|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 15 tháng 07, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 704. CÁI KHỔ MỘT KIẾP QUÁ NHỎ SO VỚI CUỘC TRẦM LUÂN - Kinh Đại Hoả Ngục (Mahāpariḷāhasuttaṃ) .
Có một nghịch lý mà hầu hết
chúng ta đều mắc phải: Chúng ta sợ những viễn cảnh hãi hùng xa
xôi như địa ngục, nhưng lại hoàn toàn vô cảm trước ngọn lửa đang
âm thầm nướng chín tâm hồn mình mỗi ngày. Trong bài kinh Đại Hỏa
Hoạn, Đức Phật đã khằng định mạnh mẽ vào tâm lý an phận đó. Ngài
không dùng địa ngục để hù dọa, mà dùng nó làm một hệ quy chiếu:
Có một thứ còn kinh khủng hơn cả cái lò lửa tồi tệ nhất của vũ
trụ, đó là sự mù quáng của chính chúng ta.Hàng ngày, chúng ta điên cuồng lao vào vòng xoáy của tiền tài, danh vọng, và những thú vui tạm bợ. Chúng ta tưởng mình đang hưởng thụ cuộc sống (hoan hỷ trong các "hành"), nhưng thực chất là đang tự tay gom củi để đốt cháy chính mình. Hãy nhìn cách chúng ta giận dữ khi bị chỉ trích, lo âu khi không bằng bạn bằng bè, hay đau khổ khi mất đi một điểm tựa – đó chẳng phải là ngọn lửa của "sầu, bi, khổ, ưu, não" đang cháy ngùn ngụt đó sao? Bi kịch lớn nhất của con người không phải là phải chịu khổ, mà là chúng ta chịu khổ một cách vô thức, rồi lại tiếp tục dùng chính lòng tham và sự oán hận để châm thêm lửa cho những kiếp sống tiếp theo.
Kinh Văn
1113. “atthi, bhikkhave, mahāpariḷāho nāma nirayo. tattha yaṃ kiñci
cakkhunā rūpaṃ passati, aniṭṭharūpaññeva passati no iṭṭharūpaṃ;
akantarūpaññeva passati no kantarūpaṃ; amanāparūpaññeva passati
no manāparūpaṃ. yaṃ kiñci sotena saddaṃ suṇāti ... pe ... yaṃ
kiñci kāyena phoṭṭhabbaṃ phusati ... pe ... yaṃ kiñci manasā
dhammaṃ vijānāti, aniṭṭharūpaññeva vijānāti no iṭṭharūpaṃ;
akantarūpaññeva vijānāti no kantarūpaṃ; amanāparūpaññeva
vijānāti no manāparūpan”ti.
[Đức Thế Tôn dạy các vị Tỳ khưu:]
“Này các Tỳ khưu, có một địa ngục tên là Đại Hỏa Ngục. Ở nơi ấy, bất cứ
sắc nào được mắt nhìn thấy đều hoàn toàn đáng chán, không hề
đáng ưa; đều xấu ác, không hề đẹp đẽ; đều nghịch ý, không hề vừa
lòng. Cũng vậy, bất cứ âm thanh nào tai nghe, mùi nào mũi ngửi,
vị nào lưỡi nếm, xúc nào thân cảm nhận, hay pháp nào ý nhận
biết, tất cả đều đáng chán, không hề đáng ưa; đều xấu ác, không
hề đẹp đẽ; đều nghịch ý, không hề vừa lòng.”
Khi Đức Thế Tôn dạy như vậy, có một vị Tỳ khưu bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, ngọn lửa ấy thật kinh khủng! Thật vô cùng đáng sợ! Nhưng
bạch Thế Tôn, có còn ngọn lửa nào còn đáng sợ và kinh hoàng hơn
ngọn lửa ấy nữa chăng?”
Đức Phật dạy:
“Có, này Tỳ khưu.”
Vị Tỳ khưu lại bạch:
“Bạch Thế Tôn, đó là ngọn lửa nào còn đáng sợ và kinh hoàng hơn cả ngọn
lửa ấy?”
Đức Thế Tôn dạy:
“Này Tỳ khưu, có những vị sa-môn và bà-la-môn không như thật rõ biết:
‘Đây là Khổ.’
‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’
‘Đây là sự đoạn diệt của Khổ.’
‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của Khổ.’
Vì không thấy biết như thật nên họ say đắm các hành đưa đến tái sinh, say
đắm các hành đưa đến già, đưa đến chết, đưa đến sầu, bi, khổ, ưu
và não.
Do say đắm các hành ấy, họ tiếp tục tạo tác những hành đưa đến tái sinh,
tạo tác những hành đưa đến già, tạo tác những hành đưa đến chết,
tạo tác những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu và não.
Vì đã tạo nên các hành ấy, họ bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của sinh, bị thiêu
đốt bởi ngọn lửa của già, bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của chết, bị
thiêu đốt bởi ngọn lửa của sầu, bi, khổ, ưu và não.
Họ không được giải thoát khỏi sinh, già và chết; không được giải thoát
khỏi sầu, bi, khổ, ưu và não; không được giải thoát khỏi toàn bộ
khổ đau — Ta tuyên bố như vậy.
“Nhưng này Tỳ khưu, có những vị sa-môn và bà-la-môn thấy biết đúng như
thật:
‘Đây là Khổ.’
‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’
‘Đây là sự đoạn diệt của Khổ.’
‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của Khổ.’
Vì thấy biết như thật nên họ không còn say đắm các hành đưa đến tái sinh,
không say đắm các hành đưa đến già, không say đắm các hành đưa
đến chết, cũng không say đắm các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu
và não.
Không còn say đắm nên họ không tạo tác các hành đưa đến tái sinh, không
tạo tác các hành đưa đến già, không tạo tác các hành đưa đến
chết, cũng không tạo tác các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu và
não.
Không tạo tác các hành ấy nên họ không còn bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của
sinh, không bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của già, không bị thiêu
đốt bởi ngọn lửa của chết, cũng không bị thiêu đốt bởi ngọn lửa
của sầu, bi, khổ, ưu và não.
Họ được giải thoát khỏi sinh, già và chết; giải thoát khỏi sầu, bi, khổ,
ưu và não; giải thoát khỏi toàn bộ khổ đau — Ta tuyên bố như
vậy.
Rồi Đức Thế Tôn kết luận:
“Vì vậy, này các Tỳ khưu, hãy tinh cần nỗ lực để thấu hiểu:
‘Đây là Khổ.’
Hãy tinh cần nỗ lực để thấu hiểu:
‘Đây là nguyên nhân của Khổ.’
Hãy tinh cần nỗ lực để thấu hiểu:
‘Đây là sự đoạn diệt của Khổ.’
Hãy tinh cần nỗ lực để thấu hiểu:
‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của Khổ.’”
Chú Thích
Trong bài kinh này, Đức Phật đưa ra một sự so sánh cực kỳ mạnh mẽ để thức
tỉnh chúng ta:
Đức Phật khẳng định: Sự thiếu hiểu biết về bản chất cuộc sống còn đáng sợ
hơn cả hình phạt đau đớn nhất ở địa ngục, vì nó thiêu đốt chúng
ta từ kiếp này sang kiếp khác mà không có ngày kết thúc.
Để hiểu tại sao việc
"đắm chìm trong các hành" lại đáng sợ như một ngọn lửa thiêu đốt, hãy nhìn vào ví dụ
về Cơn nghiện Mạng xã hội hoặc Mua sắm (Nghiện ngập tinh
thần)
Ngọn lửa địa ngục chỉ thiêu đốt phần xác, còn ngọn lửa của sự vô minh và
tham ái thiêu đốt toàn bộ bình yên trong tâm hồn bạn.
Bài học ứng dụng cho
cuộc sống không bắt chúng ta phải trốn chạy cuộc
đời, mà đưa ra giải pháp:
1.
Nhìn thẳng vào sự thật (Nhận diện Khổ): Khi gặp chuyện bất như ý (áp lực công
việc, rạn nứt tình cảm), thay vì trốn tránh bằng rượu chè, game
hay mua sắm, hãy tỉnh táo nhìn nhận: "À, đây là một dạng đau khổ
của cuộc sống".
2.
Ngừng đổ thêm dầu vào lửa: Không tiếp tục nuôi dưỡng những suy nghĩ tiêu cực, oán hận hay tham lam.
Khi bạn ngừng tạo ra các "hành" tiêu cực, ngọn lửa đau khổ sẽ tự
khắc hết củi và tắt lịm.
3.
Nỗ lực thực hành
(Tinh tấn): Luôn nhắc nhở bản thân sống tỉnh thức,
tìm kiếm những giá trị bình an đích thực bên trong thay vì chạy
theo những ảo ảnh bên ngoài.
Sớ Giải
1112-13. dutiye paṭibhānakūṭoti eko mahanto pabbatasadiso mariyādapāsāṇo.
tatiye aniṭṭharūpanti aniṭṭhasabhāvaṃ.
Dutiye
paṭibhānakūṭoti...: Trong bài kinh thứ hai, từ "Đỉnh
Paṭibhāna" (Paṭibhānakūṭa) chỉ cho một tảng đá ranh giới
khổng lồ, sừng sững như một ngọn núi lớn.
Tatiye
aniṭṭharūpanti...: Trong bài kinh thứ ba, từ "hình sắc
không đáng ưa thích" (aniṭṭharūpa) nghĩa là bản tính không
đáng mong cầu, không vừa ý (aniṭṭhasabhāva).
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tương Ưng Sự Thật (a)
-ooOoo-
V. Phẩm Vực Thẳm
43.III. Nhiệt Não (S.v,450)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có một địa ngục tên là Ðại nhiệt não, tại
đấy con mắt thấy sắc gì, chỉ thấy bất khả lạc sắc, không phải
khả lạc sắc, chỉ thấy bất khả hỷ sắc, không phải khả hỷ sắc, chỉ
thấy bất khả ý sắc, không phải khả ý sắc. Tai có nghe tiếng
gì... mũi có ngửi hương gì... lưỡi có nếm vị gì... thân có cảm
xúc gì... ý có nhận thức pháp gì, chỉ nhận thức bất khả lạc
pháp, không phải khả lạc pháp, chỉ nhận thức bất khả hỷ pháp,
không phải khả hỷ pháp, chỉ nhận thức bất khả ý pháp, không phải
khả ý pháp.
3) Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, thật lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, thật
khéo to lớn thay, nhiệt não ấy! Bạch Thế Tôn, không biết có
nhiệt não nào khác nữa, còn lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn nhiệt
não ấy?
-- Này Tỷ-kheo, có nhiệt não khác còn đáng sợ hãi hơn nhiệt não
ấy.
-- Bạch Thế Tôn, nhiệt não khác ấy như thế nào, còn lớn hơn, và
đáng sợ hãi hơn nhiệt não ấy?
4-6) ... (như đoạn số 4,5,6 của kinh trước, có một thay đổi
trong kinh trước, có nói: "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm
già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não". Còn kinh
này nói: " Họ bị đốt cháy trong nhiệt não sanh... già... chết...
sầu, bi, khổ, ưu, não " với những thay đổi cần thiết khác).
44. IV. Nhà Có Nóc Nhọn (S.v,452)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác
ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ
diệt... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh
đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra.
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không xây dựng tầng
dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của
ngôi nhà", sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ...
Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn
tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra.
4) Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi xây dựng
tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của
ngôi nhà"; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai
nói như sau: "Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh
đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau"; sự
kiện này có xảy ra.
5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
"Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con
Ðường đưa đến Khổ diệt".
45. V. Chiggala (1)
(Lỗ khóa hay sợi lông) (S.v,453)
1) Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng
đường.
2) Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành
Vesàli để khất thực.
3) Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi
trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ,
từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai
trượt lần nào.
4) Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: "Thật có tập luyện, các thiếu
niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi
này! Vì rằng, từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi
mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần
nào".
5) Rồi Tôn giả Ananda, sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa
ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn
giả Ananda bạch Thế Tôn:
6) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát
đi vào Vesàli để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy rất nhiều
thiếu niên Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn
xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi
mũi tên khác, không sai trượt lần nào. Thấy vậy con nghĩ như
sau: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo
tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng từ xa họ bắn
xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này nối tiếp lông
đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào".
7) -- Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái gì khó làm hơn hay cái
gì khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ,
từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai
trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một
trăm lần?
-- Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là
bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.
8) -- Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái gì
khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: "Ðây là
Khổ"... như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Con Ðường đưa đến sự Khổ
diệt".
9) Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây
là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con
Ðường đưa đến Khổ diệt".
46. VI. Hắc Ám (S.v,454)
1) ...
2) -- Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra
tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời,
những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng
không hiện ra.
3) Ðược nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
-- Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn,
bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác,
còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?
-- Này Tỷ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ
hãi hơn tối tăm ấy.
-- Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn
đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?
4-6) ... (như đoạn số 4, số 5, số 6 kinh 42 có một thay đổi.
Trong kinh trước có nói: "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm
già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn kinh này
thời nói: " Họ rơi vào tối tăm sanh, tối tăm già, tối tăm chết,
tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não ").
47. VII. Lỗ Khóa (2)
(S.v,455)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có
một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm
năm nổi lên một lần.
3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi
trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ
hổng hay không?
-- Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một
thời gian dài.
4) -- Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa
mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc
gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa
xứ để được làm người trở lại. Vì sao?
5) Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp,
phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau,
và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?
6) Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về
Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
"Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con
Ðường đưa đến Khổ diệt".
48. VIII. Lỗ Khóa (3)
(S.v,456)
1) ...
2)-- Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi
nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng.
Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây
thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về
phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy,
một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.
3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi
trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có
một lỗ hổng không?
-- Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm
năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ
hổng ấy!
4) -- Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người!
Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời,
bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các
Tỷ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng
trên đời.
5) Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như
Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và
Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời.
6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm... (xem
đoạn số 7, kinh trước).
49. IX. Núi Sineru (1)
(Tu Di) (S.v,457)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đặt trên núi Sineru,
vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.
3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn,
các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa
Sineru?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru.
Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy,
chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh
được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt
các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.
4) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu
chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là
sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn
tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có
thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn
tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần
đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là
Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết:
"Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con
Ðường đưa đến Khổ diệt".
50. X. Núi Sineru (2)
(Tu Di) (S.v,458)
1) ...
2) ... Ví như, này các Tỷ-kheo, núi chúa Sineru đi đến đoạn tận,
đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại các viên sạn, lớn bằng bảy hạt
đậu.
3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn,
núi chúa Sineru ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn hay các viên
sạn lớn bằng bảy hạt đậu còn tồn tại?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Sineru đi
đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn. Và ít hơn là các viên sạn lớn
bằng bảy hạt đậu được còn lại, không thể đem ước tính, không thể
đem so sánh và không thể bằng một phần nhỏ, nếu so sánh các viên
sạn lớn, bằng bảy hạt đậu còn lại với núi chúa Sineru đã đi đến
đoạn tận, đã đi đến tiêu mòn.
4) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu
chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là
sự khổ đã được đoạn tận, được tiêu mòn này; và rất ít là khổ còn
tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có
thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn
tận, đã được tiêu mòn, tức là trong thời gian tối đa là bảy lần
đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là
Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
5) Do vậy, này các Tỷ-kheo... (như đoạn số 5, kinh trước) ...
|