|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 07 tháng 06, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VI. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN ,(S.i,157)- PHẨM THỨ HAI.
Bài
5. Kinh Parinibbāna (Parinibbānasuttaṃ)
-ĐỨC THẾ TÔN VIÊN TỊCH.
Đức Phật là Bậc
Vô Thượng. Sự ra đời, sự thành đạo của Ngài đều phi phàm. Sự
viên tịch của Phật cũng vậy. Ngài từng dạy rằng: Không có gì
lợi lạc hơn là tâm khéo tu tập. Không có ai trong tam giới
mà tâm được tu tập tới cảnh giới cao viễn như Đức Phật. Với
cả hai tâm giải thoát và tuệ giải thoát ở mức độ cao nhất,
Đức Phật đã xuất nhập các thiền chứng từ thấp tới cao, từ
thiền hiệp thế đến siêu thế. Xuất nhập tự tại. Tẩm muốn an
trụ trạng thái nào thì thể nhập vào trạng thái đó. Từ thấp
tới cao, từ cao tới thấp. Niết bàn vốn không thể diễn tả
bằng ngôn ngữ thì sự viên tịch của Phật lại là điều bất khả
tư nghì.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā kusinārāyaṃ viharati upavattane
mallānaṃ sālavane antarena yamakasālānaṃ parinibbānasamaye.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘handa dāni, bhikkhave,
āmantayāmi vo – ‘vayadhammā saṅkhārā, appamādena
sampādethā’ti”. Ayaṃ tathāgatassa pacchimā vācā.
Thuở ấy Đức Thế Tôn ở Kusinārā, tại Upavattana, trong rừng
cây sālā, giữa dân chúng Mallā. Ngài nằm giữa hai cây sālā
trong những giờ phút viên tịch niết bàn.
Rồi Thế Tôn nói với các chư tỳ khưu:
-- “Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên các con hãy tinh tấn chớ
xao lãng. Các pháp hữu vi vốn vô thường”.
Ðây là những lời cuối cùng của Như Lai.
Atha kho bhagavā paṭhamaṃ jhānaṃ [paṭhamajjhānaṃ (syā. kaṃ.)
evaṃ dutiyaṃ jhānaṃ iccādīsupi] samāpajji. Paṭhamā jhānā
[paṭhamajjhānā (syā. kaṃ.) evaṃ dutiyā jhānā iccādīsupi]
vuṭṭhahitvā dutiyaṃ jhānaṃ samāpajji. Dutiyā jhānā
vuṭṭhahitvā tatiyaṃ jhānaṃ samāpajji. Tatiyā jhānā
vuṭṭhahitvā catutthaṃ jhānaṃ samāpajji. Catutthā jhānā
vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṃ samāpajji. Ākāsānañcāyatanā
vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṃ samāpajji. Viññāṇañcāyatanā
vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṃ samāpajji. Ākiñcaññāyatanā
vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpajji.
Nevasaññānāsaññāyatanā vuṭṭhahitvā saññāvedayitanirodhaṃ
samāpajji.
Rồi Đức Thế Tôn nhập sơ thiền. Xuất sơ thiền Ngài nhập nhị
thiền. Xuất nhị thiền Ngài nhập tam thiền. Xuất tam thiền
Ngài nhập tứ thiền.
Xuất tứ thiền Ngài nhập không vô biên xứ. Xuất không
vô biên xứ Ngài nhập thức vô biên xứ. Xuất thức vô biên xứ
Ngài nhập vô vổ hữu xứ. Xuất vô sở hữu xứ Ngài nhập phi
tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất phi tưởng phi phi tưởng Ngài
nhập diệt thọ tưởng định.
Saññāvedayitanirodhā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṃ
samāpajji. Nevasaññānāsaññāyatanā vuṭṭhahitvā
ākiñcaññāyatanaṃ samāpajji. Ākiñcaññāyatanā vuṭṭhahitvā
viññāṇañcāyatanaṃ samāpajji. Viññāṇañcāyatanā vuṭṭhahitvā
ākāsānañcāyatanaṃ samāpajji. Ākāsānañcāyatanā vuṭṭhahitvā
catutthaṃ jhānaṃ samāpajji. Catutthā jhānā vuṭṭhahitvā
tatiyaṃ jhānaṃ samāpajji. Tatiyā jhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṃ
jhānaṃ samāpajji. Dutiyā jhānā vuṭṭhahitvā paṭhamaṃ jhānaṃ
samāpajji. Paṭhamā jhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṃ jhānaṃ
samāpajji. Dutiyā jhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṃ jhānaṃ
samāpajji. Tatiyā jhānā vuṭṭhahitvā catutthaṃ jhānaṃ
samāpajji. Catutthā jhānā vuṭṭhahitvā samanantaraṃ bhagavā
parinibbāyi.
Xuất diệt thọ tưởng định Ngài nhập phi tưởng phi phi tưởng
xứ. Xuất phi tưởng phi phi tưởng xứ Ngài nhập vô sở hữu xứ.
Xuất vô sở hữu xứ Ngài nhập thức vô biên xứ. Xuất thức vô
biên xứ Ngài nhập không vô biên xứ. Xuất không vô biên xứ
Ngài nhập tứ thiền. Xuất tứ thiền Ngài nhập tam thiền. Xuất
tam thiền Ngài nhập nhị thiền. Xuất nhị thiền Ngài nhập sơ
thiền. Xuất sơ thiền Ngài nhập nhị thiền. Xuất nhị thiền
Ngài nhập tam thiền. Xuất tam thiền Ngài nhập tứ thiền. Xuất
tứ thiền Ngài lập tức viên tịch.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā brahmā sahampati imaṃ
gāthaṃ abhāsi –
Khi Đức Thế Tôn viên tịch, nhân sự diệt độ này, Phạm thiên
Sahampati nói lên kệ ngôn:
Mọi chúng sanh trong đời
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā sakko devānamindo imaṃ
gāthaṃ abhāsi
Khi Đức Thế Tôn viên tịch, nhân
sự diệt độ này, Thiên chủ Sakha nói lên kệ ngôn:
Các hành vốn vô thường
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā ānando imaṃ gāthaṃ
abhāsi
Khi Đức Thế Tôn viên tịch, nhân
sự diệt độ này, Tôn giả Ānanda nói lên kệ ngôn:
Cả thế giới chấn động
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā anuruddho imā
gāthāyo abhāsi –
Khi Đức Thế Tôn viên tịch, nhân sự diệt độ này, Tôn giả
Anuruddha (A-nậu-lâu-đa)
nói lên kệ ngôn:
‘‘Sabbeva nikkhipissanti =
Bài
kinh nầy giống với đoạn kinh ghi lại những giờ phút sau cùng
của Đức Phật trong kinh Đại Bát Niết Bàn (Trường Bộ) nhưng
có một số sai biệt đáng lưu ý như Đức Thế Tôn nhập xuất diệt
thọ tưởng định.
Theo Sớ giải mặc dù ghi là “sau khi xuất tứ thiền Ngài lập
tức viên tịch” với chữ samantara – ngay sau đó, không gián
đoạn phải hiểu là dù Đức Phật hay tất cả chúng sanh đều mệnh
chung với sát na tiềm thức hữu phần (bhavaṅga). Trong cách
nói đại loại thì hiểu như kinh văn.
Theo Sớ Giải thì khi Phạm thiên Sahampati nói Đức Phật là
bậc đại lực nghĩa là Như Lai Thập Lực. Kệ
ngôn ‘‘Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino; Uppajjitvā
nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho’ti” với câu đầu có thể
dịch là “Ôi pháp hành vô thường” có dị bản khác trong một số
kinh như Kinh Pháp Cú là
Aniccā sabbasaṅkhārā
- tất cả pháp hữu vi
đều vô thường. Chữ sabba - tất cả thay cho vata – một thán
từ. Ngôn phong có khác nhưng ý nghĩa vẫn vậy.
Theo cách thông thường thì “trút hơi thở cuối cùng” là chết.
Nhưng ở đây khi Tôn giả Anuruddha nói “không hơi thở ra vào”
chỉ cho trạng thái tứ thiền. Cách viên tịch nhập xuất thiền
liên tục trước khi nhập diệp là hành trạng chung của chư
Phật toàn giác. Câu
“Pajjotasseva nibbānaṃ/Vimokkho cetaso ahu – như ngọn đèn
vụt tắt, Ngài viên tịch Niết Bàn” trong kệ ngôn của Tôn giả
Anuruddha chỉ cho sự hoàn toàn vô ngại và cảnh giới bất khả
tư nghì (sabbasoapaññattibhāvūpagamo ) của Đức Phật khi
“bát niết bàn”
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |