|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 22 tháng 06, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VII. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN ,(S.i,164)- PHẨM THỨ NHẤT.
Bài
4. Kinh Bilaṅgika (Bilaṅgikasutta)
-OÁN HẬN BẬC VÔ HẠI LÀ TỰ HẠI.
Trong vật lý, có
những vật phản hồi khi bị ném đi. Giáo lý nhân quả cũng đề
cập hiện tượng nầy. Ai nuôi hiềm hận với người không hiềm
hận thì tự mình bị thiêu đốt bởi hiềm hận. Đối tượng càng
thanh tịnh cao quý thì lực phản hồi của ác niệm càng mạnh.
May mắn thay cho vị bàn môn trong bài kinh nầy. Giận quá nên
chưa thể thốt nên lời mà lại gặp Đấng Vô Thượng Điều Ngự chỉ
cho bản chất tự hại của sân tâm. Chỉ cần nhìn sự việc từ góc
nhìn khác đôi khi chuyển hoá cả tâm tư, thậm chí chuyển hoá
cả cuộc đời.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe. Assosi kho
bilaṅgikabhāradvājo brāhmaṇo – ‘‘bhāradvājagotto kira
brāhmaṇo samaṇassa gotamassa santike agārasmā anagāriyaṃ
pabbajito’’ti kupito anattamano yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā tuṇhībhūto ekamantaṃ aṭṭhāsi. Atha kho bhagavā
bilaṅgikassa bhāradvājassa brāhmaṇassa cetasā
cetoparivitakkamaññāya bilaṅgikaṃ bhāradvājaṃ brāhmaṇaṃ
gāthāya ajjhabhāsi –
Thuở ấy Đức Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), chùa
Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivāpa (khu vực cho sóc ăn
trong chùa).
Bấy giờ Bà la môn Bilaṅgika
Bhāradvāja được nghe Bà la môn
Bhāradvājagotta đã từ
bỏ gia đình. xuất gia, thọ giới với Đức Thế Tôn. Hay tin nầy
ông ấy phẫn nộ, tức tối đi đến Đức Thế Tôn. Khi gặp Đức Thế
Tôn, ông ấy đứng một bên câm lặng không nói lời nào.
Rồi Đức Thế Tôn biết rõ tâm trạng của Bilaṅgika Bhāradvāja
đã nói lên kệ ngôn:
‘‘Yo appaduṭṭhassa narassa dussati,
Tameva bālaṃ pacceti pāpaṃ,
Ghét người không hiềm hận,
Evaṃ vutte, vilaṅgikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ
etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... abbhaññāsi.
Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṃ ahosī’’ti.
Ðược nghe nói vậy, bà la môn
Bilaṅgika bạch Đức Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama! Diệu Pháp được Tôn giả Gotama hiển bày như người
dựng đứng những gì bị
ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường
cho kẻ lạc lối, hay đem đèn sáng vào chỗ tăm tối để những ai
có mắt thấy được. Con xin nương tựa Đức Thế Tôn Gotama, xin
nương tựa Pháp, xin nương tựa tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả
Gotama cho con được xuất gia với Đức Thế Tôn,
và được thọ đại giới.
Bà la môn Bilaṅgika Bhāradvāja được xuất gia và thọ đại giới
từ Đức Thế Tôn.
Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bilaṅgika
Bhārahvāja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện
nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia
đình hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay
trong hiện tại với thắng trí, tự mình giác ngộ, chứng đạt và
an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
Và Tôn giả Bilaṅgika Bhārahvāja
trở thành một vị A-la-hán nữa.
‘‘Yo appaduṭṭhassa narassa dussati = ai thù ghét người không
thù ghét
Theo Sớ giải thì tên gọi Bilaṅgika là chữ khác gọi món ăn
kañjika . Vị bà la môn nầy nổi tiếng nhờ khéo làm và bán thứ
nầy. Cũng theo Sớ giải Bilaṅgika cũng là một trong những anh em
giòng Bhārahvāja. Khi biết tin có ba người anh em trong
giòng tộc xuất gia theo Phật, ông nầy giận “tím người” đến
mức khi gặp Đức Phật không thốt được thành lời.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |