|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 12 tháng 06, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ II. Phẩm Không Dể Duôi _ Kệ số 5
Duyên sự: Bài kệ nầy được đức Phật thuyết ở Veḷuvana thành Rājagaha, vì
câu chuyện của trưởng lão Cūḷapanthaka. Tại Rājagaha một gia đình phú hộ có hai đứa cháu trai, là
Mahāpanthaka và Cūḷapanthaka. Mahāpanthaka xuất gia trước và đã đắc quả A la hán. Thời gian
sau trưởng lão Mahāpanthaka về tiếp độ người em trai là
Cūḷapanthaka. Tỳ kheo Cūḷapanthaka là người tối dạ đến nỗi không thể học
thuộc một bài kệ bốn câu trong thời gian bốn tháng. Trưởng
lão Mahāpanthaka nghĩ rằng người em không thể tiến hoá tu
tập sa môn hạnh nên khuyên người em hoàn tục. Dù vẫn ưa
thích đời sống xuất gia nhưng cũng nghe lời anh. Sáng hôm sau Cūḷapanthaka đã đi ra khỏi chùa để về nhà, vừa ra
đến cổng chùa thì đức Phật đã đón lại và khuyên Cūḷapanthaka
hãy ở lại tu. Rồi Ngài trao cho Cūḷapanthaka một chiếc khăn
trắng tinh, dạy rằng hãy dùng chiếc khăn ấy lau mặt lau tay
và tác ý lau sạch bụi bẩn. Trong buổi sáng hôm ấy, ông cận sự nam Jīvakakomārabhacca
thỉnh đức Phật và chúng tỳ kheo về nhà cúng dường trai phạn.
Trưởng lão Mahāpanthaka không cho người em Cūḷapanthaka đi
cùng chư Tăng. Tỳ kheo Cūḷapanthaka một mình ở chùa, ngồi ngoài trời, khi
nắng lên mặt mày tay chân bị bụi bẩn bèn lấy khăn lau mặt
lau tay và tác ý lau bụi bẩn. Tỳ kheo Cūḷapanthaka cứ lau
mãi như vậy thì chiếc khăn bị dơ, mới ngẩm nghĩ: “chiếc khăn
ban đầu sạch trắng tinh, giờ đây khi xúc chạm cái thân bụi
bẩn nầy thì dơ như vậy, thật là các hành vô thường”, vị ấy
chú tâm tuỳ quán vô thường. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn đang ngự tại tư gia của ông Jīvaka,
Ngài phân thân hiện ra trước mặt tỳ kheo Cūḷapanthaka và dạy
rằng: “cái khăn sạch kia dơ bẩn do bụi trần, đó chỉ là bụi
bẩn bên ngoài; nội tâm bị ô nhiễm bởi tham trần cấu, sân
trần cấu và si trần cấu, thứ bụi trần đó mới đáng được tẩy
sạch. Hãy ly trần phiền não trong nội tâm”. Đức thế tôn vừa giáo huấn xong thì tỳ kheo Cūḷapanthaka chứng
đắc quả A La Hán cùng bốn tuệ đạt thông (paṭisambhidāñāṇa),
thông suốt giáo pháp. Đức Phật biến mất tại đấy. Khi ấy tại tư gia của ông Jīvaka đức Phật bảo gia chủ, ở chùa
còn một vị tỳ kheo, hãy thỉnh đến. Gia chủ vâng lời cho
người đến chùa thỉnh trưởng lão Cūḷapanthaka. Sau bữa ăn, đức Phật dạy tôn giả Cūḷapanthaka hãy thuyết pháp,
tuỳ hỷ công đức của thí chủ. Tôn giả Cūḷapanthaka liền
thuyết pháp như con sư tử gầm lên vang động núi rừng, với
nghĩa lý sâu xa trong Phật ngôn, khiến mọi người vô cùng
hoan hỷ. Rồi đức Phật và chư Tăng đứng lên về chùa. Buổi chiều các vị
tỳ kheo ngồi trong giảng đường bàn luận về câu chuyện của
tôn giả Cūḷapanthaka, một vị tỳ kheo tối dạ học bốn tháng
không thuộc nỗi một bài kệ tứ cú mà đức Phật chỉ trong một
buổi sáng đã an trú vị ấy trong quả vị A la hán với tuệ phân
tích. Ôi! Phật lực vĩ đại. Đức Phật ngự đến giảng đường và hỏi các tỳ kheo về đề tài thảo
luận. Chư tỳ kheo trả lời đức Phật. Đức Phật đã dạy rằng:
Này chư tỳ kheo, trong giáo pháp của ta, vị tỳ kheo tinh tấn
sẽ làm chủ pháp siêu thế. Rồi Ngài thuyết lên bài kệ:
Uṭṭhānenappamādena, nỗ lực không dể duôi ..v.v..
Chánh văn: (dhp 25)
Uṭṭhānen’ appamādena
Thích văn:
uṭṭhānen’ appamādena
[hợp
âm uṭṭhānena appamādena]
uṭṭhānena
[sở dụng
cách số ít của danh từ trung tính
uṭṭhāna]
với sự nỗ lực, sự vùng lên, sự đứng lên.
appamādena
[sở
dụng cách số ít của danh từ hợp thể
appamāda
(na + pamāda)] với sự không dể duôi, bằng sự không
phóng đãng.
saṃyamena
[sở
dụng cách số ít của danh từ nam tính
saṃyama,
có bản viết là
saññama (ṃy =
ññ)] bằng sự chế ngự, kềm chế.
damena
[sở
dụng cách số ít của danh từ nam tính
dama]
với sự điều phục, bằng sự điều phục.
dīpaṃ
[đối cách số ít của danh từ nam tính
dīpa]
hòn đảo, hải đảo.
kayirātha
[khả
năng cách ngôi III số ít loại
attanopada
của động từ
karoti (căn
kar)] nên xây dựng, phải xây đắp, phải làm.
medhāvī
[chủ cách số
ít của danh từ nam tánh
medhāvī]
người khôn ngoan, bậc trí tuệ.
yaṃ
[đối cách số ít nam tính, liên quan đại từ
ya]
cái mà, bất luận cái nào.
ogho
[chủ cách số ít của danh từ nam tính
ogha]
lũ lụt, nước lũ, bộc lưu.
n’ ābhikīrati
[hợp
âm (na abhikīrati)]
na
[phủ định từ] không, chẳng
abhikīrati
[thì
hiện tại ngôi III số ít của động từ
abhikīrati
(abhi + căn kir + a)] ngập tràn, tràn trề, tràn lan.
Việt văn: Nỗ lực, không dể duôi (pc 25)
Chuyển văn:
Medhāvī uṭṭhānena appamādena saṃyamena damena ca dīpaṃ
kayirātha yaṃ ogho na abhikīrati. Bậc trí nên xây hòn đảo bằng sự nỗ lực, không xao lãng, tự kềm
chế và điều phục, nơi mà nước lũ không tràn ngập được.
Lý giải: Một hòn đảo nổi lên giữa giòng sông hay biển cả, có thể không
an toàn, vì thuỷ triều lên cao làm cho ngập lụt. Đức Phật không dạy đệ tử xây dựng hòn đảo như vậy, mà hòn đảo
nên xây đắp đó chính là đạo quả A la hán. Hòn đảo mà không
có thuỷ triều nào tràn ngập được. Thuỷ triều đó chính là bốn bộc lưu (ogha): dục bộc
lưu (kāmogha), hữu bộ lưu (bhavogha), kiến
bộc lưu (diṭṭhogha), và vô minh bộc lưu
(avijjogha). Tham, tà kiến và si mê đã được thánh đạo
thánh quả A la hán đoạn trừ hoàn toàn. Bậc trí xây hòn đảo không phải là dùng cuốc xẻng, đất, đá,
cát, để đấp lên, mà xây hòn đảo nầy bằng bốn phương tiện: nỗ
lực (uṭṭhāna), không dể duôi (appamāda),
chế ngự (saṃyama hay saññama), và điều
phục (dama). Bằng sự nỗ lực, tức là tinh tấn (viriyasaṅkhātena). Bằng sự không dể duôi, tức là chuyên niệm, không lìa chánh
niệm (satiyā avippavāsākārasaṅkhātena). Bằng sự chế ngự, tức là thu thúc tứ thanh tịnh giới
(catuparisuddhisīlasaṅkhātena). Bằng sự điều phục tức là nhiếp phục sáu căn quyền như mắt, tai
..v.v.. (indriyadamena). Bậc trí xây hòn đảo, quả A la hán, bằng bốn pháp phương tiện
nầy, thành tựu trí tuệ cốt lõi trong giáo pháp, trú an toàn
không còn bị thuỷ triều nhận chìm trong biển luân hồi nữa. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |