâm của người phụ nữ hướng về việc thực
hành những pháp bất thiện, cụ thể là dục ái và tham luyến.
Do vậy mới có câu:“Vào buổi chiều, với tâm bị chi phối bởi
tham ái dục lạc.”
Từ phần thứ năm trở đi thì nghĩa rõ ràng và dễ hiểu, không
cần giải thích thêm (uttānattha = rõ ràng, dễ hiểu).
_ ____________________________________________________
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tương Ưng Nữ Nhân
-ooOoo-
Phần Hai - Phẩm Trung Lược
(Anuruddha II. Phần trắng)
1) ...
2) Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi một bên, Tôn giả Anuruddha bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, con
thấy người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào
thiện thú, thiên giới, thế giới nầy. Ðầy đủ bao nhiêu pháp, bạch
Thế Tôn, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
lên thiện thú, thiên giới, thế giới này?
15. I. Không Phẫn Nộ (S.iv,243)
1-2-3) ...
4) -- Ðầy đủ năm pháp, này Anuruddha, người đàn bà, sau khi thân
hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới
này. Thế nào là năm?
5) Có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý, không phẫn nộ, có trí
tuệ.
6) Ðầy đủ năm pháp này, này Anuruddha, một người đàn bà, sau khi
thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi
đời này.
16-24. II-X. (S.iv,245)
(Các đoạn này trái với đoạn 6-14 trước, như không có hận, không
tật đố, không xan tham, không phạm dâm, không ác giới, không ít
nghe, không biếng nhác, không thất niệm, không có năm cấm) -ooOoo- |