|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 15 tháng 06, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,160)- PHẨM THỨ NHẤT.
Bài
1. Kinh Dhanañjānī (Dhanañjānīsuttaṃ)
-CHUYỂN HOÁ CƠN GIẬN DỮ.
Nộ khí là điều
khó kềm chế. Một người đàn ông bị mất mặt với bạn bè thật
khó giữ bình tĩnh. Trong lúc thịnh nộ lập tâm bài kích Đức
Phật. Đấng Vô Thượng Điền Ngự đã trả lời đúng “tim đen” của
vị nầy. Chánh pháp như giọt cam lồ mang lại sự thanh lương
cho nội tâm. Cõi lòng thay đổi cuộc sống cũng đổi thay. Con
người phẫn nộ nhưng hữu duyên hữu phúc ấy được khai thị để
rồi chuyển hoá toàn bộ bản thân. Chữ duyên đôi lúc khó thể
nghĩ bàn.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati
veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena aññatarassa
bhāradvājagottassa brāhmaṇassa dhanañjānī [dhānañjānī (pī.
sī. aṭṭha.)] nāma brāhmaṇī abhippasannā hoti buddhe ca
dhamme ca saṅghe ca. Atha kho dhanañjānī brāhmaṇī
bhāradvājagottassa brāhmaṇassa bhattaṃ upasaṃharantī
upakkhalitvā tikkhattuṃ udānaṃ udānesi –
‘‘Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa;
Tôi được nghe như vầy
Thuở ấy Đức Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), chùa Veluvana
(Trúc Lâm), tại Kalandakanivāpa (khu vực sóc ăn trong chùa).
Bấy giờ nữ Bà la môn Dhanañjānī, vợ một
bà la môn thuộc dòng họ Bhāradvāja, đtặ trọn niềm tin
đối với Phật, Pháp và Tăng.
Rồi nữ Bà-la-môn Dhanañjānī, trong khi bưng cơm cho
Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhāradvāja bị vấp chân bất chợt thốt
lên câu: "Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh biến tri;
đảnh lễ Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh biến tri !; đảnh lễ Thế
Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh biến tri!”
Evaṃ vutte, bhāradvājagotto brāhmaṇo dhanañjāniṃ brāhmaṇiṃ
etadavoca – ‘‘evamevaṃ panāyaṃ vasalī yasmiṃ vā tasmiṃ vā
tassa muṇḍakassa samaṇassa vaṇṇaṃ bhāsati. Idāni tyāhaṃ,
vasali, tassa satthuno vādaṃ āropessāmī’’ti. ‘‘Na khvāhaṃ
taṃ, brāhmaṇa, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo tassa
bhagavato vādaṃ āropeyya arahato sammāsambuddhassa. Api ca
tvaṃ, brāhmaṇa, gaccha, gantvā vijānissasī’’ti [gantvāpi
jānissasīti (syā. kaṃ.)].
Nghe vậy, bà la môn thuộc dòng họ Bhāradvāja nói với nữ bà
la môn Dhanañjānī:
-
Ngay khi một sự cố nhỏ xẩy
ra, kẻ hạ tiện nầy cũng thốt lời xưng tán vị sa môn đầu trọc
ấy. Nầy người hạ tiện, ta sẽ đi và phủ bác giáo thuyết của
đạo sư ngươi.
-
Tôi không thấy trong thế
giới chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong giới tu hành
hoặc ba la môn có ai có thể phủ bác Đức Thế Tôn, bậc Ứng
cúng, Chánh biến tri. Nhưng cứ đi. Đi rồi sẽ hiểu.
Atha kho bhāradvājagotto brāhmaṇo kupito anattamano yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ
sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdi.
Ekamantaṃ nisinno kho bhāradvājagotto brāhmaṇo bhagavantaṃ
gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi bà la môn thuộc dòng họ
Bhāradvāja với tâm phẫn nộ không vui đi đến Đức Thế Tôn.
Sau khi đến chào hỏi xã giao, ngồi xuống một bên. Sau khi
ngồi, vị ấy nói với Đức Thế Tôn kệ ngôn:
‘‘Kiṃsu chetvā sukhaṃ seti, kiṃsu chetvā na socati;
Sát trừ gì ngủ ngon?
(Thế Tôn)
Sát phẫn nộ, ngủ ngon
Evaṃ vutte, bhāradvājagotto brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca
– ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama, abhikkantaṃ, bho gotama!
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya,
paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya,
andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya – cakkhumanto rūpāni
dakkhantīti; evamevaṃ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo
pakāsito. Esāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ
gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṃ bhoto
gotamassa santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampada’’nti.
Ðược nghe vậy, bà la môn thuộc dòng họ Bhāradvāja
bạch Đức Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người
dựng đứng những gì bị
ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường
cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai
có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin
nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả
Gotama cho con được xuất gia với Đức Thế Tôn,
và được thọ đại giới.
Alattha kho bhāradvājagotto brāhmaṇo bhagavato santike
pabbajjaṃ, alattha upasampadaṃ. Acirūpasampanno kho
panāyasmā bhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī
pahitatto viharanto nacirasseva – yassatthāya kulaputtā
sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti tadanuttaraṃ –
brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja vihāsi. ‘‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’’ti
abbhaññāsi.
Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṃ ahosīti.
Bà la môn thuộc dòng họ Bhāradvāja được xuất gia và thọ đại
giới từ Đức Thế Tôn.
Thọ giới không lâu, Tôn giả Bhāradvāja sống độc cư, viễn ly,
cần mẫn, không xao lãng, quyết tâm và tự thân chứng ngộ
chánh trí ngay trong kiếp hiện tại. Đây chính là cứu cánh mà
những thiện gia nam tử đi tu sống không gia đình hướng tới.
Vị ấy chính mình biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
Và Tôn giả Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
‘‘Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa = Đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng cúng, Đấng Chánh biến tri
Theo Sớ giải thì dòng tộc Dhanañjānī
của nữ bà la môn trong bài kinh nầy được xem là giòng tộc
cao sang nhất trong các giòng tộc bà la môn. Theo Sớ giải thì sở dĩ người chồng là bà la môn
giòng Bhāradvāja nổi nóng gọi vợ
là Vasalī (kẻ hạ cấp) - một từ khinh miệt gọi người thuộc
giai cấp thủ đà la - bởi vì ông bà la môn nầy mở một đại
tiệc chiêu đãi hằng trăm ba la môn khác. Biết vợ mình mỗi
khi bất chợt gặp sự cố gì thường thốt lời niệm Phật nên
người chồng nhắc trước là có khách đến thì đừng như vậy.
Trong bữa tiệc, nữ bà la môn Dhanañjānī vấp phải khúc củi
bất giác nói lên lời đảnh lễ Phật. Những khác bà la môn thấy
vậy bỏ tiệc ra về. Điều nầy khiến người chồng phẫn nộ. Theo Sớ giải thì bà la môn giòng Bhāradvāja có chủ tâm vấn nạn
Đức Phật với câu hỏi của mình. Nếu Đức Phật trả lời là có
chấp nhận sát trừ thì gọi Ngài là “sát nhân”; nếu Đức Phật
nói không thì chỉ trích là người đi tu sao không sát trừ
tham, sân, si?. Như vậy Đức Phật trả lời cách nào cũng bị
chỉ trích. Câu chuyện nầy cũng được tìm thấy trong Trung Bộ (kinh số 100)
và Sớ Giải Kinh Pháp Cú (Dhp-a IV,161-63)
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |