|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 21 tháng 06, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,163)- PHẨM THỨ NHẤT.
Bài
3. Kinh Kẻ Hung Dữ Bhāradvāja (Asurindakasuttaṃ)
-KHAM NHẪN VỚI SỰ HIỂU BIẾT.
Người ngu tin
vào sức mạnh của lời nói hung dữ. Người thiện trí, trái lại,
tin vào giá trị của kham nhẫn. Trong lúc người đời tin sự an
miếng trả miếng là khôn ngoan thì bậc cao minh hiểu rằng đó
chỉ là chuyện bôi tro trét trấu lẫn nhau vốn chẳng đi về
đâu. Thiền tông Trung Hoa có thành ngữ “sư im lặng sấm sét”
mang ý nghĩa tương tự như “sự kham nhẫn với hiểu biết” ở
đây. Bi kich của cuộc sống là khi “cuồng nộ lên men” người
ta chỉ muốn dùng binh khí miệng lưỡi mà không bình tâm nghĩ
tới hậu quả để khi “khói súng tan biến” thì cái còn lại chỉ
là chết chóc đau thương. Nói lời hung dữ chỉ cần phẫn nộ.
Kham nhẫn trước lời nói hung dữ cần sự hiểu biết.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe. Assosi kho asurindakabhāradvājo brāhmaṇo –
‘‘bhāradvājagotto brāhmaṇo kira samaṇassa gotamassa santike
agārasmā anagāriyaṃ pabbajito’’ti kupito anattamano yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ asabbhāhi
pharusāhi vācāhi akkosati paribhāsati. Evaṃ vutte, bhagavā
tuṇhī ahosi. Atha kho asurindakabhāradvājo brāhmaṇo
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘jitosi, samaṇa, jitosi,
samaṇā’’ti.
Thuở ấy Đức Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), chùa Veluvana
(Trúc Lâm), tại Kalandakanivāpa (khu vực cho sóc ăn trong
chùa).
Bấy giờ Bà la môn Asurindaka Bhāradvāja được nghe Bà la môn
Bhāradvājagotta đã từ
bỏ gia đình. xuất gia, thọ giới với Đức Thế Tôn. Hay tin nầy
ông ấy phẫn nộ, tức tối đi đến Đức Thế Tôn. Khi gặp Đức Thế
Tôn buông lời mắng nhiếc, mạ lỵ, phỉ báng với những ác ngữ,
vọng ngôn.
Nghe những điều như vậy, Đức Thế Tôn không nói gì.
Rồi Bà-la-môn Asurindaka Bhāradvāja nói với Đức Thế Tôn:
-- Này Sa-môn, Ông đã thua. Này Sa-môn, Ông đã thua!
(Thế Tôn)
‘‘Jayaṃ ve maññati bālo, vācāya pharusaṃ bhaṇaṃ;
‘‘Tasseva tena pāpiyo, yo kuddhaṃ paṭikujjhati;
‘‘Ubhinnamatthaṃ carati, attano ca parassa ca;
‘‘Ubhinnaṃ tikicchantānaṃ, attano ca parassa ca;
Kẻ thiểu trí nghĩ mình thắng
Ai mạ lỵ kẻ mạ lỵ
Người sống lợi lạc cả hai
Người chữa lành cho cả hai
Evaṃ vutte, asurindakabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ
etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... abbhaññāsi.
Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṃ ahosī’’ti.
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Asurindaka bạch Đức Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama...,"... không còn trở
lại đời sống này nữa."
Và Tôn giả Bhārahvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
‘‘Jayaṃ ve maññati bālo = kẻ ngu nghĩ mình thắng
Vị
bà la môn trong bài kinh nầy là người em út trong nhà. Là em
của hai bà la môn đề cập trong kinh số 1 và 2. Sớ
Giải giải thích kệ ngôn đầu tiên mà Đức Phật nói lên có
nghĩa là “Những ai hiểu giá trị của sự kham nhẫn, sự chiến
thắng của riêng người đó (yā titikkhā vijānato
adhivāsanāya gunạ ṃ vijānantassa titikkhā
adhivāsanā, ayaṃ tassa vijānato va jayo). Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |