|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 06 tháng 06, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VI. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN ,(S.i,155)- PHẨM THỨ HAI.
Bài
4. Kinh Aruṇavatī (Aruṇavatīsuttaṃ)
-VƯỢT THỜI GIAN, KHÔNG GIAN.
Không gian và
thời gian là những chiều kích bao la, khôn cùng trong thế
giới nhận thức.Khó tưởng tượng được những thức có thể vang
xa và giá trị tồn tại vượt thời gian. Bài kinh nầy ghi lại
một kệ ngôn đã từng vang dội một ngàn thế giới và được nhắc
bởi hai vị Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời cách nhau 31 đại
kiếp trái đất. Có thể trên phương diện ngôn từ thì tám câu
kệ không phải khó hiểu. Thế nhưng ý nghĩa chân thực của sự
phát tâm dõng mãnh hành trì lời Phật dạy vượt thoát tử sanh
không phải là điều chỉ suy tư mà thấu đạt. Đó là hành trình
từ bờ mê sang bến giác, từ khổ đau đến hạnh phúc tối thượng.
Đó là thứ chiều kích không thể đo đạt bằng thơi gian hay
không gian.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ
viharati...pe... tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi –
‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato
paccassosuṃ.
Bhagavā etadavoca –
Tôi được nghe như vầy
Thuở ấy Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthi...,...
Tại đấy, Thế Tôn gọi
các vị tỳ khưu:
-- Hỡi chư tỳ khưu.
-- Dạ, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Đức
Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như sau:
‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, rājā ahosi aruṇavā nāma. Rañño kho
pana, bhikkhave, aruṇavato aruṇavatī nāma rājadhānī ahosi.
Aruṇavatiṃ kho pana, bhikkhave, rājadhāniṃ [aruṇavatiyaṃ kho
pana bhikkhave rājadhāniyaṃ (pī. ka.)] sikhī bhagavā arahaṃ
sammāsambuddho upanissāya vihāsi. Sikhissa kho pana,
bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa
abhibhūsambhavaṃ nāma sāvakayugaṃ ahosi aggaṃ bhaddayugaṃ.
Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṃ sammāsambuddho
abhibhuṃ bhikkhuṃ āmantesi – ‘āyāma, brāhmaṇa, yena aññataro
brahmaloko tenupasaṅkamissāma, yāva bhattassa kālo
bhavissatī’ti. ‘Evaṃ, bhante’ti kho bhikkhave, abhibhū
bhikkhu sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa
paccassosi. Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṃ
sammāsambuddho abhibhū ca bhikkhu – seyyathāpi nāma balavā
puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ
samiñjeyya evameva – aruṇavatiyā rājadhāniyā antarahitā
tasmiṃ brahmaloke pāturahes uṃ.
Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṃ sammāsambuddho
abhibhū ca bhikkhu – seyyathāpi nāma balavā puriso
samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya
evameva – aruṇavatiyā rājadhāniyā antarahitā tasmiṃ
brahmaloke pāturahesuṃ.
Này các Tỳ khưu, thuở xưa có vị vua tên
. Kinh đô của vị nầy có
tên Aruṇavati.
Đức Thế Tôn Sikhī, bậc Ứng cúng,
Chánh biến tri trú với sự hộ độ từ Aruṇavati. Đức Thế Tôn
Sikhī có hai vị thượng thủ thinh văn là Abhibhū và Sambhava.
Rồi Đức Thế Tôn Sikhī gọi tỳ
khưu Abhibhu:
“Nầy Phạm chí, chúng ta hãy đi đến cõi phạm thiên trong thời
gian trước khi thọ thực”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Tỳ khưu Abhibhu trả lời.
Rồi Đức Thế Tôn Sikhī và tỳ khưu Abhibhu biến mất ở kinh đô
Aruṇavati hiện ra ở cõi phạm thiên nhan như sự co duỗi cánh
tay của người luyện thể hình.
‘‘Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṃ sammāsambuddho
abhibhuṃ bhikkhuṃ āmantesi – ‘paṭibhātu, brāhmaṇa, taṃ
brahmuno ca brahmaparisāya ca brahmapārisajjānañca dhammī
kathā’ti. ‘Evaṃ, bhante’ti kho, bhikkhave, abhibhū bhikkhu
sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa paṭissutvā,
brahmānañca brahmaparisañca brahmapārisajje ca dhammiyā
kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṃsesi.
Tatra sudaṃ, bhikkhave, brahmā ca
brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca ujjhāyanti khiyyanti
[khīyanti (sī. syā. kaṃ. pī.)] vipācenti – ‘acchariyaṃ
vata, bho, abbhutaṃ vata bho, kathañhi nāma satthari
sammukhībhūte sāvako dhammaṃ desessatī’’’ti!
Rồi này các Tỳ khưu, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng
Chánh Giác bảo Tỷ-khưu Abhibhū:
Đức Thế Tôn Sikhī, bậc Ứng cúng, Chánh biến tri nói với tỳ
khưu Abhibhu:
“Này Phạm chí, hãy thuyết pháp cho vị đại phạm thiên, phạm
phụ thiên và phạm chúng thiên.
"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Tỷ khưu Abhibhū vâng theo lời dạy Thế Tôn
Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết pháp cho vị đại
phạm thiên, phạm phụ thiên và phạm chúng thiên
khiến cho họ được khích lệ, phấn khởi, hoan hỷ.
Nhưng rồi vị đại phạm thiên, phạm phụ thiên và phạm chúng
thiên lại thấy bất ổn, không đồng tình, lên tiếng rằng:
“Thật khó tin, thật kỳ lạ khi một đệ tử lại thuyết pháp
trước mặt Bậc Đạo Sư”.
‘‘Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṃ sammāsambuddho
abhibhuṃ bhikkhuṃ āmantesi – ‘ujjhāyanti kho te, brāhmaṇa,
brahmā ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca – acchariyaṃ
vata, bho, abbhutaṃ vata, bho, kathañhi nāma satthari
sammukhībhūte sāvako dhammaṃ desessatīti! Tena hi tvaṃ
brāhmaṇa, bhiyyosomattāya brahmānañca brahmaparisañca
brahmapārisajje ca saṃvejehī’ti. ‘Evaṃ, bhante’ti kho,
bhikkhave, abhibhū bhikkhu sikhissa bhagavato arahato
sammāsambuddhassa paṭissutvā dissamānenapi kāyena dhammaṃ
desesi, adissamānenapi kāyena dhammaṃ desesi, dissamānenapi
heṭṭhimena upaḍḍhakāyena adissamānena uparimena
upaḍḍhakāyena dhammaṃ desesi, dissamānenapi uparimena
upaḍḍhakāyena adissamānena heṭṭhimena upaḍḍhakāyena dhammaṃ
desesi. Tatra sudaṃ, bhikkhave, brahmā ca brahmaparisā ca
brahmapārisajjā ca acchariyabbhutacittajātā ahesuṃ –
‘acchariyaṃ vata, bho, abbhutaṃ vata, bho, samaṇassa
mahiddhikatā mahānubhāvatā’’’ti!
Rồi này các Tỳ khưu, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng
Chánh Giác bảo tỳ khưu Abhibhū:
Này Phạm chí, vị đại phạm thiên,
phạm phụ thiên và phạm chúng thiên thấy bất ổn, không đồng
tình, lên tiếng rằng: “Thật khó tin, thật kỳ lạ khi một
đệ tử lại thuyết pháp trước mặt Bậc Đạo Sư”. Hãy khiến cho
họ chấn động tâm tư hơn nữa.
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn".
Tỷ khưu Abhibhū vâng theo lời dạy Thế Tôn Sikhī, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết pháp cho
vị đại phạm thiên, phạm phụ thiên và
phạm chúng thiên cùng lúc biến hiện tàng hình toàn thân;
rồi tàng hình nữa thân dưới; sau đò tàng hình nữa thân trên.
Vị đại phạm thiên, các phạm phụ thiên và phạm chúng thiên
phấn khích cực độ thốt lên lời: "Thật là hy hữu, thật là kỳ
diệu, đại thần lực và đại uy lực của vị Sa-môn".
‘‘Atha kho abhibhū bhikkhu sikhiṃ bhagavantaṃ arahantaṃ
sammāsambuddhaṃ etadavoca – ‘abhijānāmi khvāhaṃ, bhante,
bhikkhusaṅghassa majjhe evarūpiṃ vācaṃ bhāsitā – pahomi
khvāhaṃ āvuso, brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṃ
[sahassīlokadhātuṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)] sarena
viññāpetu’nti. ‘Etassa, brāhmaṇa, kālo, etassa, brāhmaṇa,
kālo; yaṃ tvaṃ, brāhmaṇa, brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṃ
sarena viññāpeyyāsī’ti. ‘Evaṃ, bhante’ti kho, bhikkhave,
abhibhū bhikkhu sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa
paṭissutvā brahmaloke ṭhito imā gāthāyo abhāsi –
‘‘Ārambhatha [ārabbhatha (sabbattha)] nikkamatha
[nikkhamatha (sī. pī.)], yuñjatha buddhasāsane;
Rồi Tỳ khưu Abhibhū bạch Thế Tôn Sikhī, bậc Ứng cúng, Chánh
Ðẳng Giác:
"-- Bạch Đức Thế Tôn, con tùng xác nhận điều này giữa Tăng
chúng: "Ðứng ở cõi phạm thiên, con có thể khiến cho một ngàn
thế giới nghe được tiếng của con."
"-- Này Phạm chí, nay là lúc thích hợp cho việc ấy. Này Phạm
chí, nay là lúc thích hợp cho việc ấy.
Này Phạm chí hãy đứng
ở cõi phạm thiên, và khiến cho một ngàn thế giới nghe được
tiếng của Thầy”.
"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn".
Tỷ khưu Abhibhū vâng theo lời dạy Thế Tôn Sikhī, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đứng ở cõi phạm thiên nói lên kệ
ngôn nầy:
Hãy đứng dậy, nhập cuộc
‘‘Atha kho, bhikkhave, sikhī ca bhagavā arahaṃ
sammāsambuddho abhibhū ca bhikkhu brahmānañca
brahmaparisañca brahmapārisajje ca saṃvejetvā – seyyathāpi
nāma...pe... tasmiṃ brahmaloke antarahitā aruṇavatiyā
rājadhāniyā pāturahesuṃ. Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā
arahaṃ sammāsambuddho bhikkhū āmantesi – ‘assuttha no,
tumhe, bhikkhave, abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa
gāthāyo bhāsamānassā’ti? ‘Assumha kho mayaṃ, bhante,
abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo
bhāsamānassā’ti. ‘Yathā kathaṃ pana tumhe, bhikkhave,
assuttha abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo
bhāsamānassā’’’ti? Evaṃ kho mayaṃ, bhante, assumha
abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo
bhāsamānassa –
‘‘Ārambhatha nikkamatha, yuñjatha buddhasāsane;
Này chư tỳ khưu, Đức Thế Tôn Sikhī và Tỳ khưu Abhibhū sau
khi làm chấn động tâm tư vi đại phạm thiên, và các phạm phụ
thiên, phạm chúng thiên biến mất tại cõi phạm thiên và hiện
ra ở Aruṇavati nhanh
như sự co duỗi cánh tay của người luyện thể hình.
Rồi Đức Thế Tôn Sikhī, bậc Ứng cúng, Chánh Ðẳng Giác gọi các
vị tỳ khưu:
"-- Bạch Thế Tôn, chúng con có nghe”
"-- Này các Tỷ-kheo, các Thầy đã nghe gì?”
Evaṃ kho mayaṃ, bhante, assumha abhibhussa bhikkhuno
brahmaloke ṭhitassa gāthāyo bhāsamānassa –
‘‘Ārambhatha nikkamatha, yuñjatha buddhasāsane;
"-- Bạch Thế Tôn, chúng con nghe kệ ngôn do Tỳ khưu Abhibhū
đứng tại cõi phạm thiên nói lên như sau:
Hãy đứng dậy, nhập cuộc
"-- Lành thay, lành thay, như vậy là các Thầy đã nghe được
kệ ngôn do tỳ khưu Abhibhū nói lên từ cõi phạm thiên”
[Đến đây kết thúc phần kể lại giai thoai xưa của Đức Phật
Gotama]
Idamavoca bhagavā, attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ
abhinandunti.
Đức Thế Tôn dạy như vậy, chư tỳ khưu hoan hỷ tín thọ.
‘‘Ārambhatha nikkamatha = hãy đứng dậy, nhập cuộc
Đức
Phật Sikhī là vị Phật thứ hai trong số 7 vị “Thất Phật”; là
vị thứ 23 trong số 28 vị chánh biến tri. Ngài ra đời cách
Đức Phật của chúng ta 31 đại kiếp. Trong một hệ thống thế
giới các cõi dục giới, kể cả quả đất, hình thành và huỷ diệt
nhiều lần trong lúc các cõi sắc giới từ Quang Âm Thiên trở
lên thì không như vậy. Do vậy tính về chư Phật quá khứ là
tính những vị cùng trong một hệ thống thế giới có thể khác
quả đất. Trái đất hiện tại trước sau có năm vị Phật ra đời.
Một con số nhiều. Trong lúc có những kiếp trái đất không có
Phật ra đời.
Trong Tăng Chi Bộ (AN
I 227-28) tôn giả Abhibhū được đề cập là thị giả của Đức
Phật Sikhī trong lúc bài kinh nầy thì nói là một trong hai
vị thượng thủ thinh văn. Rất có thể bấy giờ tôn giả Abhibhū
đang là thị giả tạm thời (…)
Theo Sớ Giải thì tôn giả Abhibhū chọn kệ ngôn để phát âm
thanh vang xa trong một ngàn thế giới với sự lựa chọ nội
dung về sự tinh cần dõng mãnh (viriya-patiṣ amyutta) với ý
nghĩ là đây là đề tài mà cả chư thiên và nhân loại đều hoan
hỷ. Một
số bản dịch chuyển ngữ câu “brahmā ca brahmaparisā ca
brahmapārisajjā ca ujjhāyanti khiyyanti
vipācenti” là sự bực tức, khó chịu, than phiền. Ở đây
dịch là: “vị đại phạm thiên, phạm phụ thiên và phạm chúng
thiên thấy bất ổn, không đồng tình, lên tiếng” vì theo Thắng
Pháp, chư vị phạm thiên không có tâm sân.
Trong tập Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāth
1 147 f),cũng đề cập
đến vị đệ tử Phật Gotama có tên
Abhibhūta cũng nói kệ
ngôn tương tự. Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |