BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 16 tháng 07, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 56. Tương Ưng Diệu Đế- Phẩm Vực Thẳm. SN 56. 44 đến 50.
BÀI 705. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ QUÁN TRIỆT TỨ ĐẾ -

Kinh Nóc Nhọn (Kūṭāgāra Sutta), Kinh Sợi Tóc (Vāla Sutta), Kinh Hố Đen (Andhakāra Sutta), Kinh Lỗ Xuyên Tâm I (Paṭhamachiggala Sutta), Kinh Lỗ Xuyên Tâm II (Dutiyachiggala Sutta), Kinh Núi Tu Di I (Paṭhamasineru Sutta), Kinh Núi Tu Di II (Dutiyasineru Sutta). .
  http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-705.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Bảy bài kinh này (SN 56.44–50) tuy sử dụng những hình ảnh rất khác nhau—ngôi nhà có mái nhọn, sợi tóc, bóng tối, con rùa mù, núi Tu-di—nhưng tất cả đều quy tụ về một chân lý duy nhất: Tứ Thánh Đế là trái tim của toàn bộ giáo pháp. Đức Phật không trình bày chân lý bằng những lý luận siêu hình, mà bằng những ví dụ gần gũi khiến người nghe tự mình nhận ra điều cốt yếu của đời sống.

Muốn xây nhà phải bắt đầu từ nền móng; muốn giải thoát phải bắt đầu bằng việc thấy rõ Khổ. Muốn bắn trúng đích phải luyện tập chính xác; muốn chấm dứt luân hồi phải "bắn trúng" chân lý Tứ Thánh Đế. Bóng tối đáng sợ nhất không phải là nơi mặt trời không chiếu tới, mà là tâm trí bị vô minh che phủ. Con rùa mù trăm năm mới nổi lên một lần nhắc chúng ta rằng được thân người, gặp Phật pháp và có cơ hội tu học là một phước báu hiếm có vô cùng. Núi Tu-di lại đem đến niềm hy vọng lớn lao: khi Chánh kiến đã sinh khởi, phần khổ đau còn lại chỉ nhỏ bé như vài hạt sỏi so với khối khổ vô lượng đã được đoạn trừ.

Điều đáng suy ngẫm là những bài kinh này được thuyết giảng cách đây hơn hai nghìn năm, nhưng vẫn phản ánh rất đúng con người hiện đại. Chúng ta có thể xây những tòa nhà chọc trời, đưa tàu thăm dò ra ngoài Hệ Mặt Trời, chụp được hình ảnh hố đen và khám phá vô số bí mật của vũ trụ, nhưng vẫn chưa thoát khỏi tham lam, sân hận, lo âu và sợ hãi. Khoa học giúp con người hiểu thế giới bên ngoài; còn Tứ Thánh Đế giúp con người hiểu chính mình. Một bên mở rộng giới hạn của tri thức, bên kia mở ra con đường chấm dứt khổ đau.

Đức Phật không yêu cầu chúng ta chỉ tin vào lời Ngài, mà tha thiết khuyên: "Hãy nỗ lực để hiểu: Đây là Khổ... Đây là Con Đường đưa đến sự đoạn tận Khổ." Đó không chỉ là lời dạy dành cho các vị Tỳ khưu thời Đức Phật, mà còn là lời nhắc nhở cho mỗi người hôm nay. Nếu biết trân quý thân người khó được, tận dụng cơ hội gặp Chánh pháp và kiên trì quán chiếu Tứ Thánh Đế trong từng kinh nghiệm của cuộc sống, thì mỗi bước đi, mỗi khó khăn, mỗi niềm vui hay nỗi buồn đều có thể trở thành viên gạch xây nên "ngôi nhà giải thoát". Và đó chính là giá trị vượt thời gian của bảy bài kinh này.

Kinh Văn

Kinh Nóc Nhọn (Kūṭāgāra Sutta)

“Này các Tỳ khưu, nếu có ai nói rằng: ‘Không cần phải liễu tri (thấu đạt) như thật về Thánh đế về Khổ, không cần phải liễu tri như thật về Thánh đế về Khổ tập (nguồn gốc của khổ), không cần phải liễu tri như thật về Thánh đế về Khổ diệt (sự chấm dứt khổ), không cần phải liễu tri như thật về Thánh đế về Con đường dẫn đến khổ diệt, mà tôi có thể chấm dứt hoàn toàn khổ đau’ — điều này là không thể xảy ra.

Này các Tỳ khưu, ví như có ai nói rằng: ‘Không cần xây tầng dưới của một ngôi nhà mái nhọn, tôi sẽ dựng tầng trên,’ điều này là không thể xảy ra; cũng vậy, nếu có ai nói rằng: ‘Không cần phải liễu tri như thật về Thánh đế về Khổ... mà tôi có thể chấm dứt hoàn toàn khổ đau’ — điều này là không thể xảy ra.

Nhưng này các Tỳ khưu, nếu có ai nói rằng: ‘Sau khi đã liễu tri như thật về Thánh đế về Khổ, sau khi đã liễu tri như thật về Thánh đế về Khổ tập, sau khi đã liễu tri như thật về Thánh đế về Khổ diệt, sau khi đã liễu tri như thật về Thánh đế về Con đường dẫn đến khổ diệt, tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ đau’ — điều này là có thể xảy ra.

Này các Tỳ khưu, ví như có ai nói rằng: ‘Sau khi đã xây tầng dưới của một ngôi nhà mái nhọn, tôi sẽ dựng tầng trên,’ điều này là có thể xảy ra; cũng vậy, nếu có ai nói rằng: ‘Sau khi đã liễu tri như thật về Thánh đế về Khổ... tôi sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ đau’ — điều này là có thể xảy ra.

Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Khổ.’... Một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’”

Kinh Sợi Tóc (Vāla Sutta)

Một thời, Thế Tôn đang trú tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), trong Đại Lâm, tại Giảng đường Nóc Nhọn. Khi ấy, vào buổi sáng, Tôn giả Ānanda đắp y, ôm bát và vào thành Vesālī để khất thực. Tôn giả Ānanda nhìn thấy một số thanh niên Licchavi đang luyện tập bắn cung trong thao trường. Họ bắn những mũi tên từ một khoảng cách xa xuyên qua một lỗ khóa rất nhỏ, mũi tên này nối tiếp đuôi mũi tên kia, không một phát nào trượt. Khi nhìn thấy điều này, tôn giả nghĩ: “Các thanh niên Licchavi này thật là thiện nghệ! Các thanh niên Licchavi này thật được huấn luyện kỹ càng, khi có thể bắn những mũi tên từ khoảng cách xa xuyên qua lỗ khóa rất nhỏ, mũi tên sau nối đuôi mũi tên trước, mà không hề bắn trượt.”

Sau khi Tôn giả Ānanda đi khất thực ở Vesālī và trở về, sau bữa ăn, ngài đến gần Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên, và trình lên những gì mình đã chứng kiến.

[Thế Tôn  hỏi:] “Này Ānanda, Thầy nghĩ thế nào, điều nào khó hơn và thử thách hơn: bắn những mũi tên từ khoảng cách xa xuyên qua lỗ khóa rất nhỏ, mũi tên sau nối đuôi mũi tên trước không hề trượt, hay là dùng đầu mũi tên để đâm xuyên qua ngọn của một sợi tóc đã được chẻ làm bảy phần?”

“Bạch Thế Tôn, việc dùng đầu mũi tên đâm xuyên qua ngọn của một sợi tóc chẻ làm bảy phần là khó hơn và thử thách hơn rất nhiều.”

“Nhưng này Ānanda, những ai xuyên thấu như thật rằng: ‘Đây là Khổ’...; những ai xuyên thấu như thật rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt Goldman’, thì họ đang chọc thủng một điều còn khó khăn hơn thế rất nhiều.

Do đó, này Ānanda, một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Khổ.’... Một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’”

Kinh “Hố Đen” (Andhakāra Sutta)

“Này các Tỳ khưu, có những khoảng không gian giữa các thế giới (vũ trụ), vùng tối tăm sâu thẳm và trống rỗng, nơi có thứ “hố đen” mù mịt và ảm đạm, mà ngay cả ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, dù đầy quyền năng và mãnh liệt đến thế, cũng không thể chiếu tới.”

Khi nghe điều này, một vị Tỳ khưu bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, “hố đen” đó thật quả là lớn;  “hố đen” đó thực sự vô cùng lớn. Nhưng bạch Thế Tôn, có bóng tối nào khác còn lớn hơn và đáng sợ hơn bóng tối đó không?”

“Có chứ, này Tỳ khưu.”

“Bạch Thế Tôn, bóng tối nào lại lớn hơn và đáng sợ hơn  “hố đen”  đó?”

“Này Tỳ khưu, những sa-môn và bà-la-môn nào không hiểu như thật rằng: ‘Đây là Khổ’; không hiểu như thật rằng: ‘Đây là Khổ tập’; không hiểu như thật rằng: ‘Đây là Khổ diệt’; không hiểu như thật rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt’ — họ sẽ hoan hỷ trong các hành (uẩn) dẫn đến sanh, hoan hỷ trong các hành dẫn đến già, hoan hỷ trong các hành dẫn đến chết, hoan hỷ trong các hành dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não.

Do hoan hỷ trong các hành như vậy, họ tạo tác các hành dẫn đến sanh, tạo tác các hành dẫn đến già, tạo tác các hành dẫn đến chết, tạo tác các hành dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do đã tạo tác các hành như vậy, họ rơi chìm vào bóng tối của sanh, rơi chìm vào bóng tối của già, rơi chìm vào bóng tối của chết, rơi chìm vào bóng tối của sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không thoát khỏi sanh, già và chết; không thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não; họ không thoát khỏi khổ đau.

Nhưng này Tỳ khưu, những sa-môn và bà-la-môn nào hiểu như thật rằng: ‘Đây là Khổ’ ... ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt’ — họ không hoan hỷ trong các hành dẫn đến sanh, không hoan hỷ trong các hành dẫn đến già, không hoan hỷ trong các hành dẫn đến chết, không hoan hỷ trong các hành dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não.

Do không hoan hỷ trong các hành như vậy, họ không tạo tác các hành dẫn đến sanh, không tạo tác các hành dẫn đến già, không tạo tác các hành dẫn đến chết, không tạo tác các hành dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do không tạo tác các hành như vậy, họ không rơi chìm vào bóng tối của sanh, không rơi chìm vào bóng tối của già, không rơi chìm vào bóng tối của chết, không rơi chìm vào bóng tối của sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ được giải thoát khỏi sanh, già và chết; giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não; họ giải thoát khỏi khổ đau.

Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Khổ.’... Một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’”

Kinh Lỗ Nhỏ Trên Phiến Gỗ I

“Này các Tỳ khưu, ví như có một người quăng một phiến gỗ chỉ có một lỗ độc nhất xuống đại dương bao la, và có một con rùa mù cứ mỗi trăm năm mới nổi lên mặt nước một lần. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỳ khưu, con rùa mù ấy cứ mỗi trăm năm mới nổi lên một lần, liệu có thể chui cổ được vào chiếc lỗ duy nhất của phiến gỗ đó không?”

“Bạch Thế Tôn, nếu điều đó có thể xảy ra, thì cũng phải sau một thời gian cực kỳ lâu dài.”

“Này các Tỳ khưu, con rùa mù cứ mỗi trăm năm mới nổi lên một lần ấy chui cổ vào chiếc ách gỗ một lỗ kia, ta nói rằng việc đó còn sớm xảy ra hơn là việc một kẻ ngu đần một khi đã đọa vào đọa xứ (cõi dữ) mà có thể lấy lại được thân người.

Vì lý do gì? Bởi vì ở cõi ấy, này các Tỳ khưu, không có đời sống chánh hạnh (sống theo Pháp), không có đời sống chân chánh, không có hành vi hiền thiện, không có hành vi tạo công đức. Ở nơi đó chỉ có sự ăn nuốt lẫn nhau, kẻ mạnh tàn sát kẻ yếu. Vì lý do gì? Bởi vì, này các Tỳ khưu, họ chưa từng thấy Bốn Thánh Đế. Bốn Thánh Đế là gì? Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con đường dẫn đến khổ diệt.

Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Khổ.’... Một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’”

Kinh Lỗ Nhỏ Trên Phiến Gỗ II (Dutiyachiggala Sutta)

“Này các Tỳ khưu, ví như trái đất đại địa này biến thành một biển nước mênh mông, và có một người quăng một chiếc ách gỗ có một lỗ duy nhất lên đó. Gió đông thổi nó trôi về phía tây; gió tây thổi nó trôi về phía đông; gió bắc thổi nó trôi về phía nam; gió nam lại thổi nó trôi về phía bắc. Lại có một con rùa mù cứ mỗi trăm năm mới nổi lên mặt nước một lần. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỳ khưu, con rùa mù ấy cứ mỗi trăm năm mới nổi lên một lần,  liệu có thể chui cổ vào chiếc ách gỗ một lỗ ấy không?”

“Bạch Thế Tôn, chỉ có thể do may mắn hiếm hoi mà con rùa mù ấy, cứ trăm năm nổi lên một lần, mới chui cổ được vào chiếc ách gỗ một lỗ đó.”

“Cũng vậy, này các Tỳ khưu, chính là do sự may mắn hiếm hoi mà người ta có được thân người; do sự may mắn hiếm hoi mà một bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Biến Tri xuất hiện ở đời; và do sự may mắn hiếm hoi mà Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được tỏa sáng trên thế gian.

Này các Tỳ khưu, các Thầy nay đã đắc được thân người; một bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Biến Tri đã xuất hiện ở đời; và Pháp cùng Luật do Như Lai tuyên thuyết đang tỏa sáng trên thế gian.

Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Khổ.’... Một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’”

Kinh Núi Tu Di I (Paṭhamasineru Sutta)

“Này các Tỳ khưu, ví như có một người đặt lên núi Sineru, vua của các loài núi, bảy hạt sỏi có kích thước bằng hạt đậu xanh. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỳ khưu, cái nào nhiều hơn: bảy hạt sỏi kích thước bằng hạt đậu xanh được đặt ở đó hay là núi Sineru, vua của các loài núi?”

“Bạch Thế Tôn, núi Sineru, vua của các loài núi, là nhiều hơn vô lượng. Bảy hạt sỏi kích thước bằng hạt đậu xanh kia thật là ít ỏi, không đáng kể. Khi so với núi Sineru, vua của các loài núi, bảy hạt sỏi bằng hạt đậu xanh kia không thể tính đếm, không thể đem ra so sánh, thậm chí không bằng một phần nhỏ.” [458]

“Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với một vị Thánh đệ tử, một người đã thành tựu chánh kiến, người đã chứng đắc (liễu tri), thì phần khổ đau đã được tận diệt và loại bỏ tận gốc là nhiều như núi kia, trong khi phần khổ đau còn lại là vô cùng ít ỏi. So với khối khổ đau khổng lồ trước đây đã bị tiêu trừ, phần khổ đau còn lại không thể tính đếm, không thể đem ra so sánh, thậm chí không bằng một phần nhỏ, vì vị ấy chỉ còn tối đa là bảy thân mạng (bảy kiếp sống) nữa. Vị ấy là người hiểu biết như thật rằng: ‘Đây là Khổ’... ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’

Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Khổ.’... Một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’”

Kinh Núi Tu Di II (Dutiyasineru Sutta)

“Này các Tỳ khưu, ví như núi Sineru, vua của các loài núi, bị sụp đổ và tiêu biến hoàn toàn, chỉ trừ lại bảy hạt sỏi có kích thước bằng hạt đậu xanh. Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỳ khưu, cái nào nhiều hơn: phần núi Sineru, vua của các loài núi, đã bị sụp đổ tiêu biến hay là bảy hạt sỏi kích thước bằng hạt đậu xanh còn sót lại?”

“Bạch Thế Tôn, phần núi Sineru, vua của các loài núi, đã bị sụp đổ tiêu biến là nhiều hơn vô lượng. Bảy hạt sỏi bằng hạt đậu xanh còn lại kia thật là ít ỏi, không đáng kể. So với phần núi Sineru đã bị tiêu biến, bảy hạt sỏi bằng hạt đậu xanh còn lại không thể tính đếm, không thể đem ra so sánh, thậm chí không bằng một phần nhỏ.”

“Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với một vị Thánh đệ tử, một người đã thành tựu chánh kiến, người đã chứng đắc, thì phần khổ đau đã được tận diệt và loại bỏ tận gốc là nhiều như thế, trong khi phần khổ đau còn lại là vô cùng ít ỏi. So với khối khổ đau khổng lồ trước đây đã bị tiêu trừ, phần khổ đau còn lại không thể tính đếm, không thể đem ra so sánh, thậm chí không bằng một phần nhỏ, vì vị ấy chỉ còn tối đa là bảy thân mạng nữa. Vị ấy là người hiểu biết như thật rằng: ‘Đây là Khổ’... ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’

Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Khổ.’... Một nỗ lực cần phải được thực hiện để quán triệt rằng: ‘Đây là Con đường dẫn đến khổ diệt.’”

Chú Thích

Xuyên thấu như thật - Thuật ngữ Pāli: Abhisamaya (Liễu tri). Không phải là việc học thuộc lòng hay hiểu biết trên lý thuyết, mà là một trải nghiệm "bừng tỉnh", thấy rõ bản chất của thực tại giống như việc bật đèn trong phòng tối. Ví dụ như về cách đi xe đạp rất nhiều (hiểu lý thuyết), nhưng khoảnh khắc cơ thể  tự giữ được thăng bằng và lao đi trên hai bánh xe — đó chính là khoảnh khắc "xuyên thấu" hay "phá vỡ" thực tế của việc đi xe.

 Các Hành  (Saṅkhāra) ở đây chỉ cho sự tạo tác các hạnh nghiệp theo ý nghĩa trong duyên sinh “vô minh duyên hành”. Những ý chí, suy nghĩ mang tính thúc đẩy, tạo tác hoặc các phản ứng thói quen của tâm trí. Chính những "lực đẩy" này tạo ra Nghiệp (Kamma) dẫn dắt chúng ta tiếp tục tái sinh và vòng quanh trong đau khổ. Ví dụ như khi ai đó xúc phạm, tâm trỗi lên ý muốn trả đũa. Cái ý muốn, cái năng lượng thúc đẩy hành động đó chính là "Hành". Nếu nuông chiều nó, sẽ tạo ra chuỗi rắc rối tiếp theo (sầu, bi, khổ, ưu, não).

Đọa xứ (Vinipāta / Apāya). Trạng thái tâm thức hoặc cảnh giới sống bị lấn át hoàn toàn bởi nỗi sợ hãi, thú tính, và sự đau đớn dữ dội (như cõi súc sinh, địa ngục).Ví dụ thực tế: Hãy tưởng tượng một người nghiện ngập nặng hoặc một băng nhóm tội phạm đang trong cảnh thanh trừng lẫn nhau. Cuộc sống của họ chỉ có: thèm khát tột độ, sợ hãi, trốn chui lủi và tàn sát lẫn nhau để sinh tồn. Đó chính là bức tranh của "đọa xứ" ngay trong đời thực, nơi kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu và không ai có tâm trí để nghĩ về điều thiện.

Thân người khó đắc: Cơ hội để sinh ra làm một con người có đủ trí tuệ, sức khỏe và gặp được chánh pháp là cực kỳ hiếm hoi.

“Hố Đen” (Andhakāra) trong Anh ngữ gọi là “Black Hole” là một khám phá quan trọng của ngành thiên văn trong thế kỷ 20 về một vùng trong không gian có lực hấp dẫn mạnh đến mức không có gì có thể thoát ra được, kể cả ánh sáng. Vì ánh sáng cũng bị giữ lại, nên hố đen không thể được nhìn thấy trực tiếp mà chỉ được phát hiện qua ảnh hưởng của nó lên các vật thể xung quanh.

. Núi Sineru / Núi Tu Di (Mount Sineru) Trong vũ trụ quan Ấn Độ cổ đại, đây là ngọn núi vĩ đại nhất, biểu tượng cho một khối lượng khổng lồ không thể đo đếm. Kinh văn dùng nó để làm dịu đi nỗi sợ hãi của người tu: khi một người đã thấy được sự thật (chứng quả Dự Lưu/Nhập Lưu), thì toàn bộ đau khổ trong luân hồi của họ từ vô tiền khoáng hậu đến nay đã tan biến hết (như cả ngọn núi Tu Di biến mất), họ chỉ còn lại một chút xíu đau khổ của tối đa 7 kiếp sống nữa mà thôi (như 7 hạt sỏi nhỏ).

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Sự Thật (a)

-ooOoo-

V. Phẩm Vực Thẳm

44. IV. Nhà Có Nóc Nhọn (S.v,452)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra.

3) Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không xây dựng tầng dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà", sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra.

4) Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi xây dựng tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà"; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau"; sự kiện này có xảy ra.

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

45. V. Chiggala (1) (Lỗ khóa hay sợi lông) (S.v,453)

1) Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

2) Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực.

3) Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào.

4) Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng, từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần nào".

5) Rồi Tôn giả Ananda, sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

6) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi vào Vesàli để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy rất nhiều thiếu niên Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào. Thấy vậy con nghĩ như sau: "Thật có tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Thật khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này! Vì rằng từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này nối tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào".

7) -- Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái gì khó làm hơn hay cái gì khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần?

-- Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.

8) -- Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái gì khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Khổ"... như thật đâm xuyên qua: "Ðây là Con Ðường đưa đến sự Khổ diệt".

9) Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

46. VI. Hắc Ám (S.v,454)

1) ...

2) -- Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng không hiện ra.

3) Ðược nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

-- Này Tỷ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy.

-- Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

4-6) ... (như đoạn số 4, số 5, số 6 kinh 42 có một thay đổi. Trong kinh trước có nói: "Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn kinh này thời nói: " Họ rơi vào tối tăm sanh, tối tăm già, tối tăm chết, tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não ").

47. VII. Lỗ Khóa (2) (S.v,455)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?

-- Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.

4) -- Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. Vì sao?

5) Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. Vì sao?

6) Vì không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

48. VIII. Lỗ Khóa (3) (S.v,456)

1) ...

2)-- Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng. Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?

-- Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!

4) -- Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời.

5) Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời.

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm... (xem đoạn số 7, kinh trước).

49. IX. Núi Sineru (1) (Tu Di) (S.v,457)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đặt trên núi Sineru, vua các loài núi, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy hay núi chúa Sineru?

-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là vua núi Sineru. Rất ít là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được đặt như vậy, chúng không có thể ước tính được, chúng không có thể so sánh được, chúng không có thể thành một phần nhỏ được, khi đem đặt các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu so sánh với núi chúa Sineru.

4) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn này. Rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn. Tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

50. X. Núi Sineru (2) (Tu Di) (S.v,458)

1) ...

2) ... Ví như, này các Tỷ-kheo, núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, chỉ còn lại các viên sạn, lớn bằng bảy hạt đậu.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, núi chúa Sineru ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn hay các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu còn tồn tại?

-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là núi chúa Sineru đi đến đoạn tận, đi đến tiêu mòn. Và ít hơn là các viên sạn lớn bằng bảy hạt đậu được còn lại, không thể đem ước tính, không thể đem so sánh và không thể bằng một phần nhỏ, nếu so sánh các viên sạn lớn, bằng bảy hạt đậu còn lại với núi chúa Sineru đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu mòn.

4) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử thành tựu chánh kiến, với người đã chứng ngộ, cái này là nhiều hơn, tức là sự khổ đã được đoạn tận, được tiêu mòn này; và rất ít là khổ còn tồn tại, không có thể ước tính, không có thể so sánh, không có thể thành một phần nhỏ, nếu so sánh với khổ trước đã được đoạn tận, đã được tiêu mòn, tức là trong thời gian tối đa là bảy lần đối với người đã rõ biết: "Ðây là Khổ"... đã rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo... (như đoạn số 5, kinh trước) ...