|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 18 tháng 06, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,161)- PHẨM THỨ NHẤT.
Bài
2. Kinh Kẻ Thoá Mạ (Akkosasuttaṃ)
-MỘT BÀN TAY KHÔNG LÀM NÊN TIẾNG VỖ.
Ăn miếng trả
miếng là chuyện thường tình trong mọi va chạm đối đầu. Người
phẫn uất phản ứng khó đo lường được mà người không dự phần
hơn thua lại khó đo lường hơn. Chỉ có những bậc giải thoát
đầy lòng bi mẫn mới không oán thù mà còn tìm cách mang lại
lợi lạc cho người ma lỵ mình. Lấy hận thù để hoá giải hận
thù là điều bất khả. Người trí cũng tự biết chuyện mình làm.
Sự đánh giá của đám đông thường không y cứ trên chánh pháp.
Quần chúng thường ủng hộ hay chê bai bên nầy, bên kia
trong những va chạm hay tranh chấp.
Người hiểu được lợi ích chân thực của mình và người
sẽ không lao đầu vào những hơn thua vô nghĩa.
Ekaṃ samayaṃ bhag avā rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe. Assosi kho akkosakabhāradvājo brāhmaṇo –
‘‘bhāradvājagotto kira brāhmaṇo samaṇassa gotamassa santike
agārasmā anagāriyaṃ pabbajito’’ti kupito anattamano yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ asabbhāhi
pharusāhi vācāhi akkosati paribhāsati.
Tôi được nghe như vầy
Thuở ấy Đức Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), chùa Veluvana
(Trúc Lâm), tại Kalandakanivāpa (khu vực cho sóc ăn trong
chùa).
Bấy giờ Bà la môn Akkosaka Bhāradvāja được nghe Bà la môn
Bhāradvājagotta đã từ
bỏ gia đình. xuất gia, thọ giới với Đức Thế Tôn. Hay tin nầy
ông ấy phẫn nộ, tức tối đi đến Đức Thế Tôn. Khi gặp Đức Thế
Tôn buông lời mắng nhiếc, mạ lỵ, phỉ báng với những ác ngữ,
vọng ngôn.
Evaṃ vutte, bhagavā akkosakabhāradvājaṃ brāhmaṇaṃ etadavoca
– ‘‘taṃ kiṃ maññasi, brāhmaṇa, api nu kho te āgacchanti
mittāmaccā ñātisālohitā atithiyo [atithayo (?)]’’ti?
‘‘Appekadā me, bho gotama, āgacchanti mittāmaccā
ñātisālohitā atithiyo’’ti. ‘‘‘Taṃ kiṃ maññasi, brāhmaṇa, api
nu tesaṃ anuppadesi khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā sāyanīyaṃ
vā’’’ti? ‘‘‘Appekadā nesāhaṃ, bho gotama, anuppademi
khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā sāyanīyaṃ vā’’’ti. ‘‘‘Sace kho
pana te, brāhmaṇa, nappaṭiggaṇhanti, kassa taṃ hotī’’’ti?
‘‘‘Sace te, bho gotama, nappaṭiggaṇhanti, amhākameva taṃ
hotī’’’ti. ‘‘Evameva kho, brāhmaṇa, yaṃ tvaṃ amhe
anakkosante akkosasi, arosente rosesi, abhaṇḍante bhaṇḍasi,
taṃ te mayaṃ nappaṭiggaṇhāma. Tavevetaṃ, brāhmaṇa, hoti;
tavevetaṃ, brāhmaṇa, hoti’’.
‘‘Yo kho, brāhmaṇa, akkosantaṃ paccakkosati, rosentaṃ
paṭiroseti, bhaṇḍantaṃ paṭibhaṇḍati, ayaṃ vuccati, brāhmaṇa,
sambhuñjati vītiharatīti. Te mayaṃ tayā neva sambhuñjāma na
vītiharāma. Tavevetaṃ, brāhmaṇa, hoti; tavevetaṃ, brāhmaṇa,
hotī’’ti. ‘‘Bhavantaṃ kho gotamaṃ sarājikā parisā evaṃ
jānāti – ‘arahaṃ samaṇo gotamo’ti. Atha ca pana bhavaṃ
gotamo kujjhatī’’ti.
Khi ông ấy nói xong, Đức Thế Tôn hỏi:
-
Này Bà la môn, ông nghĩ thế
nào, có bao giờ những bạn bè, thân hữu, quyến thuộc hay
khách đến thăm viếng ông?
-
Đôi khi có chứ, Tôn giả
Gotama
-
Ông có mời các bữa ăn hay
những thức ăn nhẹ?
-
Thỉnh thoảng có, Tôn giả
Gotama
-
Nếu họ không ăn thì những
thực phẩm thuộc về ai?
-
Nếu họ không ăn thì những
thực phẩm ấy vẫn thuộc về của chúng tôi.
-
Này Bà la môn, cũng tương tự
như vậy, chúng tôi là những người không mạ lỵ ai, những
người không huỷ báng ai, những ngưởi gây sự nhắm vảo ai.
Chúng tôi cũng không đón nhận những mạ lỵ, huỷ báng, gây sự
mà ông đã nhắm vào chúng tôi. Những thứ đó vẫn thuộc về ông,
hỡi bà la môn. Những thứ đó vẫn thuộc về ông, hỡi bà la môn.
Nầy Bà la môn, ai không huỷ báng người huỷ báng mình, ai
không mạ lỵ người mạ lỵ mình, ai không gây sự người gây sự
với mình người ấy gọi là người không thọ nhận bữa ăn, không
dự phần gây gỗ. Những thứ đó vẫn thuộc về ông, hỡi bà la
môn. Những thứ đó vẫn thuộc về ông, hỡi bà la môn.
Nhà vua, cá phi tần và quần thần nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama
là vị A-la-hán tuy vậy Tôn giả Gotama nay đã phẫn nộ.
(Thế Tôn)
‘‘Akkodhassa kuto kodho, dantassa samajīvino;
‘‘Tasseva tena pāpiyo, yo kuddhaṃ paṭikujjhati;
‘‘Ubhinnamatthaṃ carati, attano ca parassa ca;
‘‘Ubhinnaṃ tikicchantānaṃ, attano ca parassa ca;
Sao có sân ở Bậc Vô sân
Ai mạ lỵ kẻ mạ lỵ
Người sống lợi lạc cả hai
Người chữa lành cho cả hai
Evaṃ vutte, akkosakabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ
etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... esāhaṃ
bhavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca
bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṃ, bhante, bhoto gotamassa
santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampada’’nti.
Ðược nghe vậy, bà la môn Akkosaka
Bhāradvāja bạch
Đức Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người
dựng đứng những gì bị
ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường
cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai
có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin
nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả
Gotama cho con được xuất gia với Đức Thế Tôn,
và được thọ đại giới.
Alattha kho akkosakabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato santike
pabbajjaṃ, alattha upasampadaṃ. Acirūpasampanno kho
panāyasmā akkosakabhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī
pahitatto viharanto nacirasseva – yassatthāya kulaputtā
sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti tadanuttaraṃ –
brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja vihāsi. ‘‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ itthattāyā’’ti
abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṃ
ahosīti.
Bà la môn Akkosaka Bhāradvāja được xuất gia và thọ đại giới
từ Đức Thế Tôn.
Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Akkosaka Bhārahvāja
sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần
không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn
chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng
đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại
với thắng trí, tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy
biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã
làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
Và Tôn giả Akkosaka Bhārahvāja trở thành một vị A-la-hán
nữa.
‘‘Akkodhassa kuto kodho = sao có phẫn nộ ở Bậc Vô Sân
Theo Sớ giải Bà la môn Akkosaka Bhāradvāja là em ruột của vị
bà la môn đề cập trong bài kinh trước. Vị nầy bất bình phẫn
nộ khi nghe anh mình xuât gia theo Phật. Chánh kinh khi kết
tập đã không ghi lại những lời thoá mạ Đức Như Lai vì quá
nhiều những lời miệt thị. Tên
gọi Akkosaka - kẻ phỉ báng - lả biệt danh dựa trên điển tích
chứ không phải là tên thật. Vị
vua trong bài kinh nầy là và Ajàsattu (A xà thế) chứ không
phải vua Bimbisara (Bình Sa Vương). Vị vua nầy dù tin Đức
Phật là bậc A la hán nhưng vẫn còn phẫn nộ khi bị xúc phạm. Bốn
kệ ngôn sau cùng của Đức Phật được nói lên nhằm hoá giải sự
ngộ nhận của vua, các cung tần và quần thần vì những người
nầy không nhận ra sự đối thoại của Đức Phật có mục đích xoá
tan lòng căm phẫn của ông bà la môn
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |