Con người thường rơi vào một trong hai cực đoan. Có lúc chúng ta buông
xuôi, chấp nhận những thói quen bất thiện và để mình chìm trong
dòng chảy của phiền não. Có lúc lại gồng mình cưỡng ép, mong đạt
kết quả bằng ý chí vị ngã, nên càng tu càng căng thẳng. Đức Phật
chỉ ra con đường khác: sống với chánh niệm, trí tuệ và sự quân
bình. Không bám víu vào bất cứ pháp hữu vi nào, nhưng cũng không
phóng dật hay buông lung. Khi không còn "đứng lại" trong chấp
thủ và không còn "vùng vẫy" trong ái dục cùng tạo tác, hành giả
mới thực sự vượt qua dòng lũ sinh tử để đi đến giải thoát.
Kinh Văn
1.evaṃ me sutaṃ
— ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. atha kho aññatarā devatā abhikkantāya
rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ aṭṭhāsi. ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṃ
etadavoca — “‘kathaṃ nu tvaṃ, mārisa, oghamatarī’ti?
‘appatiṭṭhaṃ khvāhaṃ, āvuso, anāyūhaṃ oghamatarin’ti. ‘yathā
kathaṃ pana tvaṃ, mārisa, appatiṭṭhaṃ anāyūhaṃ oghamatarī’ti?
‘yadākhvāhaṃ, āvuso, santiṭṭhāmi tadāssu saṃsīdāmi; yadākhvāhaṃ,
āvuso, āyūhāmi tadāssu nibbuyhāmi {nivuyhāmi (syā. kaṃ. ka.)} .
evaṃ khvāhaṃ, āvuso, appatiṭṭhaṃ anāyūhaṃ oghamatarin’”ti.
“cirassaṃ vata passāmi, brāhmaṇaṃ parinibbutaṃ. appatiṭṭhaṃ
anāyūhaṃ, tiṇṇaṃ loke visattikan”ti. — idamavoca sā devatā.
samanuñño satthā ahosi. atha kho sā devatā — “samanuñño me
satthā”ti bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā
tatthevantaradhāyīti.
Tôi được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthī (Xá Vệ), tại Jetavana
(Kỳ Viên Tịnh Xá), ngôi già lam do trưởng giả
Anāthapiṇḍika cúng dường.
Lúc bấy giờ, khi đêm đã về khuya, có một vị thiên với dung sắc vô cùng rực
rỡ, hào quang chiếu sáng khắp cả Kỳ Viên, đến đảnh lễ Đức Thế
Tôn. Sau khi đảnh lễ, vị ấy đứng sang một bên và bạch rằng:
"Bạch Ngài, bằng cách nào Ngài đã vượt qua dòng lũ?"
Đức Thế Tôn đáp:
"Này hiền giả, không dừng lại, cũng không vùng vẫy, Ta đã vượt qua dòng
lũ."
Vị thiên nhân lại thưa:
"Bạch Ngài, làm sao không dừng lại, cũng không vùng vẫy mà lại vượt qua
được dòng lũ?"
Đức Thế Tôn giải thích:
"Này hiền giả, khi Ta dừng lại thì Ta bị chìm xuống; còn khi Ta cố vùng
vẫy thì Ta bị dòng nước cuốn trôi. Chính nhờ không dừng lại,
cũng không vùng vẫy mà Ta đã vượt qua dòng lũ."
Nghe vậy, vị thiên nhân thốt lên bài kệ tán thán:
Thật đã lâu lắm rồi,
Hôm nay mới được thấy
Bà-la-môn tịch tịnh
Không dừng, không vùng vẫy,
Vượt khỏi mọi vướng mắc
Đối với thế gian nầy.
Vị thiên nói như, Bậc Đạo Sư im lặng tán đồng. Vị thiên nghĩ: "Bậc Đạo Sư
đã chấp nhận lời tán thán của ta." Rồi đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi
nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải với lòng cung kính, và vị
ấy liền biến mất ngay tại chỗ.
Chú Thích
Từ xưng hô “Mārisa” (“thưa Ngài”, “bậc đáng kính”) là danh xưng mà chư thiên thường dùng để
gọi Đức Phật, các vị Tỳ khưu cao thượng, và cả các thành viên
trong thiên chúng chính họ . Các vị vua cũng dùng từ này để gọi
nhau .
Sớ giải chú thích đây là từ biểu lộ tình cảm, nghĩa là “người không khổ”
(niddukkha). Tuy nhiên, rất có thể đây là dạng Trung Ấn của từ
Sanskrit madṛsa.
Từ “giòng lũ” hay
“bộc lưu” (ogha)
được dùng
theo nghĩa ẩn dụ, nhưng mang sắc thái kỹ thuật, chỉ nhóm bốn bộc
lưu (xem 45:171). Theo Sớ Giải, chúng được gọi như vậy “vì chúng
giữ chúng sinh chìm đắm trong vòng sinh tử, không cho phép họ
vươn lên các cảnh giới cao hơn và Niết-bàn”.
Bốn bộc lưu (kèm định nghĩa theo Sớ Giải):
1.
Kāmogha (dục bộc lưu) = tham ái và dục
vọng đối với năm dục công đức (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ý
– xem 45:176).
2.
Bhavogha (hữu bộc lưu) = tham ái và dục
vọng đối với hữu sắc giới, hữu vô sắc giới, cùng với sự luyến ái
thiền chứng.
3.
Diṭṭhogha (kiến bộc lưu) = sáu mươi hai
tà kiến.
4.
Avijjogha (vô minh bộc lưu) = sự không
biết rõ Tứ Thánh Đế.
Câu trả lời của Đức
Phật:
“Appatiṭṭhaṃ khvāhaṃ, āvuso, anāyūhaṃ ogham atariṃ.” Sớ Giải
nhận xét: Câu trả lời của Đức Phật cố ý mang tính nghịch lý, vì
thông thường người ta vượt sông bằng cách dừng lại ở những chỗ
có chỗ đứng và ra sức ở những chỗ phải bơi qua.
Sớ Giải chỉ giải thích appatiṭṭhaṃ bằng dạng hiện tại phân từ khác
appatiṭṭhahanto. Nhưng Hậu
Sớ Giải khai triển rõ hơn:
“Không dừng lại: không dừng lại vì các phiền não v.v.; nghĩa là ‘không
chìm’ (appatiṭṭhahanto ti kilesādīnaṃ vasena asantiṭṭhanto,
asaṃsīdanto ti attho).”
Động từ patiṭṭhahati thường có nghĩa “được an lập”, tức là bị dính mắc,
chủ yếu do tham ái và các phiền não khác . Thức bị thúc đẩy bởi
tham ái thì “được an lập”; khi tham ái được đoạn trừ thì thức
trở thành “không an lập, không nương tựa”. Bậc A-la-hán diệt độ
“với thức không an lập” (appatiṭṭhitena viññāṇena … parinibbuto;
. Tất cả những sắc thái này đều vang vọng trong câu trả lời của
Đức Phật.
Động từ āyūhati rất hiếm trong các Nikāya,
Đây là dạng tăng cường của ūhati (thêm tiền tố ā- với -y-
làm âm nối). Động từ gốc
có thể dịch là “bị căng thẳng / vùng vẫy”. Sự xuất hiện
ấy liên hệ trực tiếp với ngữ cảnh này: tâm bị căng thẳng thì xa
rời định.
Trong văn học về sau, danh từ āyūhana mang nghĩa kỹ thuật “tích lũy”, đặc
biệt chỉ nghiệp. Trong công thức duyên khởi, các hành (saṅkhārā)
được nói là có chức năng āyūhana.
Lý do Đức Phật trả
lời ẩn mật
theo Sớ
Giải: Đức Thế Tôn cố ý đưa ra câu trả lời khó hiểu để hạ thấp
tâm kiêu mạn của vị thiên, vì vị ấy cứng nhắc trong ngã mạn mà
vẫn tự cho mình là trí tuệ. Nhận thấy vị thiên sẽ không thể thâm
nhập giáo pháp nếu chưa thay đổi thái độ, Đức Phật muốn làm vị
ấy bối rối để chế ngự kiêu mạn. Khi ấy, với tâm đã hạ thấp, vị
thiên sẽ hỏi thêm, và Đức Phật sẽ giải thích sao cho vị ấy có
thể hiểu được.
Ý nghĩa Trung đạo
toàn diện
trong câu
trả lời ngắn gọn của Đức Phật chỉ thẳng đến Trung đạo (majjhimā
paṭipadā) trong phạm vi toàn diện nhất, cả về thực hành lẫn
triết lý. Để làm rõ hàm ý này, Sớ Giải liệt kê
bảy cặp đối đãi:
1.
“Dừng lại” theo phiền não dẫn tới nhấn
chìm; “vùng vẫy” theo các hành sẽ khiến cuốn trôi trôi.
2.
Theo ái và kiến dẫn tới nhấn chìm; theo
các phiền não khác sẽ khiến cuốn trôi.
3.
Theo ái dẫn tới nhấn chìm; theo kiến sẽ
khiến cuốn trôi.
4.
Theo thường kiến dẫn tới nhấn chìm;
theo đoạn kiến sẽ khiến cuốn trôi ).
5.
Theo hôn trầm dẫn tới nhấn chìm; theo
trạo cử sẽ khiến cuốn trôi.
6.
Theo sự đam mê dục lạc dẫn tới nhấn
chìm; theo sự đam mê khổ hạnh sẽ khiến cuốn trôi.
7.
Theo mọi hành bất thiện dẫn tới nhấn
chìm; theo mọi hành thiện thế gian sẽ khiến cuốn trôi.
Về bài kệ của vị
thiên,
Đức Phật được gọi là “brāhmaṇa - Bà la
môn” theo nghĩa A-la-hán . Ngài “đã hoàn toàn tịch diệt”
(parinibbuto) vì đã tịch diệt nhờ sự diệt tận phiền não
(kilesanibbānena nibbutaṃ).
Tham ái được gọi là “visattikā” (sự vướng mắc) vì nó bám víu và dính chặt
vào nhiều loại đối tượng giác quan khác nhau.
Quả chứng của vị
thiên
theo Sớ Giải: Khi nghe câu trả lời của
Đức Phật, vị thiên được an trú ngay trong quả Dự lưu
(sotāpattiphale patiṭṭhāya).
SỚ GIẢI
Vì là bài kinh đầu tiên của Tương Ưng Bộ, phần Sớ Giải rất dài (đối với
tất cả bộ kinh đều như vậy) mặc dù chánh kinh rất ngắn.
Tattha
saṃyuttāgamo nāma sagāthāvaggo, nidānavaggo, khandhakavaggo,
saḷāyatanavaggo, mahāvaggoti pañcavaggo hoti. suttato —
“satta suttasahassāni, satta suttasatāni ca.
dvāsaṭṭhi ceva suttāni, eso saṃyuttasaṅgaho”.
bhāṇavārato bhāṇavārasataṃ hoti. tassa vaggesu sagāthāvaggo ādi,
suttesu oghataraṇasuttaṃ. tassāpi “evaṃ me sutan”tiādikaṃ
āyasmatā ānandena paṭhamamahāsaṅgītikāle vuttaṃ nidānamādi. sā
panesā paṭhamamahāsaṅgīti sumaṅgalavilāsiniyā
dīghanikāyaṭṭhakathāya ādimhi vitthāritā, tasmā sā tattha
vitthāritanayeneva veditabbā.
1. yaṃ panetaṃ “evaṃ me sutan”tiādikaṃ nidānaṃ, tattha evanti
nipātapadaṃ. metiādīni nāmapadāni. sāvatthiyaṃ viharatīti ettha
vīti upasaggapadaṃ, haratīti ākhyātapadanti iminā tāva nayena
padavibhāgo veditabbo.
atthato pana evaṃsaddo tāva upamūpadesa-sampahaṃsana-garahaṇa-
vacanasampaṭiggahākāranidassanāvadhāraṇādi-anekatthappabhedo.
tathā hesa — “evaṃ jātena maccena, kattabbaṃ kusalaṃ bahun”ti
(dha. pa. 53) evamādīsu upamāyaṃ āgato. “evaṃ te
abhikkamitabbaṃ, evaṃ te paṭikkamitabban”tiādīsu (a. ni. 4.122)
upadese. “evametaṃ bhagavā, evametaṃ sugatā”tiādīsu (a. ni.
3.66) sampahaṃsane. “evamevaṃ panāyaṃ vasalī yasmiṃ vā tasmiṃ vā
tassa muṇḍakassa samaṇakassa vaṇṇaṃ bhāsatī”tiādīsu (saṃ. ni.
1.187) garahaṇe. “evaṃ, bhanteti kho te bhikkhū bhagavato
paccassosun”tiādīsu (ma. ni. 1.1) vacanasampaṭiggahe. “evaṃ byā
kho ahaṃ, bhante, bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmī”tiādīsu (ma.
ni. 1.398) ākāre. “ehi tvaṃ māṇavaka, yena samaṇo ānando
tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena samaṇaṃ ānandaṃ
appābādhaṃ appātaṅkaṃ lahuṭṭhānaṃ balaṃ phāsuvihāraṃ puccha —
‘subho māṇavo todeyyaputto bhavantaṃ ānandaṃ appābādhaṃ
appātaṅkaṃ lahuṭṭhānaṃ balaṃ phāsuvihāraṃ pucchatī’ti. evañca
vadehi — ‘sādhu kira bhavaṃ ānando yena subhassa māṇavassa
todeyyaputtassa nivesanaṃ, tenupasaṅkamatu anukampaṃ
upādāyā’ti”ādīsu (dī. ni. 1.445) nidassane. “taṃ kiṃ maññatha
kālāmā, ime dhammā kusalā vā akusalā vāti? akusalā, bhante.
sāvajjā vā anavajjā vāti? sāvajjā, bhante. viññugarahitā vā
viññuppasatthā vāti? viññugarahitā, bhante. samattā samādinnā
ahitāya dukkhāya saṃvattanti vā no vā, kathaṃ vo ettha hotīti?
samattā, bhante, samādinnā ahitāya dukkhāya saṃvattanti, evaṃ no
ettha hotī”tiādīsu (a. ni. 3.66) avadhāraṇe. svāyamidha
ākāranidassanāvadhāraṇesu daṭṭhabbo.
tattha ākāratthena evaṃsaddena etamatthaṃ dīpeti —
nānānayanipuṇaṃ anekajjhāsayasamuṭṭhānaṃ atthabyañjanasampannaṃ
vividhapāṭihāriyaṃ dhammatthadesanā paṭivedhagambhīraṃ
sabbasattānaṃ sakasakabhāsānurūpato sotapathamāgacchantaṃ tassa
bhagavato vacanaṃ sabbappakārena ko samattho viññātuṃ?
sabbathāmena pana sotukāmataṃ janetvāpi evaṃ me sutaṃ, mayāpi
ekenākārena sutanti.
nidassanatthena — “nāhaṃ sayambhū, na mayā idaṃ sacchikatan”ti
attānaṃ parimocento — “evaṃ me sutaṃ, mayāpi evaṃ sutan”ti idāni
vattabbaṃ sakalasuttaṃ nidasseti.
avadhāraṇatthena — “etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ
bhikkhūnaṃ bahussutānaṃ yadidaṃ ānando, gatimantānaṃ,
satimantānaṃ, dhitimantānaṃ, upaṭṭhākānaṃ yadidaṃ ānando”ti (a.
ni. 1.220-223) evaṃ bhagavatā — “āyasmā ānando atthakusalo
dhammakusalo byañjanakusalo niruttikusalo pubbāparakusalo”ti (a.
ni. 5.169) evaṃ dhammasenāpatinā ca pasatthabhāvānurūpaṃ attano
dhāraṇabalaṃ dassento sattānaṃ sotukāmataṃ janeti — “evaṃ me
sutaṃ, tañca kho atthato vā byañjanato vā anūnamanadhikaṃ,
evameva na aññathā daṭṭhabban”ti.
mesaddo tīsu atthesu dissati. tathā hissa — “gāthābhigītaṃ me
abhojaneyyan”tiādīsu (su. ni. 81) mayāti attho. “sādhu me,
bhante, bhagavā saṃkhittena dhammaṃ desetū ” tiādīsu (saṃ. ni.
4.88) mayhanti attho. “dhammadāyādā me, bhikkhave,
bhavathā”tiādīsu (ma. ni. 1.29) mamāti attho. idha pana “mayā
sutan”ti ca “mama sutan”ti ca atthadvaye yujjati.
sutanti ayaṃ sutasaddo saupasaggo anupasaggo ca
gamana-vissuta-kilinnaupacitānuyoga-
sotaviññeyya-sotadvārānusāraviññātādianekatthappabhedo. tathā
hissa — “senāya pasuto”tiādīsu gacchantoti attho. “sutadhammassa
passato”tiādīsu (udā. 11) vissutadhammassāti attho. “avassutā
avassutassā”tiādīsu (pāci. 657) kilinnākilinnassāti attho.
“tumhehi puññaṃ pasutaṃ anappakan”tiādīsu (khu. pā. 7.12)
upacitanti attho. “ye jhānapasutā dhīrā”tiādīsu (dha. pa. 181)
jhānānuyuttāti attho. “diṭṭhaṃ sutaṃ mutan”tiādīsu (ma. ni.
1.241) sotaviññeyyanti attho. “sutadharo sutasannicayo”tiādīsu
(ma. ni. 1.339) sotadvārānusāraviññātadharoti attho. idha
panassa sotadvārānusārena upadhāritanti vā upadhāraṇanti vā
attho. me-saddassa hi mayāti atthe sati — “evaṃ mayā sutaṃ,
sotadvārānusārena upadhāritan”ti yujjati. mamāti atthe sati —
“evaṃ mama sutaṃ, sotadvārānusārena upadhāraṇan”ti yujjati.
evametesu tīsu padesu evanti
sotaviññāṇādiviññāṇakiccanidassanaṃ. meti
vuttaviññāṇasamaṅgipuggalanidassanaṃ. sutanti
assavanabhāvapaṭikkhepato anūnānadhikāviparītaggahaṇanidassanaṃ.
tathā evanti tassa sotadvārānusārena pavattāya viññāṇavīthiyā
nānappakārena ārammaṇe pavattibhāvappakāsanaṃ. meti
attappakāsanaṃ. sutanti dhammappakāsanaṃ. ayañhettha saṅkhepo —
“nānappakārena ārammaṇe pavattāya viññāṇavīthiyā mayā na aññaṃ
kataṃ, idaṃ pana kataṃ, ayaṃ dhammo suto”ti.
tathā evanti niddisitabbappakāsanaṃ. meti puggalappakāsanaṃ.
sutanti puggalakiccappakāsanaṃ. idaṃ vuttaṃ hoti — “yaṃ suttaṃ
niddisissāmi, taṃ mayā evaṃ sutan”ti.
tathā evanti yassa cittasantānassa nānākārappavattiyā
nānatthabyañjanagahaṇaṃ hoti, tassa nānākāraniddeso. evanti hi
ayaṃ ākārapaññatti. meti kattuniddeso. sutanti visayaniddeso.
ettāvatā nānākārappavattena cittasantānena taṃsamaṅgino
kattuvisaye gahaṇasanniṭṭhānaṃ kataṃ hoti.
atha vā evanti puggalakiccaniddeso. sutanti viññāṇakiccaniddeso.
meti ubhayakiccayuttapuggalaniddeso. ayaṃ panettha saṅkhepo —
“mayā savanakiccaviññāṇasamaṅginā puggalena viññāṇavasena
laddhasavanakiccavohārena sutan”ti.
tattha evanti ca meti ca saccikaṭṭhaparamatthavasena
avijjamānapaññatti. kiñhettha taṃ paramatthato atthi, yaṃ evanti
vā meti vā niddesaṃ labhetha. sutanti vijjamānapaññatti. yañhi
taṃ ettha sotena upaladdhaṃ, taṃ paramatthato vijjamānanti.
tathā evanti ca meti ca taṃ taṃ upādāya vattabbato
upādāpaññatti. sutanti diṭṭhādīni upanidhāya vattabbato
upanidhāpaññatti.
ettha ca evanti vacanena asammohaṃ dīpeti. na hi sammūḷho
nānappakārapaṭivedhasamattho hoti. sutanti vacanena sutassa
asammosaṃ dīpeti. yassa hi sutaṃ sammuṭṭhaṃ hoti, na so
kālantarena mayā sutanti paṭijānāti. iccassa asammohena
paññāsiddhi, asammosena pana satisiddhi. tattha
paññāpubbaṅgamāya satiyā byañjanāvadhāraṇasamatthatā,
satipubbaṅgamāya paññāya atthapaṭivedhasamatthatā.
tadubhayasamatthatāyogena atthabyañjanasampannassa dhammakosassa
anupālanasamatthato dhammabhaṇḍāgārikattasiddhi.
aparo nayo — evanti vacanena yoniso manasikāraṃ dīpeti, ayoniso
manasikaroto hi nānappakārapaṭivedhābhāvato. sutanti vacanena
avikkhepaṃ dīpeti vikkhittacittassa savanābhāvato. tathā hi
vikkhittacitto puggalo sabbasampattiyā vuccamānopi “na mayā
sutaṃ, puna bhaṇathā”ti bhaṇati. yoniso manasikārena cettha
attasammāpaṇidhiṃ pubbe ca katapuññataṃ sādheti, sammā
appaṇihitattassa pubbe akatapuññassa vā tadabhāvato. avikkhepena
saddhammassavanaṃ sappurisūpanissayañca sādheti. na hi
vikkhittacitto sotuṃ sakkoti, na ca sappurise
anupanissayamānassa savanaṃ atthīti. aparo nayo — yasmā “evanti
yassa cittasantānassa nānākārappavattiyā
nānatthabyañjanaggahaṇaṃ hoti, tassa nānākāraniddeso”ti vuttaṃ,
so ca evaṃ bhaddako ākāro na sammā appaṇihitattano pubbe
akatapuññassa vā hoti, tasmā evanti iminā bhaddakena ākārena
pacchimacakkadvayasampattimattano dīpeti. sutanti savanayogena
purimacakkadvayasampattiṃ. na hi appatirūpadese vasato
sappurisūpanissayavirahitassa vā savanaṃ atthi. iccassa
pacchimacakkadvayasiddhiyā āsayasuddhi siddhā hoti,
purimacakkadvayasiddhiyā payogasuddhi, tāya ca āsayasuddhiyā
adhigamabyattisiddhi, payogasuddhiyā āgamabyattisiddhi. iti
payogāsayasuddhassa āgamādhigamasampannassa vacanaṃ aruṇuggaṃ
viya sūriyassa udayato, yoniso manasikāro viya ca
kusalakammassa, arahati bhagavato vacanassa pubbaṅgamaṃ
bhavitunti ṭhāne nidānaṃ ṭhapento evaṃ me sutantiādimāha.
aparo nayo — evanti iminā nānappakārapaṭivedhadīpakena vacanena
attano atthapaṭibhānapaṭisambhidāsampattisabbhāvaṃ dīpeti.
sutanti iminā sotabbabhedapaṭivedhadīpakena
dhammaniruttipaṭisambhidāsampattisabbhāvaṃ. evanti ca idaṃ
yoniso manasikāradīpakavacanaṃ bhāsamāno — “ete mayā dhammā
manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā”ti dīpeti. sutanti idaṃ
savanayogadīpakavacanaṃ bhāsamāno — “bahū mayā dhammā sutā dhātā
vacasā paricitā”ti dīpeti. tadubhayenapi atthabyañjanapāripūriṃ
dīpento savane ādaraṃ janeti. atthabyañjanaparipuṇṇañhi dhammaṃ
ādarena assuṇanto mahatā hitā paribāhiro hotīti ādaraṃ janetvā
sakkaccaṃ dhammo sotabboti.
evaṃ me sutanti iminā pana sakalena vacanena āyasmā ānando
tathāgatappaveditaṃ dhammaṃ attano adahanto asappurisabhūmiṃ
atikkamati, sāvakattaṃ paṭijānanto sappurisabhūmiṃ okkamati.
tathā asaddhammā cittaṃ vuṭṭhāpeti, saddhamme cittaṃ
patiṭṭhāpeti. “kevalaṃ sutamevetaṃ mayā, tasseva pana bhagavato
vacanan”ti dīpento attānaṃ parimoceti, satthāraṃ apadisati,
jinavacanaṃ appeti, dhammanettiṃ patiṭṭhāpeti.
apica “evaṃ me sutan”ti attanā uppāditabhāvaṃ appaṭijānanto
purimavacanaṃ vivaranto — “sammukhā paṭiggahitamidaṃ mayā tassa
bhagavato catuvesārajjavisāradassa dasabaladharassa
āsabhaṭṭhānaṭṭhāyino sīhanādanādino sabbasattuttamassa
dhammissarassa dhammarājassa dhammādhipatino dhammadīpassa
dhammasaraṇassa saddhammavaracakkavattino sammāsambuddhassa
vacanaṃ, na ettha atthe vā dhamme vā pade vā byañjane vā kaṅkhā
vā vimati vā kattabbā”ti sabbadevamanussānaṃ imasmiṃ dhamme
assaddhiyaṃ vināseti, saddhāsampadaṃ uppādetīti. tenetaṃ vuccati
—
“vināsayati assaddhaṃ, saddhaṃ vaḍḍheti sāsane.
evaṃ me sutamiccevaṃ, vadaṃ gotamasāvako”ti.
ekanti gaṇanaparicchedaniddeso. samayanti paricchinnaniddeso.
ekaṃ samayanti aniyamitaparidīpanaṃ. tattha samayasaddo —
“samavāye khaṇe kāle, samūhe hetudiṭṭhisu.
paṭilābhe pahāne ca, paṭivedhe ca dissati”.
tathā hissa “appeva nāma svepi upasaṅkameyyāma kālañca samayañca
upādāyā”ti evamādīsu (dī. ni. 1.447) samavāyo attho. “ekova kho,
bhikkhave, khaṇo ca samayo ca brahmacariyavāsāyā”tiādīsu (a. ni.
8.29) khaṇo. “uṇhasamayo pariḷāhasamayo”tiādīsu (pāci. 358)
kālo. “mahāsamayo pavanasmin”tiādīsu (dī. ni. 2.332) samūho.
“samayopi kho te, bhaddāli, appaṭividdho ahosi, bhagavā kho
sāvatthiyaṃ viharati, bhagavāpi maṃ jānissati — ‘bhaddāli, nāma
bhikkhu satthusāsane sikkhāya aparipūrakārī’ti. ayampi kho te,
bhaddāli, samayo appaṭividdho ahosī”tiādīsu (ma. ni. 2.135)
hetu. “tena kho pana samayena uggāhamāno paribbājako
samaṇamuṇḍikāputto samayappavādake tindukācīre ekasālake
mallikāya ārāme paṭivasatī”tiādīsu (ma. ni. 2.260) diṭṭhi.
“diṭṭhe dhamme ca yo attho, yo cattho samparāyiko.
atthābhisamayā dhīro, paṇḍitoti pavuccatī”ti. —
ādīsu (saṃ. ni. 1.129) paṭilābho. “sammā mānābhisamayā
antamakāsi dukkhassā”tiādīsu (ma. ni. 1.28) pahānaṃ. “dukkhassa
pīḷanaṭṭho saṅkhataṭṭho santāpaṭṭho vipariṇāmaṭṭho
abhisamayaṭṭho”tiādīsu (paṭi. ma. 2.8) paṭivedho. idha panassa
kālo attho. tena saṃvacchara-utu-māsaḍḍhamāsa-ratti-diva-
pubbaṇha-majjhanhika-sāyanha-paṭhamamajjhimapacchimayāma-muhuttādīsu
kālappabhedabhūtesu samayesu ekaṃ samayanti dīpeti.
tattha kiñcāpi etesu saṃvaccharādīsu samayesu yaṃ yaṃ suttaṃ
yasmiṃ yasmiṃ saṃvacchare utumhi māse pakkhe rattibhāge
divasabhāge vā vuttaṃ, sabbaṃ taṃ therassa suviditaṃ
suvavatthāpitaṃ paññāya. yasmā pana “evaṃ me sutaṃ
asukasaṃvacchare asukautumhi asukamāse asukapakkhe
asukarattibhāge asukadivasabhāge vā”ti evaṃ vutte na sakkā
sukhena dhāretuṃ vā uddisituṃ vā uddisāpetuṃ vā, bahu ca
vattabbaṃ hoti, tasmā ekeneva padena tamatthaṃ samodhānetvā
“ekaṃ samayan”ti āha.
ye vā ime gabbhokkantisamayo jātisamayo saṃvegasamayo
abhinikkhamanasamayo dukkarakārikasamayo māravijayasamayo
abhisambodhisamayo diṭṭhadhammasukhavihārasamayo desanāsamayo
parinibbānasamayoti evamādayo bhagavato devamanussesu ativiya
suppakāsā anekakālappabhedā eva samayā. tesu samayesu
desanāsamayasaṅkhātaṃ ekaṃ samayanti dīpeti. yo cāyaṃ
ñāṇakaruṇākiccasamayesu karuṇākiccasamayo,
attahitaparahitapaṭipattisamayesu parahitapaṭipattisamayo,
sannipatitānaṃ karaṇīyadvayasamayesu dhammikathāsamayo,
desanāpaṭipattisamayesu desanāsamayo, tesupi samayesu aññataraṃ
sandhāya “ekaṃ samayan”ti āha.
kasmā panettha yathā abhidhamme “yasmiṃ samaye kāmāvacaran”ti ca
ito aññesu suttapadesu “yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu
vivicceva kāmehī”ti ca bhummavacanena niddeso kato, vinaye ca
“tena samayena buddho bhagavā”ti karaṇavacanena, tathā akatvā
“ekaṃ samayan”ti upayogavacanena niddeso katoti. tattha tathā,
idha ca aññathā atthasambhavato. tattha hi abhidhamme ito aññesu
suttapadesu ca adhikaraṇattho bhāvenabhāvalakkhaṇattho ca
sambhavati. adhikaraṇañhi kālattho samūhattho ca samayo, tattha
vuttānaṃ phassādidhammānaṃ khaṇasamavāyahetusaṅkhātassa ca
samayassa bhāvena tesaṃ bhāvo lakkhīyati. tasmā
tadatthajotanatthaṃ tattha bhummavacananiddeso kato.
vinaye ca hetuattho karaṇattho ca sambhavati. yo hi so
sikkhāpadapaññattisamayo sāriputtādīhipi dubbiññeyyo, tena
samayena hetubhūtena karaṇabhūtena ca sikkhāpadāni paññāpayanto
sikkhāpadapaññattihetuñca apekkhamāno bhagavā tattha tattha
vihāsi. tasmā tadatthajotanatthaṃ tattha karaṇavacanena niddeso
kato.
idha pana aññasmiṃ ca evaṃjātike accantasaṃyogattho sambhavati.
yañhi samayaṃ bhagavā imaṃ aññaṃ vā suttantaṃ desesi,
accantameva taṃ samayaṃ karuṇāvihārena vihāsi. tasmā
tadatthajotanatthaṃ idha upayogavacananiddeso katoti. tenetaṃ
vuccati —
“taṃ taṃ atthamapekkhitvā, bhummena karaṇena ca.
aññatra samayo vutto, upayogena so idhā”ti.
porāṇā pana vaṇṇayanti — “tasmiṃ samaye”ti vā “tena samayenā”ti
vā “ekaṃ samayan”ti vā abhilāpamattabhedo esa, sabbattha
bhummameva atthoti. tasmā “ekaṃ samayan”ti vuttepi “ekasmiṃ
samaye”ti attho veditabbo.
bhagavāti garu. garuṃ hi loke “bhagavā”ti vadanti. ayañca
sabbaguṇavisiṭṭhatāya sabbasattānaṃ garu, tasmā “bhagavā”ti
veditabbo. porāṇehipi vuttaṃ —
“bhagavāti vacanaṃ seṭṭhaṃ, bhagavāti vacanamuttamaṃ.
garu gāravayutto so, bhagavā tena vuccatī”ti. (visuddhi. 1.142).
apica — “bhagyavā bhaggavā yutto, bhagehi ca vibhattavā.
bhattavā vantagamano, bhavesu bhagavā tato”ti. —
imissā gāthāya vasenassa padassa vitthārato attho veditabbo. so
ca visuddhimagge (visuddhi. 1.144) buddhānussatiniddese
vuttoyeva.
ettāvatā cettha evaṃ me sutanti vacanena yathāsutaṃ dhammaṃ
dassento bhagavato dhammasarīraṃ paccakkhaṃ karoti. tena
“nayidaṃ atikkantasatthukaṃ pāvacanaṃ, ayaṃ vo satthā”ti satthu
adassanena ukkaṇṭhitaṃ janaṃ samassāseti. ekaṃ samayaṃ bhagavāti
vacanena tasmiṃ samaye bhagavato avijjamānabhāvaṃ dassento
rūpakāyaparinibbānaṃ sādheti. tena “evaṃvidhassa nāma
ariyadhammassa desako dasabaladharo vajirasaṅghātasamānakāyo
sopi bhagavā parinibbuto, kena aññena jīvite āsā janetabbā”ti
jīvitamadamattaṃ janaṃ saṃvejeti, saddhamme cassa ussāhaṃ
janeti. evanti ca bhaṇanto desanāsampattiṃ niddisati. me sutanti
sāvakasampattiṃ. ekaṃ samayanti kālasampattiṃ. bhagavāti
desakasampattiṃ.
sāvatthiyanti evaṃnāmake nagare. samīpatthe cetaṃ bhummavacanaṃ.
viharatīti avisesena iriyāpathadibbabrahmāriyavihāresu
aññataravihārasamaṅgīparidīpanametaṃ. idha pana
ṭhānagamananisajjāsayanappabhedesu iriyāpathesu
aññatarairiyāpathasamāyogaparidīpanaṃ, tena ṭhitopi gacchantopi
nisinnopi sayānopi bhagavā viharaticceva veditabbo. so hi ekaṃ
iriyāpathabādhanaṃ aññena iriyāpathena vicchinditvā
aparipatantaṃ attabhāvaṃ harati pavatteti, tasmā “viharatī”ti
vuccati.
jetavaneti jetassa rājakumārassa vane. tañhi tena ropitaṃ
saṃvaḍḍhitaṃ paripālitaṃ ahosi, tasmā “jetavanan”ti saṅkhaṃ
gataṃ. tasmiṃ jetavane. anāthapiṇḍikassa ārāmeti anāthapiṇḍikena
gahapatinā catupaññāsahiraññakoṭipariccāgena buddhappamukhassa
bhikkhusaṅghassa niyyātitattā “anāthapiṇḍikassa ārāmo”ti saṅkhaṃ
gate ārāme. ayamettha saṅkhepo, vitthāro pana papañcasūdaniyā
majjhimaṭṭhakathāya sabbāsavasuttavaṇṇanāyaṃ (ma. ni. aṭṭha.
1.14) vutto.
tattha siyā — yadi tāva bhagavā sāvatthiyaṃ viharati,
“jetavane”ti na vattabbaṃ. atha tattha viharati, “sāvatthiyan”ti
na vattabbaṃ. na hi sakkā ubhayattha ekaṃ samayaṃ viharitunti.
na kho panetaṃ evaṃ daṭṭhabbaṃ.nanu avocumha “samīpatthe
bhummavacanan”ti.
tasmā yathā gaṅgāyamunādīnaṃ samīpe goyūthāni carantāni
“gaṅgāyaṃ caranti, yamunāyaṃ carantī”ti vuccati, evamidhāpi
yadidaṃ sāvatthiyā samīpe jetavanaṃ, tattha viharanto vuccati
“sāvatthiyaṃ viharati jetavane”ti. gocaragāmanidassanatthaṃ
hissa sāvatthivacanaṃ, pabbajitānurūpanivāsaṭṭhānanidassanatthaṃ
sesavacanaṃ.
aññatarā devatāti nāmagottavasena apākaṭā ekā devatāti attho.
“abhijānāti no, bhante, bhagavā ahu ñātaññatarassa mahesakkhassa
yakkhassa saṃkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ bhāsitā”ti ettha
pana abhiññāto sakkopi devarājā “aññataro”ti vutto. “devatā”ti
ca idaṃ devānampi devadhītānampi sādhāraṇavacanaṃ. imasmiṃ
panatthe devo adhippeto, so ca kho rūpāvacarānaṃ devānaṃ
aññataro.
abhikkantāya rattiyāti ettha abhikkanta-saddo
khayasundarābhirūpābbhānumodanādīsu dissati. tattha “abhikkantā,
bhante, ratti, nikkhanto paṭhamo yāmo, ciranisinno
bhikkhusaṅgho, uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṃ
pātimokkhan”ti evamādīsu (a. ni. 8.20; cūḷava. 383) khaye
dissati. “ayaṃ imesaṃ catunnaṃ puggalānaṃ abhikkantataro ca
paṇītataro cā”ti evamādīsu (a. ni. 4.100) sundare.
“ko me vandati pādāni, iddhiyā yasasā jalaṃ.
abhikkantena vaṇṇena, sabbā obhāsayaṃ disā”ti. —
evamādīsu (vi. va. 857) abhirūpe. “abhikkantaṃ bho gotama,
abhikkantaṃ bho gotamā”ti evamādīsu (pārā. 15) abbhānumodane.
idha pana khaye. tena abhikkantāya rattiyā, parikkhīṇāya
rattiyāti vuttaṃ hoti. tatthāyaṃ devaputto
majjhimayāmasamanantare āgatoti veditabbo. niyāmo hi kiresa
devatānaṃ yadidaṃ buddhānaṃ vā buddhasāvakānaṃ vā upaṭṭhānaṃ
āgacchantā majjhimayāmasamanantareyeva āgacchanti.
abhikkantavaṇṇāti idha abhikkanta-saddo abhirūpe, vaṇṇa-saddo
pana chavithuti-kulavagga-kāraṇa-saṇṭhānappamāṇa-rūpāyatanādīsu
dissati. tattha “suvaṇṇavaṇṇosi bhagavā”ti evamādīsu (su. ni.
553) chaviyā. “kadā saññūḷhā pana te, gahapati, ime samaṇassa
vaṇṇā”ti evamādīsu (ma. ni. 2.77) thutiyaṃ. “cattārome, bho
gotama, vaṇṇā”ti evamādīsu (dī. ni. 3.115) kulavagge. “atha kena
nu vaṇṇena, gandhathenoti vuccatī”ti evamādīsu (saṃ. ni. 1.234)
kāraṇe. “mahantaṃ hatthirājavaṇṇaṃ abhinimminitvā”ti evamādīsu
(saṃ. ni. 1.138) saṇṭhāne. “tayo pattassa vaṇṇā”ti evamādīsu
(pārā. 602) pamāṇe. “vaṇṇo gandho raso ojā”ti evamādīsu
rūpāyatane. so idha chaviyā daṭṭhabbo. tena abhikkantavaṇṇā
abhirūpacchavi, iṭṭhavaṇṇā manāpavaṇṇāti vuttaṃ hoti. devatā hi
manussalokaṃ āgacchamānā pakativaṇṇaṃ pakatīddhiṃ jahitvā
oḷārikaṃ attabhāvaṃ katvā atirekavaṇṇaṃ atirekaiddhiṃ māpetvā
naṭasamajjādīni gacchantā manussā viya abhisaṅkhatena kāyena
āgacchanti. tattha kāmāvacarā anabhisaṅkhatenapi āgantuṃ
sakkonti, rūpāvacarā pana na sakkonti. tesañhi atisukhumo
attabhāvo, na tena iriyāpathakappanaṃ hoti. tasmā ayaṃ devaputto
abhisaṅkhateneva āgato. tena vuttaṃ “abhikkantavaṇṇā”ti.
kevalakappanti ettha kevala-saddo anavasesa-
yebhuyyābyāmissānatirekadaḷhatthavisaṃyogādianekattho. tathā
hissa “kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyan”ti evamādīsu
(pārā. 1) anavasesatthamattho. “kevalakappā ca aṅgamagadhā
pahūtaṃ khādanīyabhojanīyaṃ ādāya upasaṅkamissantī”ti evamādīsu
(mahāva. 43) yebhuyyatā. “kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo
hotī”ti evamādīsu (vibha. 225) abyāmissatā. “kevalaṃ
saddhāmattakaṃ nūna ayamāyasmā”ti evamādīsu (mahāva. 244)
anatirekatā. “āyasmato, bhante, anuruddhassa bāhiyo nāma
saddhivihāriko kevalakappaṃ saṅghabhedāya ṭhito”ti evamādīsu (a.
ni. 4.243) daḷhatthatā. “kevalī vusitavā uttamapurisoti
vuccatī”ti evamādīsu (saṃ. ni. 3.57) visaṃyogo attho. idha
panassa anavasesattho adhippeto.
kappa-saddo panāyaṃ
abhisaddahana-vohāra-kāla-paññatti-chedana-vikappa-
lesasamantabhāvādianekattho. tathā hissa “okappaniyametaṃ bhoto
gotamassa, yathā taṃ arahato sammāsambuddhassā”ti evamādīsu (ma.
ni. 1.387) abhisaddahanamattho. “anujānāmi, bhikkhave, pañcahi
samaṇakappehi phalaṃ paribhuñjitun”ti evamādīsu (cūḷava. 250)
vohāro. “yena sudaṃ niccakappaṃ viharāmī”ti evamādīsu (ma. ni.
1.387) kālo. “iccāyasmā kappo”ti evamādīsu paññatti. “alaṅkato
kappitakesamassū”ti evamādīsu (vi. va. 1094, 1101) chedanaṃ.
“kappati dvaṅgulakappo”ti evamādīsu (cūḷava. 446) vikappo.
“ātthi kappo nipajjitun”ti evamādīsu (a. ni. 8.80) leso.
“kevalakappaṃ veḷuvanaṃ obhāsetvā”ti evamādīsu (saṃ. ni. 1.94)
samantabhāvo. idha panassa samantabhāvattho adhippeto. tasmā
kevalakappaṃ jetavananti ettha “anavasesaṃ samantato
jetavanan”ti evamattho daṭṭhabbo.
obhāsetvāti vatthālaṅkārasarīrasamuṭṭhitāya ābhāya pharitvā,
candimā viya sūriyo viya ca ekobhāsaṃ ekapajjotaṃ karitvāti
attho.
yenāti bhummatthe karaṇavacanaṃ. yena bhagavā tenupasaṅkamīti
tasmā “yattha bhagavā, tattha upasaṅkamī”ti evamettha attho
daṭṭhabbo. yena vā kāraṇena bhagavā devamanussehi
upasaṅkamitabbo, tena kāraṇena upasaṅkamīti evamettha attho
daṭṭhabbo. kena ca kāraṇena bhagavā upasaṅkamitabbo?
nānappakāraguṇavisesādhigamādhippāyena,
sāduphalūpabhogādhippāyena dijagaṇehi niccaphalitamahārukkho
viya. upasaṅkamīti ca gatāti vuttaṃ hoti. upasaṅkamitvāti
upasaṅkamanapariyosānadīpanaṃ. atha vā evaṃ gatā tato
āsannataraṃ ṭhānaṃ bhagavato samīpasaṅkhātaṃ gantvātipi vuttaṃ
hoti.
idāni yenatthena loke aggapuggalassa upaṭṭhānaṃ āgatā, taṃ
pucchitukāmā dasanakhasamodhānasamujjalaṃ añjuliṃ sirasi
patiṭṭhapetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. ekamantanti
bhāvanapuṃsakaniddeso — “visamaṃ candimasūriyā
parivattantī”tiādīsu (a. ni. 4.70) viya. tasmā yathā ṭhitā
ekamantaṃ ṭhitā hoti, tathā aṭṭhāsīti evamettha attho daṭṭhabbo.
bhummatthe vā etaṃ upayogavacanaṃ. aṭṭhāsīti ṭhānaṃ kappesi.
paṇḍitā hi devamanussā garuṭṭhāniyaṃ upasaṅkamitvā
āsanakusalatāya ekamantaṃ tiṭṭhanti, ayañca devo tesaṃ aññataro,
tasmā ekamantaṃ aṭṭhāsi.
kathaṃ ṭhito pana ekamantaṃ ṭhito hotīti? cha ṭhānadose
vajjetvā. seyyathidaṃ — atidūraṃ, accāsannaṃ, uparivātaṃ,
unnatappadesaṃ, atisammukhaṃ, atipacchāti. atidūre ṭhito hi sace
kathetukāmo hoti, uccāsaddena kathetabbaṃ hoti. accāsanne ṭhito
saṅghaṭṭanaṃ karoti. uparivāte ṭhito sarīragandhena bādhati.
unnatappadese ṭhito agāravaṃ pakāseti. atisammukhā ṭhito sace
daṭṭhukāmo hoti, cakkhunā cakkhuṃ āhacca daṭṭhabbaṃ hoti.
atipacchā ṭhito sace daṭṭhukāmo hoti, gīvaṃ pasāretvā daṭṭhabbaṃ
hoti. tasmā ayampi ete cha ṭhānadose vajjetvā aṭṭhāsi. tena
vuttaṃ “ekamantaṃ aṭṭhāsī”ti.
etadavocāti etaṃ avoca. kathaṃ nūti kāraṇapucchā. bhagavato hi
tiṇṇoghabhāvo dasasahassilokadhātuyā pākaṭo, tenimissā devatāya
tattha kaṅkhā natthi, iminā pana kāraṇena “tiṇṇo”ti na jānāti,
tena sā taṃ kāraṇaṃ pucchamānā evamāha.
mārisāti devatānaṃ piyasamudācāravacanametaṃ. niddukkhāti vuttaṃ
hoti. yadi evaṃ “yadā kho te, mārisa, saṅkunā saṅku hadaye
samāgaccheyya, atha naṃ tvaṃ jāneyyāsi ‘vassasahassaṃ me niraye
paccamānassā’”ti (ma. ni. 1.512) idaṃ virujjhati. na hi
nerayikasatto niddukkho nāma hoti. kiñcāpi na niddukkho,
ruḷhīsaddena pana evaṃ vuccati. pubbe kira paṭhamakappikānaṃ
niddukkhānaṃ sukhasamappitānaṃ esa vohāro, aparabhāge dukkhaṃ
hotu vā mā vā, ruḷhīsaddena ayaṃ vohāro vuccateva nippadumāpi
nirudakāpi vā pokkharaṇī pokkharaṇī viya.
oghamatarīti ettha cattāro oghā, kāmogho bhavogho diṭṭhogho
avijjoghoti. tattha pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo kāmogho nāma.
rūpārūpabhavesu chandarāgo jhānanikanti ca bhavogho nāma.
dvāsaṭṭhi diṭṭhiyo diṭṭhogho nāma. catūsu saccesu aññāṇaṃ
avijjogho nāma. tattha kāmogho aṭṭhasu lobhasahagatesu
cittuppādesu uppajjati, bhavogho catūsu
diṭṭhigatavippayuttalobhasahagatesu cittuppādesu uppajjati,
diṭṭhogho catūsu diṭṭhigatasampayuttesu cittuppādesu uppajjati,
avijjogho sabbākusalesu uppajjati.
sabbopi cesa avahananaṭṭhena rāsaṭṭhena ca oghoti veditabbo.
avahananaṭṭhenāti adhogamanaṭṭhena. ayañhi attano vasaṃ gate
satte adho gameti, nirayādibhedāya duggatiyaṃyeva nibbatteti,
uparibhāvaṃ vā nibbānaṃ gantuṃ adento adho tīsu bhavesu catūsu
yonīsu pañcasu gatīsu sattasu viññāṇaṭṭhitīsu navasu sattāvāsesu
ca gametītipi attho. rāsaṭṭhenāti mahantaṭṭhena. mahā heso
kilesarāsi avīcito paṭṭhāya yāva bhavaggā patthaṭo, yadidaṃ
pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo nāma. sesesupi eseva nayo.
evamayaṃ rāsaṭṭhenāpi oghoti veditabbo. atarīti imaṃ
catubbidhampi oghaṃ kena nu tvaṃ, mārisa, kāraṇena tiṇṇoti
pucchati.
athassā bhagavā pañhaṃ vissajjento appatiṭṭhaṃ khvāhantiādimāha.
tattha appatiṭṭhanti appatiṭṭhahanto. anāyūhanti anāyūhanto,
avāyamantoti attho. iti bhagavā gūḷhaṃ paṭicchannaṃ katvā pañhaṃ
kathesi. devatāpi naṃ sutvā “bāhirakaṃ tāva oghaṃ tarantā nāma
ṭhātabbaṭṭhāne tiṭṭhantā taritabbaṭṭhāne āyūhantā taranti, ayaṃ
pana avīcito yāva bhavaggā patthaṭaṃ kilesoghaṃ kilesarāsiṃ
appatiṭṭhahanto anāyūhanto atarinti āha. kiṃ nu kho etaṃ? kathaṃ
nu kho etan”ti? vimatiṃ pakkhantā pañhassa atthaṃ na aññāsi.
kiṃ pana bhagavatā yathā sattā na jānanti, evaṃ kathanatthāya
pāramiyo pūretvā sabbaññutā paṭividdhāti? na etadatthāya
paṭividdhā. dve pana bhagavato desanā niggahamukhena ca
anuggahamukhena ca. tattha ye paṇḍitamānino honti aññātepi
ñātasaññino pañcasatā brāhmaṇapabbajitā viya, tesaṃ
mānaniggahatthaṃ yathā na jānanti, evaṃ mūlapariyāyādisadisaṃ
dhammaṃ deseti. ayaṃ niggahamukhena desanā. vuttampi cetaṃ
“niggayha niggayhāhaṃ, ānanda, vakkhāmi, pavayha pavayha,
ānanda, vakkhāmi, yo sāro, so ṭhassatī”ti (ma. ni. 3.196). ye
pana ujukā sikkhākāmā, tesaṃ suviññeyyaṃ katvā
ākaṅkheyyasuttādisadisaṃ dhammaṃ deseti, “abhirama, tissa,
abhirama, tissa, ahamovādena ahamanuggahena ahamanusāsaniyā”ti
(saṃ. ni. 3.84) ca ne samassāseti. ayaṃ anuggahamukhena desanā.
ayaṃ pana devaputto mānatthaddho paṇḍitamānī, evaṃ kirassa ahosi
— ahaṃ oghaṃ jānāmi, tathāgatassa oghatiṇṇabhāvaṃ jānāmi, “iminā
pana kāraṇena tiṇṇo”ti ettakamattaṃ na jānāmi. iti mayhaṃ
ñātameva bahu, appaṃ aññātaṃ, tamahaṃ kathitamattameva
jānissāmi. kiñhi nāma taṃ bhagavā vadeyya, yassāhaṃ atthaṃ na
jāneyyanti. atha satthā “ayaṃ kiliṭṭhavatthaṃ viya raṅgajātaṃ
abhabbo imaṃ mānaṃ appahāya desanaṃ sampaṭicchituṃ, mānaniggahaṃ
tāvassa katvā puna nīcacittena pucchantassa pakāsessāmī”ti
paṭicchannaṃ katvā pañhaṃ kathesi. sopi nihatamāno ahosi, sā
cassa nihatamānatā uttaripañhapucchaneneva veditabbā. tassa pana
pañhapucchanassa ayamattho — kathaṃ pana tvaṃ, mārisa,
appatiṭṭhaṃ anāyūhaṃ oghamatari, yathāhaṃ jānāmi, evaṃ me
kathehīti.
athassa bhagavā kathento yadāsvāhantiādimāha. tattha yadā
svāhanti yasmiṃ kāle ahaṃ. sukāro nipātamattaṃ. yathā ca ettha,
evaṃ sabbapadesu. saṃsīdāmīti paṭicchannaṃ katvā ataranto
tattheva osīdāmi. nibbuyhāmīti ṭhātuṃ asakkonto ativattāmi. iti
ṭhāne ca vāyāme ca dosaṃ disvā atiṭṭhanto avāyamanto
oghamatarinti evaṃ bhagavatā pañho kathito. devatāyapi
paṭividdho, na pana pākaṭo, tassa pākaṭīkaraṇatthaṃ satta dukā
dassitā. kilesavasena hi santiṭṭhanto saṃsīdati nāma,
abhisaṅkhāravasena āyūhanto nibbuyhati nāma. taṇhādiṭṭhīhi vā
santiṭṭhanto saṃsīdati nāma, avasesakilesānañceva
abhisaṅkhārānañca vasena āyūhanto nibbuyhati nāma. taṇhāvasena
vā santiṭṭhanto saṃsīdati nāma, diṭṭhivasena āyūhanto nibbuyhati
nāma. sassatadiṭṭhiyā vā santiṭṭhanto saṃsīdati nāma,
ucchedadiṭṭhiyā āyūhanto nibbuyhati nāma. olīyanābhinivesā hi
bhavadiṭṭhi, atidhāvanābhinivesā vibhavadiṭṭhi. līnavasena vā
santiṭṭhanto saṃsīdati nāma, uddhaccavasena āyūhanto nibbuyhati
nāma. tathā kāmasukhallikānuyogavasena santiṭṭhanto saṃsīdati
nāma, attakilamathānuyogavasena āyūhanto nibbuyhati nāma.
sabbākusalābhisaṅkhāravasena santiṭṭhanto saṃsīdati nāma,
sabbalokiyakusalābhisaṅkhāravasena āyūhanto nibbuyhati nāma.
vuttampi cetaṃ — “seyyathāpi, cunda, ye keci akusalā dhammā,
sabbe te adhobhāgaṅgamanīyā, ye keci kusalā dhammā, sabbe te
uparibhāgaṅgamanīyā”ti (ma. ni. 1.86).
imaṃ pañhavissajjanaṃ sutvāva devatā sotāpattiphale patiṭṭhāya
tuṭṭhā pasannā attano tuṭṭhiñca pasādañca pakāsayantī cirassaṃ
vatāti gāthamāha. tattha cirassanti cirassa kālassa accayenāti
attho. ayaṃ kira devatā kassapasammāsambuddhaṃ disvā tassa
parinibbānato paṭṭhāya antarā aññaṃ buddhaṃ na diṭṭhapubbā,
tasmā ajja bhagavantaṃ disvā evamāha. kiṃ panimāya devatāya ito
pubbe satthā na diṭṭhapubboti. diṭṭhapubbo vā hotu adiṭṭhapubbo
vā, dassanaṃ upādāya evaṃ vattuṃ vaṭṭati. brāhmaṇanti
bāhitapāpaṃ khīṇāsavabrāhmaṇaṃ. parinibbutanti kilesanibbānena
nibbutaṃ. loketi sattaloke. visattikanti rūpādīsu ārammaṇesu
āsattavisattatādīhi kāraṇehi visattikā vuccati taṇhā, taṃ
visattikaṃ appatiṭṭhamānaṃ anāyūhamānaṃ tiṇṇaṃ nittiṇṇaṃ
uttiṇṇaṃ cirassaṃ vata khīṇāsavabrāhmaṇaṃ passāmīti attho.
samanuñño satthā ahosīti tassā devatāya vacanaṃ citteneva
samanumodi, ekajjhāsayo ahosi. antaradhāyīti abhisaṅkhatakāyaṃ
jahitvā attano pakatiupādiṇṇakakāyasmiṃyeva ṭhatvā laddhāsā
laddhapatiṭṭhā hutvā dasabalaṃ gandhehi ca mālehi ca pūjetvā
attano bhavanaṃyeva agamāsīti.
Bộ Tương Ưng (Saṃyuttāgama) ấy bao gồm 5 phẩm
(Vagga):
1.
Phẩm Có Kệ (Sagāthāvagga)
2.
Phẩm Nhân Duyên (Nidānavagga)
3.
Phẩm Uẩn (Khandhakavagga)
4.
Phẩm Sáu Xứ (Saḷāyatanavagga)
5.
Phẩm Đại (Mahāvagga)
Xét về số lượng kinh
(Sutta):
“Bảy ngàn kinh, cộng thêm bảy trăm kinh,
Và sáu mươi hai kinh nữa — đó là tổng số bài kinh trong Tương Ưng.”
(Tổng cộng: 7,762 bài kinh)
Xét về Phúng Tụng
(Bhāṇavāra - đơn vị tụng đọc):
Bộ này gồm 100 Phúng tụng. Trong các phẩm, Phẩm Có Kệ Ngôn (Sagāthāvagga)
đứng đầu. Trong các bài kinh, Kinh Vượt Qua Bộc Lưu
(Oghataraṇasutta) đứng đầu.
Đoạn Duyên khởi (Nidāna) bắt đầu bằng câu “Evaṃ me sutaṃ” (Tôi nghe như
vầy) được Tôn giả Ānanda kết tập tại kỳ Kết tập Kinh điển thứ
nhất (Paṭhamamahāsaṅgīti). Bối cảnh diễn biến chi tiết của kỳ
Kết tập thứ nhất này đã được trình bày rộng rãi ở phần đầu của
Chú giải
I. Phân
Tích Từ Loại (Padavibhāga)
Xét về mặt ngữ pháp của đoạn duyên khởi “Evaṃ me sutaṃ...”:
-
Evaṃ: Là
một Bất biến từ / Nhập từ (Nipātapada).
-
Me: Là
một Danh từ / Đại từ (Nāmapada).
-
Trong cụm “Sāvatthiyaṃ viharati”: Vī (vi-) là Tiền tố / Hướng từ (Upasaggapada),
còn
Harati là Động từ chia theo thì / Căn tố động từ
(Ākhyātapada).
II. Ý Nghĩa Của Từ
"EVAṂ"
Từ Evaṃ có rất nhiều nghĩa phân loại khác nhau như: So sánh
(Upama), Giáo huấn (Upadesa), Tán thưởng (Sampahaṃsana), Chỉ
trích (Garahaṇa), Chấp nhận lời nói (Vacanasampaṭiggaha), Phương
thức/Khái niệm (Ākāra), Trình bày/Ví dụ (Nidassana), Khẳng
định/Giới hạn (Avadhāraṇa).
Cụ thể qua các ví dụ
Kinh điển:
1.
So sánh (Upama): “Evaṃ jātena maccena...” (Người sinh ra trên đời nên làm nhiều điều lành
như vậy — Dhammapada 53).
2.
Giáo huấn (Upadesa): “Evaṃ te abhikkamitabbaṃ...” (Con nên tiến tới như vậy, nên lui lại như
vậy... — Aṅguttara Nikāya 4.122).
3.
Tán thưởng (Sampahaṃsana): “Evametaṃ bhagavā...” (Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy! —
Aṅguttara Nikāya 3.66).
4.
Chỉ trích (Garahaṇa): “Evamevaṃ panāyaṃ vasalī...” (Người đàn bà đê tiện này lại đi tán dương
gã Sa-môn trọc đầu ấy ở khắp nơi như vậy... — Saṃyutta Nikāya
1.187).
5.
Chấp nhận lời nói
(Vacanasampaṭiggaha): “Evaṃ, bhanteti kho te bhikkhū...”
(“Lạy Đức Thế Tôn, vâng ạ”, các vị Tỷ-khưu đáp lời... — Majjhima
Nikāya 1.1).
6.
Phương thức / Trạng thái
(Ākāra): “Evaṃ byā kho ahaṃ, bhante...” (Bạch Thế
Tôn, con hiểu Giáo pháp được Đức Thế Tôn thuyết giảng theo
cách/phương thức này... — Majjhima Nikāya 1.398).
7.
Trình bày / Trích dẫn
(Nidassana): “Ehi tvaṃ māṇavaka...” (Này thanh niên, hãy đến chỗ Tôn giả
Ānanda... và nói như vầy... — Dīgha Nikāya 1.445).
8.
Khẳng định / Giới hạn
(Avadhāraṇa): “...evaṃ no ettha hoti” (...Bạch Thế
Tôn, chúng con khẳng định/nghĩ như vậy ở đây — Aṅguttara Nikāya
3.66).
Ở đây (trong cụm
Evaṃ me sutaṃ), từ "Evaṃ" được hiểu theo 3 nghĩa: Phương thức
(Ākāra), Trình bày (Nidassana), và Khẳng định (Avadhāraṇa).
1. Xét theo nghĩa "Phương thức" (Ākāra):
Từ Evaṃ thể hiện ý nghĩa: Lời dạy của Đức Thế Tôn là vô cùng tinh diệu với
vô số phương pháp (Nānānaya), phát xuất từ muôn vàn tâm tư/ý
định (Anekajjhāsaya), đầy đủ cả Văn lẫn Nghĩa
(Atthabyañjanasampanna), thể hiện nhiều phép thần thông kỳ diệu
(Vividhapāṭihāriya), thâm sâu ở cả Pháp-Nghĩa-Thuyết giảng lẫn
Ngộ nhập (Thâm sâu trong Bát-nhã/Đối chiếu), đi vào tai của tất
cả chúng sinh phù hợp với ngôn ngữ riêng của từng loài.
Ai có thể năng lực hiểu trọn vẹn Lời Ngài theo mọi khía cạnh? Tôn giả
Ānanda phát khởi sự khát khao lắng nghe với toàn bộ sức lực và
tuyên bố: "Tôi nghe như vầy — tức là tôi đã nghe theo một phương
thức/khía cạnh như thế này."
2. Xét theo nghĩa "Trình bày" (Nidassana):
Tôn giả Ānanda tự giải tỏa trách nhiệm cá nhân rằng: "Tôi không phải là
bậc Tự Hữu (Sayambhū), tôi không tự mình chứng đạt/sáng tạo ra
điều này", do đó Ngài tuyên bố "Tôi nghe như vầy" để giới thiệu
toàn bộ bài kinh sắp được thuyết giảng.
3. Xét theo nghĩa "Khẳng định" (Avadhāraṇa):
Đức Thế Tôn từng tán dương: “Này các Tỷ-khưu, trong số các đệ tử Tỷ-khưu
của Ta, Ānanda là bậc nhất về Đa văn, về Trí nhớ/Hành trình, về
Chánh niệm, về Nghị lực và về Sự phục vụ” (A.i.220). Đức Pháp
Tướng Quân (Sāriputta) cũng khen ngợi: “Tôn giả Ānanda là người
tinh thông về Nghĩa, tinh thông về Pháp, tinh thông về Từ ngữ,
tinh thông về Ngôn ngữ và tinh thông về Trước-Sau” (A.iii.169).
Để phù hợp với năng lực ghi nhớ phi thường đã được tán dương ấy, Tôn giả
Ānanda tạo niềm tin và sự khát khao lắng nghe nơi chúng sinh khi
tuyên bố: "Tôi nghe như vầy — hoàn toàn chính xác cả về Ý nghĩa
lẫn Từ ngữ, không thừa không thiếu, đúng thật như thế, không
được hiểu khác đi."
III. Ý Nghĩa Của Từ
"ME"
Từ Me (của tôi / bởi tôi) xuất hiện với 3 ý nghĩa:
1.
Nghĩa
Mayā (Bởi tôi - Tác phong cách
/ Instrumental): Ví dụ “Gāthābhigītaṃ me abhojaneyyaṃ” (Thức ăn
có được do hát kệ thì bởi tôi không nên ăn — Sutta Nipāta 81).
2.
Nghĩa
Mahyaṃ
(Cho tôi - Chỉ định cách / Dative): Ví dụ “Sādhu me,
bhante, bhagavā...” (Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn
thuyết pháp ngắn gọn cho con — Saṃyutta Nikāya 4.88).
3.
Nghĩa
Mama
(Của tôi - Sở hữu cách / Genitive): Ví dụ “Dhammadāyādā
me, bhikkhave, bhavatha” (Này các Tỷ-khưu, hãy là người thừa tự
Pháp của Ta — Majjhima Nikāya 1.29).
Trong ngữ cảnh này, "Me" thích hợp với 2 nghĩa:
-
Nếu hiểu theo nghĩa
Mayā (bởi tôi): "Evaṃ mayā sutaṃ" = Điều này đã được
lắng nghe bởi tôi qua ngõ Nhĩ môn.
-
Nếu hiểu theo nghĩa
Mama (của tôi): "Evaṃ mama sutaṃ" = Sự lắng nghe qua
ngõ Nhĩ môn này là của tôi.
IV. Ý Nghĩa Của Từ "sutaṃ"
Từ
Suta (được nghe / sự nghe) dù có hay không có tiền tố
(Upasagga) đều mang vô số nghĩa: Di chuyển (Gamana), Nổi tiếng
(Vissuta), Tươi ướt/Dính mắc (Kilinna), Tích lũy (Upacita),
Chuyên tâm (Anuyoga), Nhận thức qua Nhĩ thức (Sotaviññeyya), và
Ghi nhớ/Lĩnh hội qua Nhĩ môn (Sotadvārānusāraviññāta).
Ví dụ Kinh điển:
-
Di chuyển: "Senāya pasuto" = Đi cùng đội quân.
-
Nổi tiếng: "Sutadhammassa passato" = Của người nổi tiếng về Pháp.
-
Tươi ướt/Nhiễm ố: "Avassutā avassutassa" = Người bị dính mắc đối với người dính mắc.
-
Tích lũy: "Tumhehi puññaṃ pasutaṃ anappakaṃ" = Phước báu được tích lũy bởi quý
vị là không ít.
-
Chuyên tâm: "Ye jhānapasutā dhīrā" = Những bậc trí chuyên tâm vào Thiền định.
-
Đối tượng của Nhĩ thức: "Diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ" = Thấy, nghe, cảm nhận.
-
Ghi nhớ qua Nhĩ môn: "Sutadharo sutasannicayo" = Bậc gìn giữ điều đã nghe, tích lũy điều
đã nghe.
Ở đây, "Suta" có
nghĩa là: Sự ghi nhớ / Lĩnh hội qua ngõ Nhĩ môn
(Sotadvārānusārena upadhāritaṃ).
V.
Ý Nghĩa Của "Evaṃ me sutaṃ"
1.
Về mặt Nhận thức luận:
o
Evaṃ: Chỉ ra chức năng của nhĩ thức và
các thức liên quan.
o
Me: Chỉ ra cá nhân/chủ thể sở hữu nhận
thức ấy.
o
Sutaṃ: Thể hiện sự tiếp nhận không hư
hỏng, không thiếu, không thừa, không sai lệch (loại bỏ việc
không nghe hoặc nghe sai).
2.
Về mặt diễn trình tâm (Cittavīthi):
o
Evaṃ: Bày tỏ trạng thái tiến trình tâm
diễn ra qua Nhĩ môn đối với các cảnh/đối tượng đa dạng.
o
Me: Bày tỏ về Ngã/Chủ thể (tương đối).
o
Sutaṃ: Bày tỏ về Giáo pháp.
o
Tóm lại: "Trong tiến trình tâm diễn ra qua Nhĩ môn đối với các đối tượng đa dạng,
tôi không làm gì khác; đây là việc tôi đã làm: Giáo pháp này đã
được nghe."
3.
Về mặt Tác giả và Ý niệm:
o
Evaṃ: Khái niệm về phương thức
(Ākārapaññatti).
o
Me: Chỉ ra Tác giả (Kattu).
o
Sutaṃ: Chỉ ra Đối tượng / Cảnh
(Visaya).
4.
Về mặt Tánh Thật (Paramattha) và Tục Đế
(Paññatti):
o
Evaṃ và Me là Chế định không thực tánh
(Avijjamānapaññatti - Danh xưng dành cho thứ không có thực tánh
tối hậu).
o
Sutaṃ là Chế định có thực tánh
(Vijjamānapaññatti - Vì cái được nghe qua tai là có thực tánh
tối hậu).
5.
Về Pháp Luyện Tâm:
o
Từ Evaṃ biểu thị Không si mê (Asammoha)
-> Bắt nguồn từ Tuệ giác (Paññā).
o
Từ Sutaṃ biểu thị Không quên sót
(Asammosa) -> Bắt nguồn từ Chánh niệm (Sati).
o
Sự kết hợp giữa Niệm và Tuệ giúp Tôn
giả Ānanda bảo tồn trọn vẹn Kho tàng Pháp (Dhammakosa), đắc
thành vị Đa Văn Pháp Tạng (Dhammabhaṇḍāgārika).
o
Evaṃ biểu thị Như lý tác ý (Yoniso
manasikāra); Sutaṃ biểu thị Tâm không phóng dật (Avikkhepa).
6.
Về sự viên mãn 4 Bánh xe Pháp (Cakka):
o
Evaṃ biểu thị sự viên mãn của 2 Bánh xe
sau (Pacchimacakkadvaya): Trú ở nơi thích hợp và Tự hướng tâm
chân chánh (Sammāpaṇidhi), giúp làm sạch Ý định (Āsayasuddhi) và
đạt được Sự thông suốt Ngộ nhập (Adhigamabyatti).
o
Sutaṃ biểu thị sự viên mãn của 2 Bánh
xe đầu (Purimacakkadvaya): Thân cận bậc Thiện tri thức và Tích
lũy phước lành quá quá khứ, giúp làm sạch Phương tiện/Hành trì
(Payogasuddhi) và đạt được Sự thông suốt Pháp học (Āgamabyatti).
7.
Phá trừ sự bất kính và phát sanh Lòng
tin (Saddhā):
o
Tôn giả Ānanda không tự xưng Pháp này
do mình sáng tạo, loại bỏ phẩm tính của kẻ bất thiện, đứng vào
hàng ngũ Thánh đệ tử. Tôn giả khẳng định: "Đây hoàn toàn là Lời
của Đức Thế Tôn, tôi chỉ là người nghe."
o
Do đó có câu kệ tán dương:
“Phá tan sự bất tin,
Làm tăng trưởng niềm ,
Đệ tử Phật tuyên bố:
'Tôi được nghe như vầy' (Evaṃ me
sutaṃ).”
VI. GIẢI THÍCH CỤM
TỪ "Ekaṃ samayaṃ
BHAGAVĀ"
-
Ekaṃ: Xạ
định số lượng (Một).
-
Samayaṃ: Thời
gian / Thời điểm / Dịp.
-
Từ Samaya xuất hiện với
nhiều nghĩa:
1.
Hội họp / Hòa hợp (Samavāya)
2.
Sát-na / Thời cơ (Khaṇa)
3.
Thời gian (Kāla)
4.
Đoàn thể / hội chúng (Samūha)
5.
Nguyên nhân / Nhân duyên (Hetu)
6.
Tà kiến / Quan điểm (Diṭṭhi)
7.
Đắc được (Paṭilābha)
8.
Đoạn trừ (Pahāna)
9.
Thông đạt / Ngộ nhập (Paṭivedha)
Ở đây, Samaya có
nghĩa là Thời gian (Kāla).
Đức Thế Tôn thuyết giảng bài kinh này vào một thời điểm cụ thể (năm, mùa,
tháng, ngày, canh...). Tuy nhiên, thay vì liệt kê chi tiết phức
tạp gây khó nhớ, Tôn giả Ānanda gom lại bằng một từ duy nhất: “Ekaṃ samayaṃ” (Một thuở / Một
thời).
VII. GIẢI THÍCH CỤM
TỪ "BHAGAVĀ" (ĐỨC THẾ TÔN)
-
Bhagavā nghĩa
là Bậc Tôn Kính (Garu). Ngài là bậc Tôn kính nhất của tất cả
chúng sinh nhờ hội đủ mọi ân đức vô thượng.
-
Phân tích ngữ nguyên kệ ngôn Chú
giải:
-
Bhagyavā: Bậc
có đầy đủ Hữu phước / Phước báu (Bhagya).
-
Bhaggavā: Bậc
đã bẻ gãy / chặt đứt (Bhagga) mọi tham, sân,痴,
phiền não.
-
Vibhattavā: Bậc
đã phân tích / Thuyết giảng (Vibhatta) giáo pháp.
-
Bhattavā: Bậc
được chúng sinh phụng sự / Luôn thân cận các Pháp lành.
-
Vantagamano bhavesu: Bậc đã nôn mửa / Từ bỏ sự đi lại trong các cõi sinh
hửu (Bhava).
VIII. BỐI CẢNH ĐỊA
LÝ & BẢO TỌA (SĀVATTHIYAṺ JETAVANE...)
-
Sāvatthiyaṃ (Tại Xá-vệ): Cụm từ mang ý nghĩa Năng vị cách / Địa điểm lân cận (Samīpattha).
Đức Thế Tôn ở tại khu rừng Jetavana, vốn nằm cận kề thành
Sāvatthī. Từ Sāvatthī cho biết làng khẩn thực (Gocaragāma),
còn các từ tiếp theo cho biết nơi cư trú thích hợp của bậc
xuất gia.
-
Jetavane (Tại Kỳ Đà / Rừng Jeta): Khu rừng do Thái tử Jeta trồng, chăm sóc và bảo vệ.
-
Anāthapiṇḍikassa ārāme (Tại ngôi già lam do ông Cấp
Cô Độc dâng cúng): Tu viện do Trưởng giả
Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) mua và dâng cúng đến chư Tăng
đứng đầu là Đức Phật với chi phí 54 triệu đồng vàng.
IX. SỰ XUẤT HIỆN CỦA
CHƯ THIÊN (AÑÑATARĀ DEVATĀ)
-
Aññatarā devatā: Một
vị Thiên tử không rõ tên họ. Từ Devatā là từ dùng chung cho
cả Nam chư thiên (Deva) và Nữ chư thiên (Devadhītā). Ở đây
chỉ một vị Nam chư thiên thuộc cõi Sắc giới (Rūpāvacara).
-
Abhikkantāya rattiyā (Khi đêm đã gần tàn): Vị Thiên tử đến vào Canh giữa (Majjhimayāma) hoặc đầu Canh cuối của
đêm. Theo quy luật của chư Thiên, họ thường đến đảnh lễ và
hầu cận Đức Phật hoặc chư Thánh đệ tử vào khoảng canh giữa
đêm để tránh làm phiền người đời.
-
Abhikkantavaṇṇā (Với nhan sắc thù thắng): Vị chư thiên hóa thân thành một sắc thân thô sơ hơn nhưng vô cùng
tráng lệ, chiếu sáng rực rỡ. Chư thiên cõi Sắc giới có sắc
thân cực kỳ vi tế, nếu không cố ý hóa thân (Abhisaṅkhata)
thì không thể di chuyển hay xuất hiện trước mắt người cõi
Dục.
-
Kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā (Chiếu sáng toàn
bộ rừng Jetavana): Luồng ánh sáng phát ra từ trang
phục, trang sức và thân thể vị thiên tử làm bừng sáng toàn
bộ Kỳ Viên như ánh mặt trời, mặt trăng.
X. PHÁP ĐỐI THOẠI:
VƯỢT QUA BỘC LƯƯ (OGHATARAṆA)
Vị Thiên tử đến gần, kính cẩn đứng sang một bên (Ekamantaṃ aṭṭhāsi). Vị ấy
đứng tránh 6 lỗi về vị trí đứng: Không quá xa, không quá gần,
không ở đầu hướng gió, không đứng chỗ cao hơn, không đứng đối
diện trực diện mắt-đối-mắt, không đứng ngay phía sau lưng.
1. Câu hỏi của Thiên tử:
"Kathaṃ nu tvaṃ, mārisa, oghamatari?"(Bạch Bậc Không-Đau-Khổ [Mārisa], làm
sao Ngài có thể vượt qua dòng lũ ?
Bốn Bộc lưu (Ogha -
Dòng lũ lớn):
1.
Dục bộc lưu (Kāmogha): Tham ái
trong 5 dục trưởng dưỡng.
2.
Hữu bộc lưu (Bhavogha): Tham ái
đối với cõi Sắc, Vô sắc và sự dính mắc Thiền định.
3.
Kiến bộc lưu (Diṭṭhogha): 62 tà
kiến.
4.
Vô minh bộc lưu (Avijjogha): Sự không hay biết trong Bốn Thánh đế.
Các Bộc lưu này gọi là Ogha vì hai nghĩa:
Nhận chìm (dìm chúng sinh xuống các cõi dữ) và
Tràn ngập (khối phiền não ngập tràn từ địa
ngục A Tỳ / Avīci cho đến Cõi Trời Cao Nhất / Bhavagga).
2. Câu trả lời ẩn dụ của Đức Thế Tôn:
"Appatiṭṭhaṃ khvāhaṃ, āvuso, anāyūhaṃ oghamatarin"ti.
(Này chư Thiên, Ta không dừng lại, không bước tới mà vượt qua bộc lưu.)
-
Appatiṭṭhaṃ: Không
đứng lại / Không chìm xuống.
-
Anāyūhaṃ: Không
vùng vẫy / Không để bị dòng nước cuốn trôi đi.
3. Bảy cặp phạm trù Chú giải :
Đức Thế Tôn dùng câu nói ẩn đố nhằm hạ giục tâm tự mãn (Māna) của vị Thiên
tử vốn tưởng mình đã thông suốt mọi điều. Khi vị Thiên tử thành
tâm cầu học, Đức Phật mới phân giải qua
7 cặp Pháp (Duka):
1.
Nhận chìm do Phiền não
(Saṃsīdati) / Cuốn trôi do Hành nghiệp tạo tác
(Nibbuyhati).
2.
Nhận chìm do Tham ái & Tà kiến / Cuốn
trôi do Các phiền não còn lại & Hành nghiệp.
3.
Nhận chìm do Tham ái / Cuốn trôi do Tà
kiến.
4.
Nhận chìm do Thường kiến
(Sassatadiṭṭhi) / Cuốn trôi do Đoạn kiến (Ucchedadiṭṭhi).
5.
Nhận chìm do Dã dượi / Thụ động (Līna)
/ Cuốn trôi do Phóng dật / Trượng phồng (Uddhacca).
6.
Nhận chìm do Đắm mình trong Dục lạc
(Kāmasukhallikānuyoga) / Cuốn trôi do Tự ép xác khổ hạnh
(Attakilamathānuyoga).
7.
Nhận chìm do Mọi Bất thiện hành
(Akusalābhisaṅkhāra) / Cuốn trôi do Mọi Thế gian Thiện hành
(Lokiyakusalābhisaṅkhāra).
Bằng cách thực hành Trung đạo (Majjhimā Paṭipadā), không sa vào hai cực
đoan (Không đứng lại - Không trôi giạt), Đức Thế Tôn đã vượt qua
dòng lũ.
XI. KẾT QUẢ ĐẮC ĐẠO
& CẢM TÁC CỦA THIÊN TỬ
Nghe xong lời giải thích tinh yếu này, vị Thiên tử lập tức đắc quả
Sơ quả Tu-đà-hoàn (Sotāpattiphala). Lòng tràn ngập hỷ lạc, vị ấy thốt lên kệ
ngôn:
Cirassaṃ vatāhaṃ passāmi,
Brāhmaṇaṃ parinibbutaṃ;
Appatiṭṭhaṃ anāyūhaṃ,
Tiṇṇaṃ loke visattikanti.
(Đã lâu lắm rồi, con tôi mới được thấy:
Một vị Bà la môn đã diệt độ trọn vẹn,
Không dừng lại, không bước tới,
Đã vượt qua Tham ái [Visattikā] ở trên đời!)
Đức Thế Tôn im lặng chấp thuận (Samanuñño satthā ahosi). Vị Thiên tử đảnh
lễ, cúng dường hương hoa
trời lên Đức Thập Lực rồi biến mất về thiên giới của
mình.