|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 30 tháng 06, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ II. Phẩm Không Dể Duôi _ Kệ số 11&12
Kệ số 11
Duyên sự:
Bài kệ nầy đã được đức Phật
thuyết cho vị tỳ kheo thấy cháy rừng, khi Ngài ngự tại
Jetavana gần thành Sāvatthi.
Có vị tỳ kheo nọ học đề mục
thiền quán từ nơi bậc Đạo Sư rồi đi vào rừng thực hành.
Hành thiền một thời gian
nhưng không đạt kết quả, tỳ kheo ấy nghĩ là phải học kỹ lại
đề mục với bậc Đaọ Sư, bèn trở về Sāvatthi.
Trên đường đi về, vị tỳ
kheo ấy gặp đám cháy rừng, nên đi lên ngọn đồi trọc để tránh
lửa. Ngồi đó vị ấy nhìn ngọn lửa cháy lan, thiêu rụi cây cỏ
nhỏ lớn khi lửa đi qua. Vị tỳ kheo ấy ngẫm nghĩ nếu nhen
nhóm được ngọn lửa tuệ quán ắt sẽ thiêu huỷ mọi triền phược.
Ngay khi ấy đức Phật ở tại
Jetavana với thiên nhãn thấy biết vị tỳ kheo đang suy tư
chánh hướng, Ngài liền hiện ra trước mặt tỳ kheo ấy và sách
tấn bằng bài kệ nầy: “Appamādarato bhikkhu, tỳ kheo
thích chuyên cần ..v.v.. khi đức Phật nói dứt kệ ngôn
vị tỳ kheo ấy đắc quả A la hán với tuệ đạt thông, liền bay
lên hư không gieo mình đảnh lễ tán dương bậc Đạo Sư rồi ra
đi.
Chánh văn:
(dhp 31)
Appamādarato bhikkhu
Thích văn:
appamādarato [chủ cách số ít của tính
từ hợp thể appamādarata
(appamāda + rata)] vui trong sự không dể duôi, vui
trong sự chuyên cần.
bhikkhu [chủ cách số ít của danh từ
nam tính bhikkhu] vị tỳ
kheo, tỳ khưu.
pamāde
[định sở cách số ít của
danh từ nam tính pamāda]
trong sự dể duôi, trong sự giải đãi.
bhayadassi
[nguyên từ
bhayadassī _ chủ cách số
ít của tính từ hợp thể
bhayadassī (bhaya + dassī) thấy sợ hãi.
vā
[liên từ] hoặc là, hay là.
saṃyojanaṃ
[đối cách số ít của danh từ
trung tính saṃyojana /
saññojana] dây trói buộc, thằng thúc, kiết sử, triền
phược.
aṇuṃ
[đối cách số ít của tính từ
aṇu] phần nhỏ, vi tế.
thūlaṃ [đối cách số ít của tính
từ thūla] phần lớn, phần thô, to béo.
ḍahaṃ [đối cách số ít của hiện
tại phân từ ḍahanta (ḍaha +
nta)] đang đốt cháy, đang thiêu huỷ.
aggī’ va
[hợp âm (aggi
iva)]
aggi
[chủ cách số ít của danh từ
nam tính aggi] lửa, ngọn
lửa.
iva
[bất biến từ] ví như, thí
dụ như.
gacchati
[thì hiện tại ngôi III số
ít (gam + a + ti)] đi
tới, đi đến, tiến đến.
Việt văn:
(pc 31)
Tỳ kheo vui chuyên cần
Chuyển văn:
Appamādarato
pamāde vā bhayadassī bhikkhu aṇuṃ thūlaṃ saññojanaṃ ḍahaṃ
gacchati aggi iva.
Vị tỳ kheo vui trong sự
không dể duôi hoặc thấy sợ hãi sự giải đãi, tiến tới thiêu
đốt kiết sử nhỏ lớn, ví như lửa rừng.
Lý giải:
Đức Thế Tôn là bậc thầy của
trời người, Ngaì dạy pháp tuỳ theo căn cơ khuynh hướng của
mỗi người. Khi thấy biết vị tỳ kheo nọ đang suy tư về sự tàn
phá của lửa rừng lửa cháy lan đến đâu thì thiêu rụi cây cỏ
nhỏ lớn đến đấy, Ngài xuất hiện để dạy tỳ khưu ấy, lấy hình
ảnh ngọn lửa rừng mà điển hình cho ngọn lửa tuệ minh sát
thiêu huỷ kiết sử lớn nhỏ.
Kiết sử hay dây trói buộc
(saṃyojana / saññojana) có hai loại:
Kiết sử nhỏ (aṇuṃ
saṃyojanaṃ) là năm hạ phần kiết sử
(orambhāgiyasaṃyojanaṃ) tức là thân kiến, hoài nghi, dục
ái và phẫn nộ.
Kiết sử lớn (thūlaṃ
saṃyojanaṃ) là năm thượng phần kiết sử
(uddhambhāgiyasaṃyojanaṃ) tức là sắc ái, vô sắc ái, mạn,
phóng dật và vô minh.
Vị tỳ kheo thấy sợ hãi
trong sự giải đãi vì biết rằng dể duôi là con đường dẫn đến
tử sanh, là căn nguyên đưa vào khổ cảnh.
Khi vị tỳ kheo chuyên cần
không giải đãi, trú niệm vững vàng, thì tuệ quán bừng sáng
như ngọn lửa rừng có khả năng thiêu huỷ tất cả kiết sử, đạt
đến quả vị giải thoát.
Kệ số 12
Duyên sự:
Bài kệ nầy được đức Phật
thuyết ở Jetavana Sāvatthi, do câu chuyện của tỳ kheo
Nigamavāsitissa.
Gần thành Sāvatthi, có một
thị trấn vùng ven. Trong thị trấn ấy có một thiện nam tử
Tissa xuất gia theo Phật Pháp, chư tăng gọi vị ấy là Tissa
Thị trấn (Nigamavāsitissa) để khỏi nhầm lẫn với các vị
trưởng lão trùng tên.
Đại Đức Nigamavāsitissa ưa
sống độc cư, và là một vị tỳ kheo thiểu dục tri túc. Đại đức
chỉ đi khất thực trong phạm vi thị trấn nơi sinh quán của
mình thôi, chứ không đi đâu xa. Cho đến những cuộc lễ trai
tăng trong thành Sāvatthi do các đại thí chủ như trưởng giả
Anāthapiṇḍika tổ chức, hoặc cuộc cúng dường vô song thí của
vua Pasenadi thực hiện, đại đức Tissa cũng không đến dự. Chư
tỳ kheo thấy vắng mặt đại đức Tissa trong các cuộc trai tăng
lớn như vậy, mới bảo nhau rằng: vị nầy chỉ thân cận với
quyến thuộc, không đi đâu hết.
Nghe chư tỳ kheo nói chuyện
như vậy, đức Phật cho gọi tỳ kheo Tissa ấy về Jetavana và
hỏi chuyện có thật thế không?
Đại Đức Tissa đáp: “Con
không quyến luyến lân la với quyến thuộc. Con chỉ thích sống
độc cư và giữ hạnh thiểu dục tri túc, hằng ngày khất thực
quanh vùng có chi ăn nấy để không bận tâm”.
Sau khi nghe đại đức Tissa
trình bày, đức Thế Tôn đã khen ngợi đại đức trước Tăng
chúng:
Lành thay, nầy chư tỳ kheo,
vị tỳ kheo nầy sống hạnh thiểu dục tri túc. Đã hành đúng
theo truyền thống của Như Lai. Xưa kia khi còn là một vị bồ
tát, ta cũng giữ hạnh thiểu dục như vậy.
Rồi theo lời thỉnh cầu của
chư tăng, đức Phật đã nhắc lại bổn sanh chim két chúa sống
tri túc với những trái trên cây sung, không đi xa kiếm ăn
..v.v..
Kết thúc bổn sanh chim két
chúa, đức Phật đã nói lên bài kệ pháp cú tán thán vị tỳ kheo
chuyên cần sẽ chứng níp bàn. Vừa nghe xong bài kệ, đại đức
Nigamavāsitissa chứng đắc A la hán cùng với tuệ đạt thông.
Những tỳ kheo khác cũng nhiều vị đắc thánh quả tu đà hườn.
Chánh văn:
(dhp 32)
Appamādarato
bhikkhu
Thích văn:
abhabbo [chủ cách số ít nam tính
của tính từ abhabba (na +
bhabba)] không thể, không có khả năng, bất khả.
parihānāya
[chỉ định cách số ít của
danh từ nữ tính parihānā]
đến sự thối đoạ, sự thối thất, sự lui sụt.
nibbānasseva
[hợp âm
(nibbānassa eva)]
nibbānassa [sở thuộc cách số ít của
danh từ trung tính nibbāna]
níp bàn, sự tịch diệt.
eva
[bất biến từ] từ đệm, từ
nhấn mạnh.
santike [định sở cách số ít của
tính từ santika] ở gần,
đến gần, gần kề.
Việt văn:
(pc 32)
Tỳ kheo vui chuyên cần
Chuyển văn:
Appamādarato
pamāde vā bhayadassī bhikkhu parihānāya abhabbo nibbāṇassa
santike_y_eva
Vị tỳ kheo vui trong sự
không dể duôi hoặc thấy sợ hãi sự giải đãi, vị ấy không thể
bị thối đoạ, tất nhiên đối diện níp bàn.
Lý giải:
Một lần nữa đức Phật tán
thán vị tỳ kheo vui trong sự không dể duôi và thấy sợ hãi
trong sự giải đãi. Nhưng trong bài kệ nầy đức Phật khẳng
định kết quả của hạnh chuyên cần, vị tỳ kheo vui hạnh không
dể duôi, thấy sợ sự giải đãi như vậy sẽ không thể bị thối
đoạ và chắc chắn đối diện với níp bàn.
Không thể bị thối đoạ
(abhabbo parihānāya) nghĩa là vị chuyên cần không dể
duôi sẽ không làm mất đi các pháp tu tập chỉ và quán
(samathavipassanā dhammehi parihānāya abhabbo), hoặc
không làm mất đi đạo quả sắp chứng đắc (maggaphalehi vā
parihānāya abhabbo).
Chắc chắn đối diện với níp
bàn (nibbānasseva santika) nghĩa là nhất định chứng ngộ
“phiền não níp bàn” (kilesaparinibbānassa santike_y_eva),
cũng như chứng ngộ “vô thủ trước níp bàn”
(anupādāparinibbānassāpi santike_y_eva).
Ví như người đã luyện nội
công thâm hậu thì việc ra những chiêu thức sẽ không khó
khăn.
(Dứt phẩm thứ hai - Phẩm
không dể duôi) Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |