BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 15 tháng 07, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 56. Tương Ưng Diệu Đế- Phẩm Vực Thẳm. SN 56. 43.
BÀI 704. CÁI KHỔ MỘT KIẾP QUÁ NHỎ SO VỚI CUỘC TRẦM LUÂN -

Kinh Đại Hoả Ngục (Mahāpariḷāhasuttaṃ) .
  http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-704.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Có một nghịch lý  mà hầu hết chúng ta đều mắc phải: Chúng ta sợ những viễn cảnh hãi hùng xa xôi như địa ngục, nhưng lại hoàn toàn vô cảm trước ngọn lửa đang âm thầm nướng chín tâm hồn mình mỗi ngày. Trong bài kinh Đại Hỏa Hoạn, Đức Phật đã khằng định mạnh mẽ vào tâm lý an phận đó. Ngài không dùng địa ngục để hù dọa, mà dùng nó làm một hệ quy chiếu: Có một thứ còn kinh khủng hơn cả cái lò lửa tồi tệ nhất của vũ trụ, đó là sự mù quáng của chính chúng ta.

Hàng ngày, chúng ta điên cuồng lao vào vòng xoáy của tiền tài, danh vọng, và những thú vui tạm bợ. Chúng ta tưởng mình đang hưởng thụ cuộc sống (hoan hỷ trong các "hành"), nhưng thực chất là đang tự tay gom củi để đốt cháy chính mình. Hãy nhìn cách chúng ta giận dữ khi bị chỉ trích, lo âu khi không bằng bạn bằng bè, hay đau khổ khi mất đi một điểm tựa – đó chẳng phải là ngọn lửa của "sầu, bi, khổ, ưu, não" đang cháy ngùn ngụt đó sao? Bi kịch lớn nhất của con người không phải là phải chịu khổ, mà là chúng ta chịu khổ một cách vô thức, rồi lại tiếp tục dùng chính lòng tham và sự oán hận để châm thêm lửa cho những kiếp sống tiếp theo.

Kinh Văn

1113. “atthi, bhikkhave, mahāpariḷāho nāma nirayo. tattha yaṃ kiñci cakkhunā rūpaṃ passati, aniṭṭharūpaññeva passati no iṭṭharūpaṃ; akantarūpaññeva passati no kantarūpaṃ; amanāparūpaññeva passati no manāparūpaṃ. yaṃ kiñci sotena saddaṃ suṇāti ... pe ... yaṃ kiñci kāyena phoṭṭhabbaṃ phusati ... pe ... yaṃ kiñci manasā dhammaṃ vijānāti, aniṭṭharūpaññeva vijānāti no iṭṭharūpaṃ; akantarūpaññeva vijānāti no kantarūpaṃ; amanāparūpaññeva vijānāti no manāparūpan”ti.
evaṃ vutte aññataro bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “mahā vata so, bhante, pariḷāho, sumahā vata so, bhante, pariḷāho! atthi nu kho, bhante, etamhā pariḷāhā añño pariḷāho mahantataro ceva bhayānakataro cā”ti? “atthi kho, bhikkhu, etamhā pariḷāhā añño pariḷāho mahantataro ca bhayānakataro cā”ti.
“katamo pana, bhante, etamhā pariḷāhā añño pariḷāho mahantataro ca bhayānakataro cā”ti? “ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṃ dukkhan’ti yathābhūtaṃ nappajānanti ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ nappajānanti, te jātisaṃvattanikesu saṅkhāresu abhiramanti ... pe ... abhiratā ... pe ... abhisaṅkharonti ... pe ... abhisaṅkharitvā jātipariḷāhenapi pariḍayhanti, jarāpariḷāhenapi pariḍayhanti, maraṇapariḷāhenapi pariḍayhanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsapariḷāhenapi pariḍayhanti. te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi”.
“ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṃ dukkhan’ti yathābhūtaṃ pajānanti ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānanti. te jātisaṃvattanikesu saṅkhāresu nābhiramanti ... pe ... anabhiratā ... pe ... nābhisaṅkharonti ... pe ... anabhisaṅkharitvā jātipariḷāhenapi na pariḍayhanti, jarāpariḷāhenapi na pariḍayhanti, maraṇapariḷāhenapi na pariḍayhanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsapariḷāhenapi na pariḍayhanti. te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi”.
“tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṃ dukkhan’ti yogo karaṇīyo ... pe ... ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti. tatiyaṃ.

[Đức Thế Tôn dạy các vị Tỳ khưu:]

“Này các Tỳ khưu, có một địa ngục tên là Đại Hỏa Ngục. Ở nơi ấy, bất cứ sắc nào được mắt nhìn thấy đều hoàn toàn đáng chán, không hề đáng ưa; đều xấu ác, không hề đẹp đẽ; đều nghịch ý, không hề vừa lòng. Cũng vậy, bất cứ âm thanh nào tai nghe, mùi nào mũi ngửi, vị nào lưỡi nếm, xúc nào thân cảm nhận, hay pháp nào ý nhận biết, tất cả đều đáng chán, không hề đáng ưa; đều xấu ác, không hề đẹp đẽ; đều nghịch ý, không hề vừa lòng.”

Khi Đức Thế Tôn dạy như vậy, có một vị Tỳ khưu bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, ngọn lửa ấy thật kinh khủng! Thật vô cùng đáng sợ! Nhưng bạch Thế Tôn, có còn ngọn lửa nào còn đáng sợ và kinh hoàng hơn ngọn lửa ấy nữa chăng?”

Đức Phật dạy:

“Có, này Tỳ khưu.”

Vị Tỳ khưu lại bạch:

“Bạch Thế Tôn, đó là ngọn lửa nào còn đáng sợ và kinh hoàng hơn cả ngọn lửa ấy?”

Đức Thế Tôn dạy:

“Này Tỳ khưu, có những vị sa-môn và bà-la-môn không như thật rõ biết:

‘Đây là Khổ.’

‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’

‘Đây là sự đoạn diệt của Khổ.’

‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của Khổ.’

Vì không thấy biết như thật nên họ say đắm các hành đưa đến tái sinh, say đắm các hành đưa đến già, đưa đến chết, đưa đến sầu, bi, khổ, ưu và não.

Do say đắm các hành ấy, họ tiếp tục tạo tác những hành đưa đến tái sinh, tạo tác những hành đưa đến già, tạo tác những hành đưa đến chết, tạo tác những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu và não.

Vì đã tạo nên các hành ấy, họ bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của sinh, bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của già, bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của chết, bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của sầu, bi, khổ, ưu và não.

Họ không được giải thoát khỏi sinh, già và chết; không được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu và não; không được giải thoát khỏi toàn bộ khổ đau — Ta tuyên bố như vậy.

“Nhưng này Tỳ khưu, có những vị sa-môn và bà-la-môn thấy biết đúng như thật:

‘Đây là Khổ.’

‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’

‘Đây là sự đoạn diệt của Khổ.’

‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của Khổ.’

Vì thấy biết như thật nên họ không còn say đắm các hành đưa đến tái sinh, không say đắm các hành đưa đến già, không say đắm các hành đưa đến chết, cũng không say đắm các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu và não.

Không còn say đắm nên họ không tạo tác các hành đưa đến tái sinh, không tạo tác các hành đưa đến già, không tạo tác các hành đưa đến chết, cũng không tạo tác các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu và não.

Không tạo tác các hành ấy nên họ không còn bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của sinh, không bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của già, không bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của chết, cũng không bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của sầu, bi, khổ, ưu và não.

Họ được giải thoát khỏi sinh, già và chết; giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu và não; giải thoát khỏi toàn bộ khổ đau — Ta tuyên bố như vậy.

Rồi Đức Thế Tôn kết luận:

“Vì vậy, này các Tỳ khưu, hãy tinh cần nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là Khổ.’

Hãy tinh cần nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’

Hãy tinh cần nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là sự đoạn diệt của Khổ.’

Hãy tinh cần nỗ lực để thấu hiểu:

‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của Khổ.’”

Chú Thích

Trong bài kinh này, Đức Phật đưa ra một sự so sánh cực kỳ mạnh mẽ để thức tỉnh chúng ta:

  • Địa ngục Đại Hỏa Hoạn: Nơi mà mọi giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) chỉ tiếp xúc với những điều tồi tệ, đau đớn nhất.
  • Ngọn lửa đáng sợ hơn địa ngục: Đó chính là sự vô minh (không hiểu rõ về Tứ Diệu Đế: Đâu là khổ và làm sao để hết khổ).

Đức Phật khẳng định: Sự thiếu hiểu biết về bản chất cuộc sống còn đáng sợ hơn cả hình phạt đau đớn nhất ở địa ngục, vì nó thiêu đốt chúng ta từ kiếp này sang kiếp khác mà không có ngày kết thúc.

Để hiểu tại sao việc "đắm chìm trong các hành" lại đáng sợ như một ngọn lửa thiêu đốt, hãy nhìn vào ví dụ  về Cơn nghiện Mạng xã hội hoặc Mua sắm (Nghiện ngập tinh thần)

  • Giai đoạn "Hoan hỷ trong các hành": Bạn lướt điện thoại hoặc mua sắm điên cuồng để tìm kiếm niềm vui. Tâm trí bạn liên tục thúc giục: "Phải mua cái này", "Phải xem cái kia" (Đây chính là đang tạo ra các "hành").
  • Giai đoạn "Bị thiêu đốt": Khi không có tiền mua sắm, hoặc khi thấy người khác giàu có hơn trên mạng, bạn bắt đầu rơi vào trạng thái ghen tị, lo âu, tự ti, và dằn vặt. Đó chính là ngọn lửa của "sầu, bi, khổ, ưu, não" đang âm thầm thiêu đốt tâm trí bạn ngay trong kiếp sống này.

Ngọn lửa địa ngục chỉ thiêu đốt phần xác, còn ngọn lửa của sự vô minh và tham ái thiêu đốt toàn bộ bình yên trong tâm hồn bạn.

Bài học ứng dụng cho cuộc sống không bắt chúng ta phải trốn chạy cuộc đời, mà đưa ra giải pháp:

1.    Nhìn thẳng vào sự thật (Nhận diện Khổ): Khi gặp chuyện bất như ý (áp lực công việc, rạn nứt tình cảm), thay vì trốn tránh bằng rượu chè, game hay mua sắm, hãy tỉnh táo nhìn nhận: "À, đây là một dạng đau khổ của cuộc sống".

2.    Ngừng đổ thêm dầu vào lửa: Không tiếp tục nuôi dưỡng những suy nghĩ tiêu cực, oán hận hay tham lam. Khi bạn ngừng tạo ra các "hành" tiêu cực, ngọn lửa đau khổ sẽ tự khắc hết củi và tắt lịm.

3.  Nỗ lực thực hành (Tinh tấn): Luôn nhắc nhở bản thân sống tỉnh thức, tìm kiếm những giá trị bình an đích thực bên trong thay vì chạy theo những ảo ảnh bên ngoài.

Sớ Giải

1112-13. dutiye paṭibhānakūṭoti eko mahanto pabbatasadiso mariyādapāsāṇo. tatiye aniṭṭharūpanti aniṭṭhasabhāvaṃ.

Dutiye paṭibhānakūṭoti...: Trong bài kinh thứ hai, từ "Đỉnh Paṭibhāna" (Paṭibhānakūṭa) chỉ cho một tảng đá ranh giới khổng lồ, sừng sững như một ngọn núi lớn.

Tatiye aniṭṭharūpanti...: Trong bài kinh thứ ba, từ "hình sắc không đáng ưa thích" (aniṭṭharūpa) nghĩa là bản tính không đáng mong cầu, không vừa ý (aniṭṭhasabhāva).

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Sự Thật (a)

-ooOoo-

V. Phẩm Vực Thẳm

43.III. Nhiệt Não (S.v,450)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có một địa ngục tên là Ðại nhiệt não, tại đấy con mắt thấy sắc gì, chỉ thấy bất khả lạc sắc, không phải khả lạc sắc, chỉ thấy bất khả hỷ sắc, không phải khả hỷ sắc, chỉ thấy bất khả ý sắc, không phải khả ý sắc. Tai có nghe tiếng gì... mũi có ngửi hương gì... lưỡi có nếm vị gì... thân có cảm xúc gì... ý có nhận thức pháp gì, chỉ nhận thức bất khả lạc pháp, không phải khả lạc pháp, chỉ nhận thức bất khả hỷ pháp, không phải khả hỷ pháp, chỉ nhận thức bất khả ý pháp, không phải khả ý pháp.

3) Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, thật lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, thật khéo to lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, không biết có nhiệt não nào khác nữa, còn lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?

-- Này Tỷ-kheo, có nhiệt não khác còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy.

-- Bạch Thế Tôn, nhiệt não khác ấy như thế nào, còn lớn hơn, và đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?

4-6) ... (như đoạn số 4,5,6 của kinh trước, có một thay đổi trong kinh trước, có nói: "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não". Còn kinh này nói: " Họ bị đốt cháy trong nhiệt não sanh... già... chết... sầu, bi, khổ, ưu, não " với những thay đổi cần thiết khác).

44. IV. Nhà Có Nóc Nhọn (S.v,452)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra.

3) Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không xây dựng tầng dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà", sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra.

4) Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi xây dựng tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà"; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau"; sự kiện này có xảy ra.

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

45. V. Chiggala (1) (Lỗ khóa hay sợi lông) (S.v,453)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

2) Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực.

3) Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào.

4) Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng, từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần nào".

5) Rồi Tôn giả Ananda, sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

6) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi vào Vesàli để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy rất nhiều thiếu niên Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào. Thấy vậy con nghĩ như sau: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này nối tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào".

7) -- Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái gì khó làm hơn hay cái gì khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần?

-- Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.

8) -- Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái gì khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Khổ"... như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Con Ðường đưa đến sự Khổ diệt".

9) Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

46. VI. Hắc Ám (S.v,454)

1) ...

2) -- Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng không hiện ra.

3) Ðược nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

-- Này Tỷ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy.

-- Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

4-6) ... (như đoạn số 4, số 5, số 6 kinh 42 có một thay đổi. Trong kinh trước có nói: "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn kinh này thời nói: " Họ rơi vào tối tăm sanh, tối tăm già, tối tăm chết, tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não ").

47. VII. Lỗ Khóa (2) (S.v,455)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?

-- Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.

4) -- Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao?

5) Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?

6) Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

48. VIII. Lỗ Khóa (3) (S.v,456)

1) ...

2)-- Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng. Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?

-- Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!

4) -- Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời.

5) Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời.

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm... (xem đoạn số 7, kinh trước).

49. IX. Núi Sineru (1) (Tu Di) (S.v,457)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đặt trên núi Sineru, vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa Sineru?

-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru. Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy, chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.

4) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

50. X. Núi Sineru (2) (Tu Di) (S.v,458)

1) ...

2) ... Ví như, này các Tỷ-kheo, núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại các viên sạn, lớn bằng bảy hạt đậu.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, núi chúa Sineru ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn hay các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu còn tồn tại?

-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn. Và ít hơn là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được còn lại, không thể đem ước tính, không thể đem so sánh và không thể bằng một phần nhỏ, nếu so sánh các viên sạn lớn, bằng bảy hạt đậu còn lại với núi chúa Sineru đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu mòn.

4) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, được tiêu mòn này; và rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn, tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo... (như đoạn số 5, kinh trước) ...