|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 16 tháng 06, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ II. Phẩm Không Dể Duôi _ Kệ số 6&7
Duyên sự: Hai bài kệ nầy được đức Phật thuyết tại Jetavana thành
Sāvatthi, nhân sự kiện lễ hội thác loạn. Tại Sāvatthi có một thời tưng bừng lễ hội thác loạn. Trong bảy
ngày lễ hội ấy dân chúng như những kẻ điên khùng, lấy bùn
đất và phân bò thoa trét trên thân thể rồi đi lanh quanh,
gặp bất cứ ai, kể cả quyến thuộc hoặc các bậc tu hành, họ
đều tuôn ra những lời khiếm nhã thô tục; Hay họ đứng trước
cửa nhà trong thành mà văng tục, người ta không muốn nghe
phải cho tiền họ để tống tiễn, như tống ôn dịch vậy. Trong tuần lễ ấy, các vị thánh cư sĩ đã khẩn thỉnh bậc Đạo Sư
và tăng chúng ở yên trong chùa, không vào thành khất thực,
họ sẽ gửi vật thực đến chùa cúng dường cho quí Ngài. Bảy ngày lễ hội thác loạn chấm dứt, các gia đình cư sĩ trong
thành cung thỉnh đức Phật và chúng tỳ kheo về nhà họ cúng
dường. Sau bữa ăn, họ ngồi lại hầu chuyện với đức Phật, họ
thưa rằng trong bảy ngày qua họ rất khổ sở, bị quấy rầy với
những lời khiếm nhã của những kẻ cuồng ngông, họ không đi ra
khỏi nhà, thậm chí không dám mở cửa nhà, chính vì vậy các cư
sĩ đã thỉnh đức Thế Tôn và chư Tăng ở yên tại chùa. Sau khi
nghe các cư sĩ kể lể, đức Phật đã dạy rằng: Những con người
phóng túng như vậy là những kẻ ngu si thiểu trí, còn các bậc
trí thì giữ hạnh không phóng túng như giữ tài sản quí, nên
đạt đến níp bàn bất tử. Rồi bậc Đạo Sư đã nói lên hai bài
kệ: Pamādamanuyuñjanti ..v.v.. khi pháp thoại chấm
dứt có nhiều người đã chứng quả Dự lưu.
Chánh văn: (dhp 26)
Pamādamanuyuñjanti (dhp 27)
Mā pamādamanuyuñjetha
Thích văn:
pamādamanuyuñjanti
[hợp âm (pamādaṃ
anuyuñjanti)]
pamādaṃ
[đối
cách số ít của danh từ nam tính
pamāda] sự dể
duôi, sự phóng túng, sự buông lung.
anuyuñjanti
[thì
hiện tại ngôi III số ít của động từ
anuyuñjati (anu
+ căn yuj + ṃ_a)] bắt tay vào, lao vào, liên kết với,
sống theo.
bālā [chủ cách số nhiều của danh từ nam tính
bāla] những kẻ
ngu, những kẻ ngông cuồng.
dummedhino
[chủ cách số nhiều nam tính của danh từ hợp thể
dummedhī
(du + medha + ī)] thiểu trí, không sáng suốt, thiếu
khôn ngoan.
janā
[chủ cách số
nhiều của danh từ nam tính
jana] dân chúng,
quần chúng, những con người.
appamādañca
[hợp âm (appamādaṃ ca)]
appamādaṃ
[đối cách số ít của danh từ nam tính
appamāda (na
+ pamāda)] sự không dể duôi, sự không phóng túng, sự
không buông lung.
medhāvī
[chủ
cách số ít của danh từ trung tính
medhāvī] bậc
trí, người sáng suốt, người khôn ngoan.
dhanaṃ
[chủ cách số ít của danh từ trung tính
dhana] tài sản,
của cải.
seṭṭhaṃ
[đối cách số
ít trung tính của tính của tính từ
seṭṭha] cao quí,
cảo cả, quí báu nhất.
iva
[bất biến từ
tỷ giảo] ví như, như là.
rakkhati
[thì hiện
tại ngôi III số ít của động từ
rakkhati
(căn rakkha + a)
giữ gìn, hộ trì, bảo vệ.
mā
[bất biến từ] đừng, chớ có.
anuyuñjetha
[khả
năng cách attanopada
ngôi III số ít của động từ
anuyuñjati] bắt
tay vào, lao vào, liên kết với, sống theo.
kāmaratisanthavaṃ
[đối cách số ít của danh từ hợp thể
kāmaratisanthava
(kāma + rati + santhava)] sự đắm say dục lạc, sự
quyến luyến dục lạc.
appamatto
[chủ cách số ít nam tính của tính từ
appamatta
(na + pamatta)] không dể duôi, không xao lãng.
hi [bất biến từ] thật vậy, bởi vì.
jhāyanto
[chủ cách số ít và số nhiều của hiện tại phân từ
jhāyanta (cơ bản
jhāna + nta)] đang hành
thiền, đang tu thiền.
pappoti
[thì
hiện tại ngôi III số ít, động từ
pappoti
_ hình thức giản lược từ động từ
pāpuṇāti
(pa + căn ap)] đến nơi, chứng đắc, đạt được.
vipulaṃ
[đối cách số ít của tính từ
vipula] rộng
lớn, bao la.
sukhaṃ
[đối cách số ít của danh từ trung tính
sukha] sự an
lạc, sự an vui, hạnh phúc.
Việt văn: (pc 26) Chúng ngu si thiếu trí
Chuyển văn:
Bālā dummedhino janā pamādaṃ anuyuñjanti,
medhavī ca appamādaṃ rakkhati seṭṭhaṃ dhanaṃ iva. Những con người cuồng ngông thiếu trí lao vào cách sống phóng
túng, còn bậc trí thì giữ cách sống không dể duôi như giữ
tài sản quý.
Mā pamādaṃ anuyuñjetha mā kāmaratisanthavaṃ
anuyuñjetha, appamatto hi jhāyanto vipulaṃ sukhaṃ pappoti. Chớ có sống phóng túng, chớ có đắm say dục lạc, thật vậy,
người tu thiền không dể duôi sẽ đạt được hạnh phúc lớn lao.
Lý giải: Trong hai bài kệ nầy, bài kệ trước đức Phật mô tả hai cách
sống của người trí và người ngu. Người ngu có cách sống
phóng túng dể duôi, không biết kềm chế hành vi lời nói của
mình, trâng tráo không hổ thẹn, như đám người trong câu
chuyện, tự do nói thô tục chửi mắng bất cứ ai họ gặp vì là
ngày lễ hội. Người trí thì biết hổ thẹn ngượng ngùng nên
luôn giữ cho mình nếp sống chừng mực, không dể duôi phóng
túng, tựa như một người giữ gìn tài sản quí báu vậy. Cũng nhân sự việc nầy, ở bài kệ sau đức Phật dạy thêm pháp tu
tập cho hàng đệ tử: chớ có sống dể duôi! chớ có đam mê dục
lạc! phải chuyên cần thiền định, vì người có chánh niệm tỉnh
táo trong mọi hành động người ấy sẽ đạt được an lạc lớn. Câu
nói: “Appamatto hi jhāyanto pappoti vipulaṃ sukhaṃ
_ không dể duôi, thiền định đạt được an lạc lớn”, Chú giải
đã giải thích là “upaṭṭhitassatitāya hi appamatto
jhāyanto puggalo vipulaṃ uḷāraṃ nibbānasukhaṃ pāpuṇāti”,
nghĩa là “Người an trú niệm là người không dể duôi, là người
tu thiền, người ấy sẽ chứng được lạc níp bàn, lớn lao, tuyệt
hảo”. Như vậy, an lạc lớn (vipulaṃ sukhaṃ) tức là lạc níp
bàn (nibbānasukhaṃ). Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |