BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 31 tháng 07, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Nữ Nhân- Phẩm Trùng Lập II- SN. 35. 294, 295, 296. Bài 469. NHỮNG THIỆN PHÁP KHIẾN NỮ NHÂN SANH THIÊN - Kinh Không Phẫn Nộ (Akkodhanasuttaṃ) Kinh Không Hiểm Ác (anupanāhīsuttaṃ),,,,, Kinh Năm Giới (pañcasīlasuttaṃ) .
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-469.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngSanh vào cảnh giới an lạc sau khi chết không đến từ lời cầu nguyện suông mà từ thiện hạnh đã làm. Thiện hạnh được làm nên bởi thiện tâm. Những tố chất nội tại luôn đóng vai trò quan trọng quyết định cho hướng đi đời nầy và đời sau như câu Phật ngôn “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu với tâm thanh tịnh nói năng hay hành động thì hạnh phúc sẽ theo sau như bóng không rời hình”. Sau hết và trên hết, giữ tâm không bị uế nhiễm bởi ác pháp là nền tảng của đời sống cao đẹp.

 KINH VĂN

Kinh Không Phẫn Nộ

294. atha kho āyasmā anuruddho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho āyasmā anuruddho bhagavantaṃ etadavoca — “idhāhaṃ, bhante, mātugāmaṃ passāmi dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjantaṃ. katīhi nu kho, bhante, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti?

“pañcahi kho, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. katamehi pañcahi? saddho ca hoti, hirimā ca hoti, ottappī ca hoti, akkodhano ca hoti, paññavā ca hoti — imehi kho, anuruddha, pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti. paṭhamaṃ.

Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha đi đến Thế Tôn... và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh và vượt trội loài người, con thấy những người nữ, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về nhàn cảnh, thiên giới. Vậy bạch Thế Tôn, khi người nữ có bao nhiêu đặc tính thì được sanh về như vậy?”

[Thế Tôn dạy:]

“Này Anuruddha, khi người nữ có năm đặc tính, thì sau khi thân hoại mạng chung, nàng được tái sinh vào nhàn cảnh, thiên giới.. Năm đặc tính ấy là gì?

“Có lòng tin, biết hổ thẹn, sợ điều ác, không sân hận, và có trí tuệ.
Khi người nữ có năm đặc tính này, nàng được sanh về nhàn cảnh, thiên giới.” [244]


Kinh Không Hiểm Ác ..v..v…

295. “pañcahi, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. katamehi pañcahi? saddho ca hoti, hirimā ca hoti, ottappī ca hoti, anupanāhī ca hoti, paññavā ca hoti — imehi kho, anuruddha, pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti. dutiyaṃ.

296. “pañcahi, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. katamehi pañcahi? saddho ca hoti, hirimā ca hoti, ottappī ca hoti, anissukī ca hoti, paññavā ca hoti — imehi kho, anuruddha, pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti. tatiyaṃ.

“Này Anuruddha, khi người nữ có những đặc tính, thì sau khi thân hoại mạng chung được sanh về nhàn cảnh, thiên giới. Những đặc tính ấy là gì?

“Có lòng tin, biết hổ thẹn, sợ điều ác, không có ác tâm,..
không ganh tỵ... không xan tham... không buông thả... có giới hạnh... có học hiểu... siêng năng... chánh niệm và có trí tuệ.

Khi người nữ có những đặc tính này, được tái sinh vào nhàn cảnh, thiên giới.”

24. Kinh Giữ Năm Giới

303. “pañcahi, anuruddha, dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati. katamehi pañcahi? pāṇātipātā paṭivirato ca hoti, adinnādānā paṭivirato ca hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato ca hoti, musāvādā paṭivirato ca hoti, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā paṭivirato ca hoti — imehi kho, anuruddha, pañcahi dhammehi samannāgato mātugāmo kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatī”ti. dasamaṃ.

“Này Anuruddha, khi người nữ có năm giới hạnh, thì sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào nhàn cảnh, thiên giới. Năm giới ấy là gì?

“Từ bỏ sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu, các chất say làm tâm cuồng loạn. Khi người nữ giữ gìn năm giới hạnh này, sau khi chết được tái sinh vào nhàn cảnh, thiên giới.”

Chú Thích

Những bài kinh nầy cũng được tìm thấy trong “Tương Ưng Anuruddha” nên được đặt là “Phẩm Trùng Lặp” phần “Pháp Trắng” hay những điều tốt đẹp.

Các pháp trong bài kinh giữa là sự gom chung tám bài kinh 295 đến 302 mang tên riêng từng pháp.

Sở dĩ Đức Phật khi dạy về quả lành của các thiện pháp là“sau khi thân hoại mạng chung được sanh về nhàn cảnh, thiên giới.” do trả lời câu hỏi của Tôn giả Anuruddha khi vị nầy dùng thiên nhãn soi thấy những thiên nữ hay nữ nhân trong cảnh giới an lạc.

Có những pháp nầy được hiểu là cách nói tương đối. Thí dụ không hiềm hận nghĩa là trong đời sống hằng ngày thường giữ tâm hoà ái chứ không phải hoàn toàn đoạn tận sân hân như bậc thánh a na hàm.

Mặc dù những thiện pháp nầy khiến người nữ sanh về cõi an lạc nhưng không nên hiểu là chỉ có ở nữ giới.

Các bài kinh từ số 283 đến 303 có cùng bản sớ giải.

Sớ Giải

283-303. catutthe maccheramalapariyuṭṭhitenāti pubbaṇhasamayasmiñhi mātugāmo khīradadhisaṅgopanarandhanapacanādīni kātuṃ āraddho, puttakehipi yāciyamāno kiñci dātuṃ na icchati. tenetaṃ vuttaṃ “pubbaṇhasamayaṃ maccheramalapariyuṭṭhitena cetasā”ti. majjhanhikasamaye pana mātugāmo kodhābhibhūtova hoti, antoghare kalahaṃ alabhanto paṭivissakagharampi gantvā kalahaṃ karoti, sāmikassa ca ṭhitanisinnaṭṭhānāni vilokento vicarati. tena vuttaṃ “majjhanhikasamayaṃ issāpariyuṭṭhitena cetasā”ti. sāyanhe panassā asaddhammapaṭisevanāya cittaṃ namati. tena vuttaṃ “sāyanhasamayaṃ kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā”ti. pañcamādīni uttānatthāneva.

283–303. Trong bài kinh thứ tư (Catuttha), câu “do tâm bị ô nhiễm bởi cấu uế của xan tham (macchera)” được giải thích như sau "maccheramalapariyuṭṭhitenāti" – nghĩa là “do tâm bị nhiễm ô bởi cấu uế của lòng xan tham.”

Vào buổi sáng sớm, người phụ nữ bắt đầu các việc như vắt sữa, chế biến sữa chua, chăm sóc bò sữa, nấu ăn v.v., nhưng dù bị con mình xin xỏ cũng không muốn cho bất cứ thứ gì. Do vậy mới có câu:“Vào buổi sáng, với tâm bị ô nhiễm bởi xan tham.”

Vào buổi trưa, người phụ nữ bị sân giận khống chế, nếu trong nhà không có ai để gây gổ, thì sẽ đến nhà hàng xóm để tranh cãi, thậm chí còn đi quanh dò xét chỗ đứng ngồi của chồng mình. Do vậy mới có câu: “Vào buổi trưa, với tâm bị chi phối bởi sự ganh tỵ.”

Còn vào buổi chiều, tâm của người phụ nữ hướng về việc thực hành những pháp bất thiện, cụ thể là dục ái và tham luyến. Do vậy mới có câu:“Vào buổi chiều, với tâm bị chi phối bởi tham ái dục lạc.”

Từ phần thứ năm trở đi thì nghĩa rõ ràng và dễ hiểu, không cần giải thích thêm (uttānattha = rõ ràng, dễ hiểu).Top of Form

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

_____________________________________________________

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Nữ Nhân

-ooOoo-

Phần Hai - Phẩm Trung Lược

(Anuruddha II. Phần trắng)

1) ...

2) Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi một bên, Tôn giả Anuruddha bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, con thấy người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, thiên giới, thế giới nầy. Ðầy đủ bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới này?

15. I. Không Phẫn Nộ (S.iv,243)

1-2-3) ...

4) -- Ðầy đủ năm pháp, này Anuruddha, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới này. Thế nào là năm?

5) Có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý, không phẫn nộ, có trí tuệ.

6) Ðầy đủ năm pháp này, này Anuruddha, một người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

16-24. II-X. (S.iv,245)

(Các đoạn này trái với đoạn 6-14 trước, như không có hận, không tật đố, không xan tham, không phạm dâm, không ác giới, không ít nghe, không biếng nhác, không thất niệm, không có năm cấm)

-ooOoo-