|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 02 tháng 06, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ I. PHẨM SONG ĐỐI (YAMAKAVAGGA)
I.
Kệ
số 19 & 20_ Phẩm Song Đối
Duyên sự:
Hai bài
kệ pháp cú 19 và 20 nầy được đức Phật thuyết tại Jetavana
thành
Sāvatthi, do câu chuyện hai vị tỳ kheo bằng hữu.
Tại
Sāvatthi có hai vị công tử là đôi bạn thân. Họ được nghe đức Phật thuyết pháp rồi
cùng nhau đi xuất gia.
Sau năm
năm y chỉ thầy tế độ, họ chia tay mỗi người đi theo chí
hướng riêng. Một vị chuyên pháp học (pariyattidhamma)
trở thành vị pháp sư lỗi lạc có đồ chúng đông. Một vị chuyên
pháp hành (paṭipattidhamma) thọ
trì hạnh đầu đà, tu thiền quán, chứng đắc A la hán, là vị
thiền sư tiếp độ nhiều đệ tử.
Thời
gian sau đó, vị tỳ kheo thiền sư dắt các đệ tử về Jetavana
để đảnh lễ bậc Đạo Sư. Nhân dịp ghé qua thăm bạn là vị tỳ
kheo pháp sư.
Vị tỳ
kheo pháp sư nghĩ rằng bạn mình xuất gia không học pháp, chỉ
hành thiền sống ở núi rừng, có lẽ dốt … nên tỏ thái độ kiêu
mạn và khinh thường vị tỳ kheo thiền sư.
Trước
hội chúng tỳ kheo, vị pháp sư muốn làm bẽ mặt vị thiền sư
nên đưa ra những câu hỏi về kinh điển cho vị thiền sư không
trả lời được. Biết được thâm ý của vị tỳ kheo pháp sư và với
tâm bi mẫn không để vị pháp sư xúc phạm thánh nhân, đức
Phật lập tức xuất hiện giữa hội chúng tỳ kheo nầy. Ngài nêu
ra những câu hỏi liên quan đến sự chứng nghiệm giải thoát.
Vị pháp
sư dù thông suốt giáo pháp nhưng chưa tự mình thắng tri nên
không thể trả lời những câu hỏi của đức Phật.
Vị tỳ
kheo thiền sư vì đã chứng đắc đạo quả giải thoát, nên đã trả
lời đức Phật bằng sự kinh nghiệm thực chứng, không khó khăn
gì. Đức Phật hài lòng.
Nhân đó
đức Phật thuyết hai bài kệ: “Bahumpi ce sahitaṃ bhāsamāno, dù nói
nhiều kinh điển ..v.v..”
Chánh văn:
(dhp 19)
Bahumpi ce sahitaṃ bhāsamāno
(dhp 20)
Appampi ce sahitaṃ bhāsamāno
Thích văn:
bahumpi
[hợp âm bahuṃ api]
bahuṃ [đối cách số
ít của tính từ bahu]
nhiều, số lượng nhiều.
api
[bất biến
từ] dù, mặc dù, cho dù.
ce
[hình thức
giản lược của giới từ sace]
nếu, nếu như.
sahitaṃ [đối cách số ít của danh từ trung tính sahita] kinh điển, thánh thư.
bhāsamāno
[chủ cách
số ít của hiện tại phân từ bhāsamāna,
do
động từ bhāsati]
nói, thuyết, phát biểu.
na
[phủ định
từ] không, không có.
takkaro
[chủ
cách số ít của danh từ nam tính
takkara, hợp thể taṃ karotī’ti takkaro]
không làm
điều ấy, không áp dụng, không thực hành.
hoti
[thì hiện
tại ngôi III số ít, động từ hoti
(căn
hū + a)]
là,
có. Đây dùng như một trợ động từ.
naro
[chủ cách
số ít của danh từ nam tính nara]
người nam, người đàn ông. Dùng trong ngữ cảnh nầy có nghĩa
là con người, hạng người.
pamatto
[chủ cách số ít của tính từ
pamatta quá khứ phân từ của động từ
pamajjati] giải đãi, dể
duôi, buông lung.
gopo’va [hợp âm gopo iva]
gopo
[chủ
cách số ít của danh từ nam tính
gopa] người giữ, người chăm nom, người chăn.
gāvo
[đối cách
số nhiều của danh từ nam tính go]
trâu bò, gia súc.
gaṇayaṃ
[chủ cách số ít của hiện tại phân từ
gaṇayanta = gaṇenta;
động
từ cơ bản gaṇe/ganaya]
đếm,
đếm số.
paresaṃ
[sở thuộc cách
số nhiều của phiếm chỉ đại từ
para] của những người khác.
bhāgavā
[chủ cách số ít của danh tính từ
bhāgavantu] có
phần, hưởng phần, dự phần.
sāmaññassa
[chỉ định cách số ít của danh từ trung tính
sāmañña (samaṇa
+ ṇya)] trạng thái sa môn, quả vị sa môn, sa môn vị, sa môn hạnh.
appampi
[hợp âm
appaṃ api]
appaṃ
[đối
cách số ít của tính từ appa]
số
ít, ít ỏi.
dhammassa
[chỉ
định cách số ít của danh từ
dhamma] pháp, giáo pháp.
anudhammacārī
[ chủ cách số ít của danh từ hợp thể
anudhammacārī
(anudhamma + cārī)]
người hành thuận pháp, hành tuần tự, thực hành nghiêm túc.
rāgañca
(rāgaṃ ca)
rāgaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính
rāga] tham ái, ái
tình.
dosañca
(dosaṃ ca)
dosaṃ
[đối cách số ít của danh từ nam tính
dosa] sân, sân hận.
pahāya
[bất
biến quá quá phân từ của động từ
pajahati
(pa + căn hā)]
sau khi từ bỏ, sau khi đoạn
trừ, đã từ bỏ, đã đoạn trừ.
mohaṃ
[đối cách số ít của danh từ nam tính
moha] si, si mê.
sammappajāno
[chủ cách số ít của danh từ hợp thể
sammappajāna (sammā + pajāna)]
giác
tỉnh, chánh trí, sự hiểu biết chân chánh, sự nhận thức đúng
đắn.
suvimuttacitto
[chủ cách
số ít của danh từ hợp thể
savimuttacitta (savimutta + citta +
ṇa)] có
tâm khéo giải thoát, người mà
tâm được giải thoát hoàn toàn.
anupādiyāno
[(na
+ upādiyāna)
_ hình thức
giản lược của hiện tại phân từ
upādiyamāna] không còn chấp thủ, không chấp trước.
idha
[trạng từ] ở
đây, đời nầy (= idhaloka).
huraṃ
[trạng từ] ở
bên kia, đời khác, đời sau (=
paraloka)
sa
[hình thức
đổi khác của so trong thi
kệ. so _ chủ cách số ít
của chỉ thị đại từ “ta”
nam tính] vị ấy, người ấy.
Việt văn:
(pc 19)
Dù nói nhiều kinh điển
(pc 20)
Dù nói ít kinh điển
Chuyển văn:
Bahuṃ sahitaṃ api ce bhāsamāno pamatto
naro na takkaro hoti na sāmaññassa bhāgavā hoti paresaṃ gāvo
gaṇayaṃ gopo iva.
Mặc dù nói nhiều kinh điển, người dể duôi không hành theo điều
đã nói, nó không hưởng được quả vị sa môn, chỉ ví như kẻ chăn bò đếm bò cho người khác thôi.
Appaṃ sahitaṃ api ce bhāsamāno dhammassa
anudhammacārī hoti rāgaṃ ca dosaṃ ca mohaṃ ca pahāya idha vā
huraṃ vā anupādiyāno sammappajāno savimuttacitto so
sāmaññassa bhāgavā hoti.
Mặc dù nói ít kinh điển nhưng nghiêm túc thực hành giáo
pháp, từ bỏ tham sân si, không còn chấp thủ đời nầy hoặc đời
sau, có hiểu biết chân chánh, tâm được khéo giải thoát,
người ấy hưởng được quả vị sa môn.
Lý giải:
Danh từ sahitaṃ
trong hai bài kệ có nghĩa
là Phật ngôn trong tam tạng (sahitan’ti tepiṭakassa buddhavacanaṃ
etaṃ nāmaṃ).
Danh từ sāmaññassa, là bốn sa môn quả (sāmaññassaphala):
quả Tu đà hườn (sơ quả), quả Tư đà hàm (nhị quả), quả A na
hàm (tam quả), và quả A la hán (tứ quả). Bốn quả vị nầy còn
được gọi là đệ nhất sa môn, đệ nhị sa môn, đệ tam sa môn và
đệ tứ sa môn.
Trong hai bài kệ 19 và 20 không phải đức Phật chỉ trích
việc học và nói pháp nhiều, cũng không phải Ngài tán thán vị
tỳ kheo ít học và ít nói pháp. Ở đây đức Phật thuyết đề cập
đến hai trường hợp, vị tỳ kheo pháp sư biết pháp và nói pháp
nhiều cho người khác nghe nhưng bản thân vị ấy không hành
theo giáo pháp nên không nếm được hương vị giải thoát, còn
vị tỳ kheo thiền sư mặc dù học pháp ít và ít thuyết pháp
nhưng tinh tấn thực hành giáo pháp là thiền định nên vị ấy
nếm được hương vị giải thoát.
Có 4 trường hợp nầy:
Một vị tỳ kheo học hiểu và thuyết pháp nhiều lại có tu
tập, là hạng tối ưu.
Một vị tỳ kheo học hiểu pháp ít và ít thuyết pháp nhưng có
tu tập, cũng là hạng đáng tán thán.
Một vị tỳ kheo học hiểu và thuyết pháp nhiều nhưng không
tu tập, thì có phần đáng khen cũng có phần đáng chê.
Một vị tỳ kheo ít học pháp, ít thuyết pháp, cũng không
thực hành pháp, là hạng hoàn toàn đáng bị chê.
Hạng thứ nhất hoàn toàn đáng được tán thán vì hành lợi
người lợi mình.
Hạng thứ hai có phần đáng khen có phần đáng chê vì làm lợi
mình nhưng không lợi người; tuy nhiên đáng khen nhiều hơn là
đáng chê bởi tự mình nếm được hương vị giáo pháp.
Hạng thứ ba có phần đáng khen cũng có phần đáng chê vì chỉ
làm lợi người nhưng không lợi mình; Hạng nầy đáng khen vì
còn có hiểu pháp và truyền bá giáo pháp, đáng chê vì không
nếm hương vị giáo pháp.
Hạng thứ tư hoàn toàn đáng bị chê vì không làm lợi người
lợi mình. Sự xuất gia của vị ấy không có giá trị.
(Dứt Phẩm Song Đối) @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |