|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 05 tháng 06, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ II. Phẩm Không Dể Duôi _ Kệ số 1,2 & 3
Duyên sự:
Bài
kệ nầy được đức Phật thuyết ở chùa Ghositārāma,
gần
thành Kosambī,
do
câu chuyện về cái chết của hoàng hậu
Sāmāvatī và
cái chết của thứ hậu
Māgandiyā.
Vua xứ Udena xứ Kosambī
có
ba bà vợ chánh hậu
Sāmāvatī,
thứ hậu Vāsuladattā
và
thứ hậu
Māgandiyā.
Hoàng hậu
Sāmāvatī
là nữ đệ tử của đức Phật, nhờ nghe pháp do thánh cư sĩ
Khujjuttarā
trùng
thuật mà hoàng hậu và 500 cung nữ chứng quả Dự Lưu.
Thứ hậu
Māgandiyā
là con gái của hai vợ chồng bà la môn
Māgandiyā.
Lúc xuân thời là một thiếu nữ có nhan sắc, một lần theo cha
mẹ đến gặp đức Phật, Ngài thuyết pháp độ hai ông bà đắc A na
hàm. Và sau đó đã xuất gia, cả hai chứng A la hán. Riêng
tiểu thư
Māgandiyā
vì tự ái khi nghe đức Phật thuyết pháp chỉ trích xác thân
bất tịnh nên ôm hận trong lòng. Đến khi nàng được vua Udena
rước về làm thứ hậu thì nàng
Māgandiyā
dùng quyền lực khiến bọn côn đồ chặn đường
đức Phật dùng lời khiếm nhã chửi rủa mắng nhiếc đức Phật để
rữa hận. Nhưng chưa hả giận,
Māgandiyā
biết hoàng hậu
Sāmāvatī
là đệ tử của đức Phật, bèn bày mưu tính kế hại hoàng hậu.
Thứ hậu
Māgandiyā
đã nhiều phen sàm tấu với đức vua về hoàng hậu
Sāmāvatī.
Lúc đầu nhà vua cả tin lời sàm tấu, nỗi cơn thịnh nộ và đích
thân vua xử tử hoàng hậu, nhưng hoàng hậu an trú pháp và
không chút oán hận đã khiến vua tỉnh ngộ, càng sủng ái hoàng
hậu hơn nữa.
Tức giận, thứ hậu
Māgandiyā
thừa dịp nhà vua vi hành ngoại thành, đã
khiến người chú ruột cùng đám thân tín hoả thiêu hậu cung
giết chết hoàng hậu
Sāmāvatī
và 500 phi tần.
Vua Udena mất hoàng hậu, đau lòng khôn xiết. Vua muốn tìm ra
thủ phạm giết hoàng hậu, giả vờ như rất hài lòng và muốn ban
thưởng cho ai đã giết hoàng hậu.
Thứ hậu
Māgandiyā
đã lộ mặt lãnh công. Nhà vua bảo hãy mời hết thân quyến cùng
tuỳ tùng của thứ hậu tập họp lại để ban thưởng. Thế là vua
đã hành hình xử tử thứ hậu
Māgandiyā
và toàn gia của thứ hậu.
Sau cái chết thảm của hoàng hậu
Sāmāvatī
và 500 cung tần, chư tỳ kheo bạch hỏi đức Phật họ đã tạo
nghiệp gì mà bị chết cháy như vậy. Đức Phật đã giải thích
tiền nghiệp của họ đã cố ý thiêu chết một vị Phật Độc Giác
khi Ngài đang nhập đại định trong bụi lùm, nên nay
phải lãnh
chịu quả của ác nghiệp ấy.
Chư tỳ kheo lại hỏi thêm trường hợp hoàng hậu
Sāmāvatī
bị hoả thiêu chết và thứ hậu
Māgandiyā
bị xử tử chết, hai cái chết ấy có khác biệt gì?
Đức Phật đã trả lời bằng ba bài kệ với ngụ ý thâm thuý:
Appamādo
amatapadaṃ,
không
dể duôi bất tử ..v.v..
Chánh văn:
(dhp
21)
Appamādo
amatapadaṃ
pamādo maccuno padaṃ
appamattā na mīyanti
ye pamattā yathā matā.
(dhp
22)
Etaṃ visesato ñatvā
appamādamhi paṇḍitā
appamāde pamodanti
ariyānaṃ gocare ratā.
(dhp
23)
Te jhāyino sātatikā
daḷhaparakkamā
phusanti dhīrā nibbānaṃ
yogakkhemaṃ anuttaraṃ.
Thích văn:
appamādo
[chủ
cách số ít của danh từ hợp thể appamāda
(na + pamāda)] sự
không dể duôi, không giải đãi, bất khinh suất.
amatapadaṃ
[chủ
cách số ít trung tính của danh từ hợp thể amatapada
(amata + pada)] đạo lộ bất tử, con đường đến níp bàn.
pamādo
[chủ
cách số ít nam tính của danh từ pamāda]
sự
dể duôi; sự buông lung, sự giải đãi, sự khinh suất.
maccuno
[sở
thuộc cách số ít nam tính
của
danh từ maccu] sự chết, sự diệt vong, tử vong.
padaṃ
[chủ
cách số ít trung tính của danh từ pada] bước chân,
con đường, đạo lộ.
appamattā
[chủ
cách số nhiều của tính từ appamatta (na + pamatta) _
quá khứ phân từ của động từ pamajjati)] không dể
duôi, không buông lung; người không dể duôi.
mīyanti
[thì
hiện tại ngôi III, số nhiều. (
căn mar
+ ya) đổi ra hình thức cơ bản là mīya
/ miyya,
thành
hình thức động từ mīyati,
miyyati]
chết,
tử vong.
ye
[chủ
cách số nhiều nam tính của liên quan đại từ ya] những
ai, những người nào.
pamattā
[chủ
cách số nhiều của tính từ pamatta _ quá khứ phân từ
của động từ pamajjati] những kẻ dể duôi, phóng túng.
yathā
[trạng
từ] như, như thể, như là.
matā
[chủ
cách số nhiều của mata _ quá khứ phân từ của động từ
marati] đã chết, chết rồi.
etaṃ
[đối
cách số ít của chỉ thị đại từ eta] điều đó, việc đó,
cái đó.
visesato
[(visesa
+ to). Dùng như trạng từ] sai biệt, khác biệt
ñatvā
[(
căn ñā + tvā) _Bất
biến quá khứ phân từ của động từ jānāti]
sau khi biết,
khi đã biết rõ.
appamādamhi,
appamāde
[định
sở cách số ít nam tính của danh từ hợp thể appamāda]
trong
sự không dể duôi.
paṇḍitā
[chủ
cách số nhiều của danh từ nam tính
paṇḍita]
những
bậc hiền trí, các bậc trí tuệ.
pamodanti
[thì
hiện tại ngôi III, số nhiều của động từ pamodati (pa
+
căn
mud + a)]
hoan hỷ,
hân hoan.
ariyānaṃ
[sở
thuộc cách số nhiều của danh từ nam tính ariya] của
các bậc thánh, của chư thánh.
gocare
[định
sở cách số ít của danh từ nam tính gocara] trong hành
xứ, trong cảnh giới.
ratā
[chủ
cách số nhiều của rata (
căn
ram + ta) quá khứ phân từ của động từ ramati] vui,
thích thú.
te
[chủ
cách số nhiều nam tính của chỉ thị đại từ ta] những
người ấy, những vị ấy.
jhāyino
[chủ
cách số nhiều của danh từ nam tính jhāyī]
những
vị tu thiền, người có thiền.
sātatikā
[chủ
cách số nhiều nam tính của tính từ sātatika
(satata + ṇika)] liên
tục, luôn luôn.
niccaṃ
[trạng
từ] thường xuyên, thường thường.
daḷhaparakkamā
[chủ
cách số nhiều nam tính của danh từ hợp thể daḷhaparakkama
(daḷha + parakkama)] sự
nỗ lực kiên trì, sự tinh tấn kiên cường.phusanti
[thì
hiện tại ngôi III số nhiều của động từ phusati (
căn
phus + a)] chạm đến; chứng đắc.
dhīrā
[chủ
cách số nhiều của danh từ nam tính dhīra]
bậc
trí, người có trí, người sáng suốt.
nibbānaṃ
[đối
cách số ít của danh từ trung tính nibbāna]
níp
bàn, sự diệt ái, sự ly tham, tịch diệt.
yogakkhemaṃ
[đối
cách số ít trung tính của tính từ hợp thể yogakkhema
(yoga + khema)] ách an ổn, thoát khỏi ách phược.
anuttaraṃ
[đối
cách số ít trung tính của tính từ anuttara (na +
uttara)]
vô
thượng, tối thượng, không gì cao hơn.
Việt
văn:
(pc
21)
Không
dể duôi, bất tử
dể duôi, đường diệt vong
không dể duôi không chết
dể duôi như chết rồi.
(pc
22)
Biết
rõ sai biệt ấy
người trí không dể duôi
hoan hỷ không dể duôi
vui cảnh giới bậc thánh.
(pc
23)
Người ấy liên tục thiền
luôn kiên trì tinh tấn
bậc trí chứng níp bàn
ách an ổn, vô thường.
Chuyển văn:
Appamādo
amatapadaṃ (hoti) pamādo maccuno padaṃ (hoti). Ye appamattā
(te) na mīyanti (ye) pamattā (te) yathā matā (honti).
Không
dể duôi là đạo lộ bất tử, dể duôi là con đường tử vong.
Người không dể duôi là người không chết, người dể duôi là
như chết rồi.
Etaṃ
visesato ñatvā paṇditā appamādamhi (tiṭṭhanto) appamāde
pamodanti ariyānaṃ gocare
ratā (honti).
Sau khi biết rõ điều đó khác biệt nhau, các bậc trí trú
trong sự không dể duôi, hoan hỷ trong sự không buông lung,
vui thích trong cảnh giới bậc Thánh.
Te dhīrā
jhāyino sātatikā niccaṃ daḷhaparakkamā yogakkhemaṃ anuttaraṃ
nibbānaṃ phusanti.
Các
bậc trí ấy liên tục thiền định, luôn luôn tinh tấn kiên trì,
chứng đắc níp bàn vô thượng, an ổn khổ ách.
Lý giải:
Trong duyên
sự, hai bà ái hậu của vua Udena đều chết thảm, hoàng hậu
Sāmāvatī bị
hoả thiêu chết do ác nghiệp quá khứ; Thứ hậu Māgandiyā
bị
hành hình mà chết do hành vi ác hiện tại. Khi các tỳ kheo
hỏi đức Phật hai cái chết ấy ai thật sự chết? Đức Phật đã
trả lời bằng cách nói ẩn ý: Người không dể duôi là người
không chết, người dễ duôi là người thật sự chết. Điều nầy có
ý nghĩa thế nào?
Có nghĩa là hoàng hậu
Sāmāvatī
và 500 cung nữ đều đã chứng níp bàn với quả hữu học, là
người không còn dể duôi, chắc chắn sẽ đạt đến trạng thái vô
sanh bất tử là viên tịch níp bàn, chấm dứt sanh tử luân hồi.
Nên đức Phật nói rằng: Appamādo
amatapadaṃ ye appamattā na mīyanti
_ Không
dể duôi là đạo bất tử, người không dể duôi không chết.
Còn như thứ hậu Māgandiyā
và tuỳ tùng thân quyến là những người có tâm ác độc xấu xa,
hành vi tội lỗi, phàm tục, mãi chìm đắm trong bể khổ trầm
luân, dù những người ấy hiện tại còn sống nhưng sống dể duôi
nên xem như chết rồi, nói chi là bị giết chết. Do đó đức
Phật mới nói rằng: Pamādo
maccuno padaṃ ye pamattā yathā matā
_ Dể
duôi là con đường tử sanh, người dể duôi như đã chết rồi.
Rồi nhân sự kiện nầy, đức Phật đã thuyết thêm hai bài kệ nữa
để khích lệ sách tấn cho chư tỳ kheo.
Bài kệ 22.
Những người có trí tuệ khi hiểu rõ đạo lộ (padaṃ)
khác biệt _ đạo lộ bất tử (amatapadaṃ)
là
sự không dể duôi, đạo lộ tử sanh (maccupadaṃ)
là
sự dể duôi, thì các người trí ấy sống không buông lung, hoan
hỷ trong pháp không giải đãi, vui với cảnh giới bậc thánh,
tức là ba mươi bảy giác phần (Bodhipakkhiyadhamma) và
chín siêu thế pháp (Navalokuttaradhamma).
Ba mươi bảy pháp giác phần là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ
như ý túc, ngũ quyền, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo.
Chín siêu thế pháp là bốn đạo, bốn quả và níp bàn.
Bài kệ 23.
Các bậc trí ấy, là bậc không dể duôi, liên tục tu thiền. Có
hai loại thiền: Thiền chú tâm vào cảnh đề mục (ārammaṇūpanijjhāna)
đắc
bát định (aṭṭhasamāpatti),
đây
gọi là thiền chỉ (samatha); Thiền chú
tâm vào tướng hữu vi (lakkhaṇūpanijjhāna)
đắc đạo quả (maggaphala), đây gọi là thiền quán
(vipassanā).
Tu
thiền liên tục không gián đoạn, từ lúc xuất gia cho đến khi
chứng đạo quả hay thiền định, và bằng sự nỗ lực kiên trì,
không ngại khó khăn gian khổ.
Có nỗ lực tu thiền như vậy bậc đại trí ấy mới chứng níp bàn,
một trạng thái pháp siêu thế tuyệt đối an bình vì không còn
ách phược (yoga): dục ách, hữu ách, kiến ách và vô
minh ách là bốn pháp khiến chúng sanh mắc vào vòng luân hồi.
Níp bàn tháo gở bốn ách đó nên gọi là ách an ổn
(yogakkhemaṃ)
và
gọi là vô thượng không có gì cao quí hơn. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |